CHƯƠNG 1 CỞ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Cạnh tranh và vai trò của cạnh tranh trong nền kinh tế 1.1 Khái niệm về cạnh tranh Hiện nay có nhiều khái niệm khác nhau về cạnh tranh trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội. Một trong những khó khăn là không có sự thống nhất rộng rãi về định nghĩa khái niệm này.Theo Giáo trình inh tế học chính trị Mác-Lênin:“Cạnh tranh tư bản chủ nghĩa (TBCN) là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật các điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch”[1]. Nghiên cứu sâu về nền sản xuất hàng hóa TBCN và cạnh tranh TBCN, Mác - Lênin đã phát hiện ra quy luật cạnh tranh cơ bản là quy luật điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận bình quân giữa các ngành. Theo từ điển kinh doanh (xuất bản năm 1992) ở Anh “Cạnh tranh trong cơ chế thị trường được định nghĩa là sự ganh đua kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm giành tài nguyên sản xuất cùng một loại về phía mình”.
Ở Việt Nam, khi đề cập đến cạnh tranh một số nhà khoa học đã cho rằng: Cạnh tranh là vấn đề giành lợi thế về giá cả hàng hóa, dịch vụ mua và bán đó là phương thức dành lấy lợi thế cao cho các chủ thể kinh tế.Cạnh tranh được thừa nhận là một quy luật kinh tế khách quan và được coi như là một nguyên tắc cơ bản trong tổ chức điều hành kinh doanh của các doanh nghiệp [2]. Ngày nay trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh là một điều kiện và là một yếu tố kích thích kinh doanh, là môi trường động lực thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển, tăng năng suất lao động tạo sự phát triển của xã hội nói chung. Vậy cạnh tranh là quy luật khách quan của nền sản xuất hàng hóa, là nội dung cơ chế vận động của thị trường. Sản xuất hàng hóa càng phát triển, hàng hóa bán ra càng nhiều, số lượng nhà cung ứng càng đông thì cạnh tranh càng gay gắt, kết quả cạnh tranh sẽ tự loại bỏ những doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả.
Như vậy, hiểu theo một nghĩa chung nhất, cạnh tranh là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh doanh trong việc giành giật thị trường và khách hàng.2 Khái niệm về đối thủ cạnh tranh Đối thủ cạnh tranh là những doanh nghiệp phục vụ cùng phân khúc khách hàng mục tiêu, cùng chủng loại sản phẩm, cùng thỏa mãn một nhu cầu của khách hàng. Qua việc hiểu biết về đối thủ sẽ giúp doanh nghiệp hình dung ra bức tranh tổng quát về thị trường và ngành mà doanh nghiệp tham gia hoạt động kinh doanh. Đối thủ cạnh tranh được chia thành 3 loại: - Đối thủ cạnh tranh trực tiếp: Là những đối thủ có cùng phân khúc khách hàng, cùng dòng sản phẩm, cùng giá bán và có năng lực cạnh tranh trên cùng phân khúc. - Đối thủ gián tiếp (hay còn được gọi là sản phẩm thay thế): là đối thủ cung cấp khác sản phẩm, dịch vụ nhưng cùng giả quyết một nhu cầu của khách hàng.
Khách hàng hoàn toàn có thể sử dụng sản phẩm này khi không có sản phẩm của doanh nghiệp. Nhiều sản phẩm thay thế mới ra đời làm thay đổi hoàn toàn nhu cầu của khách hàng về sản phẩm dịch vụ (chủ yếu là sản phẩm công nghệ). - Đối thủ tiềm năng (hay còn gọi đối thủ tiềm ẩn): là những đối thủ có khả năng gia nhập và cạnh tranh trong một ngành, phân khúc khách hàng nhưng chưa gia nhập.3 Vai trò của cạnh tranh trong nền kinh tế Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh có vai trò vô cùng quan trọng, nó được coi là động lực cho sự phát triển không chỉ của mỗi cá nhân, mỗi doanh nghiệp mà cả nền kinh tế nói chung. Đối với doanh nghiệp: Cạnh tranh được coi như là cái “sàng” để lựa chọn và đào thải những doanh nghiệp yếu kém.
Nó quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp vì vậy cạnh tranh tạo ra động lực cho phát triển của doanh nghiệp, thúc đẩy doanh nghiệp tìm ra mọi biện pháp để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Đối với người tiêu dùng: Có cạnh tranh thì hàng hóa có chất lượng ngày càng tốt hơn, mẫu mã ngày càng đẹp, phong phú đa dạng hơn vì vậy người tiêu dùng có thể dễ dàng trong việc lựa chọn các sản phẩm phù hợp với túi tiền và sở thích của mình. Đối với nền kinh tế: Cạnh tranh được coi như là “linh hồn“ của nền kinh tế vì cạnh tranh là động lực thúc đẩy sự phát triển của mọi thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường, đảm bảo sự phát triển của khoa học kỹ thuật, sự phân công lao động trong 6 xã hội, cạnh tranh làm cho nền kinh tế quốc dân vững mạnh, tạo khả năng cho doanh nghiệp vươn ra thị trường nước ngoài. Mặt khác cạnh tranh giúp cho nền kinh tế có cái nhìn nhận đúng hơn về nền kinh tế thị trường, rút ra được những bài học thực tiễn bổ sung vào lý luận kinh tế thị trường của nước ta.4 Các hình thức cạnh tranh chủ yếu 1.1 Căn cứ theo phạm vi ngành kinh tế - Cạnh tranh trong nội bộ ngành: Là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng xản suất hoặc tiêu thụ một loại hàng hóa hoặc dịch vụ nào đó.
Trong cuộc cạnh tranh này có sự thôn tín lẫn nhau. Những doanh nghiệp không có khả năng sẽ bị thu hẹp thậm trí còn có thể bị phá sản. - Cạnh tranh giữa các ngành: Là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp có các ngành kinh tế khác nhau nhằm giành nơi đầu tư có lợi nhất để thu được lợi nhuận cao nhất tức là tỷ suất lợi nhuận cao hơn so với tài chính đầu tư đã bỏ ra. Trong quá trình cạnh tranh doanh nghiệp chuyển tài chính đầu tư từ ngành có lợi nhuận thấp sang ngành có lợi nhuận cao hơn.
Sự điều chỉnh này sau một thời gian vô hình chung sẽ hình thành nên sự phân phối hợp lý giữa các ngành xản suất, kết quả là các doanh nghiệp đầu tư ở các ngành khác nhau với số tài chính bằng nhau chỉ thu được lợi nhuận như nhau, tức là hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân cho tất cả các ngành.2 Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường cạnh tranh - Cạnh tranh giữa người mua và người bán: Là cuộc cạnh tranh diễn ra theo luật mua rẻ - bán đắt. Người mua luôn mong muốn được mua với giá rẻ nhất còn người bán có tham vọng bán được với giá cao nhất. Giá cả cuối cùng được hình thành sau quá trình thương lượng giữa hai bên. - Cạnh tranh giữa những người mua với nhau: Mức độ cạnh tranh phụ thuộc vào quan hệ cung-cầu trên thị trường.
Khi cung nhỏ hơn cầu tức là khi một loại hàng hóa hoặc dịch vụ nào đó mà mức cung cấp nhỏ hơn nhu cầu tiêu dùng thì cuộc cạnh tranh trở nên gay gắt, giá cả hàng hóa và dịch vụ sẽ tăng lên, người mua phải chấp nhận mua giá cao còn người bán thì thu được lợi nhuận cao. 7 - Cạnh tranh giữa những người bán với nhau: Là cuộc cạnh tranh nhằm giành giật khác hàng và thị trường đây là cuộc cạnh tranh khốc liệt nhất nó có ý nghĩa sống còn đối với các doanh nghiệp. Trong cuộc cạnh tranh này doanh nghiệp nào tăng lợi nhuận, tăng đầu tư chiều sâu mở rộng xản suất là doanh nghiệp chiến thắng còn doanh nghiệp nào đuối sức không chịu được sức ép sẽ phải rút lui khỏi thị trường, nhường thị phần cho đối thủ mạnh hơn.3 Căn cứ theo tính chất và mức độ cạnh tranh - Cạnh tranh hoàn hảo: Cạnh tranh hoàn hảo là hình thức cạnh tranh mà ở đó người mua và người bán đều không có khả năng tác động đến giá cả của sản phẩm trên thị trường. Giá cả của sản phẩm hoàn toàn do quan hệ cung cầu quyết định, không có sự tồn tại của bất cứ khả năng hay quyền lực nào có thể chi phối các quan hệ trên thị trường.
Hình thức cạnh tranh hoàn hảo khó tìm thấy hiện nay. - Cạnh tranh không hoàn hảo: Là hình thức cạnh tranh chiếm ưu thế trong các ngành xản suất mà ở đó các doanh nghiệp có đủ sức mạnh và thế lực để có thể chi phối giá cả các sản phẩm của mình trên thị trường. Trong thực tế hình thức cạnh tranh không hoàn hảo là dạng cạnh tranh phổ biến trên thị trường ở nhiều lĩnh vực, nhiều ngành của nền kinh tế. Cạnh tranh không hoàn hảo có hai loại: Độc quyền nhóm và cạnh tranh mang tính độc quyền + Độc quyền nhóm: Tồn tại trong các ngành sản xuất mà ở đó chỉ có một ít người sản xuất, mỗi người đều nhận thức được rằng giá cả các sản phẩm của mình không chỉ phụ thuộc vào hoạt động của mình mà còn phụ thuộc vào hoạt động của những kẻ cạnh tranh quan trọng trong ngành đó.
+ Cạnh tranh mang tính độc quyền: Là hình thức cạnh tranh mà trong đó các DN cạnh tranh với nhau bằng việc bán các sản phẩm phân biệt (đã được làm cho khác sản phẩm của các doanh nghiệp khác), các sản phẩm này có thể thay thế cho nhau ở mức độ cao nhưng không phải là thay thế hoàn hảo. Người bán có thể thu hút khách hàng bằng các cách hữu hiệu như quảng cáo, khuyến mại, dịch vụ hậu mãi,. loại hình cạnh tranh này rất phổ biến hiện nay.2 Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 1.1 Khái niệm về năng lực cạnh tranh “ Năng lực cạnh tranh” là một thuật ngữ dù đã được sử dụng rộng rãi nhưng vẫn chưa có một khái niệm rõ ràng và thống nhất. Chính vì vậy mà khái niệm năng lực cạnh tranh được đề cập và xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau như năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh ngành, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ.
Trong luận văn này chỉ tập trung vào năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Trong nền kinh tế ngày càng mở cửa và hội nhập như hiện nay các nhà kinh tế thống nhất được tầm qua trọng của Năng lực cạnh tranh nhưng lại có những nhận xét khác nhau về khái niệm này. Theo quan niệm phổ biến hiện nay năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp.