Mở đầu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương 3: Nghiên cứu thực trạng “nâng cao hiệu quả tín dụng tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn việt nam - chi nhánh huyện vũ thư tỉnh thái bình. Chương 4: Phân tích giải pháp và đánh giá thực trạng Chương 5: Tóm tắt, kiến nghị và kết luận 7 CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2. Khái quát về ngân hàng thương mại *Khái niệm.
NHTM là một tổ chức tín dụng kinh doanh trong trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng với hoạt động thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung cấp các dịch vụ ngân hàng khác cho khách hàng là tổ chức và cá nhân. * Ngân hàng thương mại có hoạt động cơ bản - Huy động vốn là hoạt động thu hút, huy động toàn bộ các nguồn tiền tệ nhàn rỗi trong nền kinh tế để tạo nguồn vốn kinh doanh cho NHTM và được phản ảnh thông qua kết cấu nguồn vốn của NHTM, bao gồm: vốn tự có và vốn huy động. - Sử dụng vốn của NHTM bao gồm các hoạt động sau: + Hoạt động ngân quỹ: NHTM phải giữ một lượng tiền mặt dự trữ dưới hình thức sau: Tiền mặt tại quỹ của ngân hàng, tiền gửi dự trữ bắt buộc và tiền gửi thanh toán tại NHTW, tiền gửi tại các TM khác, tiền mặt trong quá trình thu… nhằm đảm bảo khả năng thanh toán, nhu cầu rút tiền của khách hàng. + Hoạt động tín dụng: Tín dụng ngân hàng bao gồm các hình thức: cho vay, chiết khấu, bảo lãnh và cho thuê tài chính, trong đó hoạt động cho vay được xem là hoạt động sinh lợi chủ yếu của các NHTM.
+ Hoạt động đầu tư: Là hoạt động mà NHTM dùng vốn của mình mua chứng khoán hoặc đầu tư theo dự án. Với chức năng trung gian thanh toán, NHTM đứng ở giữa để thực hiện thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ cho các bên giao dịch. Nhờ NHTM, các bên giao dịch không phải chuyển tiền mặt trực tiếp cho nhau mà chỉ cần mở tài khoản tiền gửi tại NHTM. Thông qua các chứng từ đặc biệt do các bên giao dịch phát hành theo quy ước với NHTM như séc, ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi.
NHTM thực hiện thanh toán bù trừ giữa các tài khoản với nhau. NHTM thực hiện chức năng trung gian thanh toán qua nghiệp vụ trung gian thay mặt khách hàng thực hiện việc thanh toán hay các ủy thác khác để thu phí. + Hoạt động trung gian chủ yếu gồm: Hoạt động chuyển tiền – thanh toán hộ; hoạt động thu hộ; hoạt động thanh toán hộ các tổ chức tín dụng khác… 8 2. Khái niệm tín dụng về ngân hàng thương mại Về bản chất, tín dụng là một quan hệ vay mượn dựa trên sự tin cậy.
Nguyên thủy, thuật ngữ tín dụng có nguồn gốc từ tiếng Latinh cổ là “Creditum”, có nghĩa là sự tin tưởng, sự tín nhiệm.Mác: “Tín dụng là một quá trình chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu sang người sử dụng, sau một thời gian nhất định thu hồi một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu”. Các nhà kinh tế học hiện đại, đã nghiên cứu và đưa ra rất nhiều định nghĩa khác nhau về tín dụng. Nhà kinh tế học A.Arerit và Ksuk định nghĩa tín dụng như sau: “Tín dụng phát sinh giữa một bên (người cho vay) trao cho bên khác (người đi vay) quyền sử dụng một số tiền nhất định, trong đó người đi vay có nhiệm vụ phải trả lại số tiền vay đó đúng hạn quy định. Để có quyền sử dụng tư bản đó bên đi vay phải trả một khoản bồi thường, tức là lợi tức ”.Theo Opst và Khimt Nher, đặc trưng của quan hệ tín dụng là “người cho vay thực hiện ngay nghĩa vụ của mình nhưng chỉ nhận được quyền lợi trong tương lai xa hơn.
Những rủi ro đặc biệt của hành động tín dụng chủ yếu xuất phát từ đó” .Theo hai cách định nghĩa này, tín dụng được hiểu là quan hệ nhường quyền sử dụng tiền trong hiện tại để đổi lấy quyền hưởng lợi tức trong tương lai. Ở đây, tính chất sinh lời và rủi ro của hoạt động tín dụng được nhấn mạnh. Dưới góc độ hẹp của tài chính ngân hàng, tín dụng được hiểu như sau: - Xét trên góc độ chuyển dịch tiền từ chủ thể có tiền nhàn rỗi sang chủ thể thiếu hụt tiền cho nhu cầu sử dụng thì tín dụng được coi là kênh chuyển tiền từ người cho vay sang người đi vay. - Trong quan hệ tài chính cụ thể, tín dụng là một giao dịch về quyền sử dụng tài sản trên cơ sở cam kết nhường quyền sử dụng có kỳ hạn đi đôi với nghĩa vụ hoàn trả cả vốn và lãi.
- Trong lĩnh vực ngân hàng, tín dụng còn có nghĩa là hoạt động cho vay của ngân hàng, độc lập tương đối với hoạt động huy động vốn. Từ những phân tích nêu trên, phù hợp với thông lệ của ngành ngân hàng coi tín dụng là hoạt động cho vay, có thể hiểu tín dụng là hoạt động cho vay thông qua việc chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ NHTM sang người vay - khách hàng trên cơ sở hợp đồng tín dụng với cam kết bảo đảm bằng tài sản hoặc uy tín của người đi vay, có phương án sản xuất kinh doanh hiệu quả được NHTM chấp nhận theo kỳ hạn và lãi suất thỏa thuận giữa NHTM và người vay. Các hình thức tín dụng ngân hàng Cùng với sự phát triển ngày càng tinh vi, sâu sắc với quy mô rộng lớn của kinh tế thị trường các hình thức kinh doanh ngân hàng nói chung,hình thức tín dụng nói riêng cũng phát triển hết sức đa dạng và phong phú nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của khách hàng, trên cơ sở đó đa dạng hoá các danh mục đầu tư, thu hút khách hàng, tăng lợi nhuận, thực hiện phân tán rủi ro và củng cố sức mạnh cạnh tranh.Có thể phân loại các hình thức tín dụng ngân hàng theo nhiều cách khác nhau. Phân loại dựa trên nghiệp vụ ngân hàng.
Theo cách này NHTM có một số loại hình tín dụng chủ yếu sau: + Cho vay ứng trước: Là hình thức cho vay trong đó ngân hàng cung cấp cho người đi vay một khoản tiền nhất định để sử dụng trước. Người đi vay chỉ phải trả lãi vào lúc hoàn trả vốn gốc, có hai loại cho vay ứng trước: Cho vay ứng trước có bảo đảm và cho vay ứng trước không có bảo đảm. + Cho vay theo hạn mức: Là hình thức cho vay trong đó ngân hàng và khách hàng thỏa thuận trước số tiền tối đa (gọi là hạn mức tín dụng) mà khách hàng được vay từ ngân hàng trong một khoản thời gian nhất định (thường là 12 tháng). Sau khi đã thỏa thuận về hạn mức tín dụng, khách hàng có thể nhận nợ làm nhiều lần mà không phải làm đơn xin vay với điều kiện tổng số tiền nhận nợ không vượt quá hạn mức tín dụng đã được ký kết.
+ Cho vay thấu chi: Là hình thức cấp tín dụng ứng trước đặc biệt trong đó ngân hàng cho phép khách hàng chi vượt quá số dư trên tài khoản vãng lai trong một hạn mức và thời hạn nhất định trên cơ sở hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng đã được ký kết. Mức tín dụng trong cho vay thấu chi chưa phải là khoản tiền cho vay mà chỉ khi nào khách hàng sử dụng thấu chi thì mới được coi là tín dụng được cấp phát và bắt đầu tính tiền lãi. + Cho vay chiết khấu: Là cho vay dưới hình thức NHTM mua lại các thương phiếu chưa đến hạn trả tiền với giá thấp hơn số tiền ghi trên thương phiếu. Khi đến hạn, ngân hàng sẽ đòi toàn bộ số tiền ghi trên thương phiếu ở người trả tiền thương phiếu.
Phần lãi của ngân hàng chính là chênh lệch giữa giá mua và số tiền ghi trên thương phiếu. + Tín dụng ủy thác thu hay bao thanh toán (Factoring): Là nghiệp vụ trong đó công ty con của ngân hàng cam kết mua lại các khoản thanh toán chưa tới hạn phát sinh từ những hoạt động xuất khẩu, cung ứng hàng hóa và dịch vụ với giá chiết khấu. 10 Các khoản nợ này thường là ngắn hạn (từ 30 đến 120 ngày). + Tín dụng thuê mua (Leasing): Là hình thức tín dụng trung, dài hạn được thực hiện thông qua cho thuê tài sản như máy móc, thiết bị, các động sản và bất động sản khác theo yêu cầu khách hàng và nắm giữ quyền sở hữu tài sản cho thuê.
Bên thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã được hai bên thỏa thuận và không được hủy bỏ hợp đồng trước hạn. Khi hết thời hạn thuê, bên thuê được chuyển quyền sở hữu, mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó tùy theo các điều khoản đã thỏa thuận trong hợp đồng thuê. + Tín dụng bảo lãnh: Là hình thức tín dụng ngân hàng không trực tiếp cho khách hàng vay bằng tiền mà bằng uy tín của ngân hàng thông qua việc phát hành chứng thư bảo lãnh, ngân hàng cam kết thực hiện một nghĩa vụ trong tương lai đối với người thụ hưởng bảo lãnh. Khi đến hạn, nếu người được bảo lãnh không có khả năng thực hiện cam kết thì NHTM bảo lãnh buộc phải thực hiện cam kết đã thỏa thuận.
Phân loại theo thời hạn tín dụng. Theo cách phân loại này, tín dụng ngân hàng có các loại tín dụng ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. + Tín dụng ngắn hạn: là hoạt động cho vay có thời hạn không quá 12 tháng. Tín dụng ngắn hạn thường được khách hàng sử dụng nhằm bổ sung vốn lưu động và trang trải các nhu cầu thiếu hụt vốn tạm thời.
+ Tín dụng trung hạn: là hoạt động cho vay có thời hạn từ một năm đến 5 năm. Mục đích của loại hình tín dụng này là khách hàng muốn huy động vốn để đầu tư, cải tạo tài sản cố định, trang trải các nhu cầu mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị công nghệ, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời hạn thu hồi vốn nhanh. + Tín dụng dài hạn: có thời gian trên 5 năm. Mục đích của loại hình tín dụng này là tài trợ các dự án lớn có thời gian thu hồi vốn lâu dài.
Phân loại theo hình thức bảo đảm tiền vay.