Luận văn hiệu quả hoạt động ngân hàng sau cổ phần hóa - Nghiên cứu trường hợp VCB, VietinBank, BIDV

Luận văn kinh tế phân tích hiệu quả ngân hàng sau cổ phần hóa tại VCB, VietinBank, BIDV. Nghiên cứu thực nghiệm với số liệu cụ thể và đánh giá chi tiết.

Trường đại học

Trường Đại học Kinh tế TP.HCM

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

92
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan hiệu quả hoạt động ngân hàng sau cổ phần hóa

Cổ phần hóa ngân hàng thương mại Việt Nam được triển khai từ cuối những năm 1990. Mục tiêu chính là chuyển đổi cơ cấu sở hữu, nâng cao năng lực quản trị, tự chủ tài chính. Các ngân hàng thương mại nhà nước lớn như VCB, Vietinbank, BIDV hoàn thành cổ phần hóa vào giai đoạn 2008-2015. Hiệu quả hoạt động được đánh giá qua các chỉ tiêu tài chính cốt lõi: lợi nhuận trên tài sản (ROA), lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), tỷ lệ nợ xấu, tỷ suất sinh lợi trên doanh thu (ROS). Nhiều nghiên cứu trước đó cho thấy cổ phần hóa giúp giảm áp lực nợ công, tăng tính minh bạch trong quản trị. Tuy nhiên, kết quả đánh giá thực tế ở các ngân hàng lớn có sự khác biệt rõ rệt giữa giai đoạn trước và sau cổ phần hóa.

1.1. Lịch sử triển khai cổ phần hóa ngân hàng tại Việt Nam

Cổ phần hóa ngân hàng thương mại bắt đầu được thí điểm từ năm 1993 với Ngân hàng TMCP Sài Gòn. Đến năm 2003, Chính phủ ban hành quyết định đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa các ngân hàng thương mại nhà nước. Ba ngân hàng thương mại lớn nhất là VCB, Vietinbank, BIDV chính thức hoàn thành cổ phần hóa, phát hành IPO vào năm 2009-2012. Quá trình này bao gồm xác định giá trị doanh nghiệp, phân chia cổ phần, niêm yết trên sàn chứng khoán. Mục tiêu là xây dựng cơ cấu sở hữu đa dạng, nâng cao năng lực cạnh tranh, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Sau khi hoàn thành, các ngân hàng có quyền tự chủ trong hoạt động kinh doanh, quản trị rủi ro theo chuẩn mực quốc tế.

1.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động ngân hàng

Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động ngân hàng sau cổ phần hóa được chia thành ba nhóm chính: khả năng sinh lời, khả năng thanh khoản và an toàn hoạt động. Nhóm khả năng sinh lời bao gồm ROA, ROE, ROS, doanh thu trên tổng tài sản. Nhóm khả năng thanh khoản bao gồm tỷ lệ cho vay trên tiền gửi (LDR), tỷ lệ thanh toán hiện hành. Nhóm an toàn hoạt động bao gồm tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản (ETA), tỷ lệ nợ xấu, chi phí dự phòng rủi ro tín dụng. Các chỉ tiêu này được so sánh giữa giai đoạn trước và sau cổ phần hóa để đánh giá mức độ cải thiện hiệu quả hoạt động của ngân hàng.

II. Phân tích hiệu quả hoạt động ngân hàng sau cổ phần hóa

Đánh giá thực tế hiệu quả hoạt động của VCB, Vietinbank, BIDV sau cổ phần hóa cho thấy kết quả có sự khác biệt rõ rệt. Giai đoạn 3 năm sau khi hoàn thành cổ phần hóa, cả ba ngân hàng đều ghi nhận mức tăng trưởng ROA bình quân 73,8% so với giai đoạn trước. Tỷ lệ nợ xấu giảm mạnh từ mức trung bình 3,2% năm 2010 xuống còn 1,1% năm 2018. Tuy nhiên, tỷ suất sinh lợi trên doanh thu (ROS) lại giảm 20,71%, cho thấy chi phí hoạt động tăng cao hơn mức tăng doanh thu. Hệ số đòn bẩy giảm nhẹ từ 0,9421 xuống 0,9414, cho thấy cơ cấu nguồn vốn ổn định hơn. Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng lao động (NIEFF) tăng 0,65, cho thấy năng suất lao động được cải thiện đáng kể sau cổ phần hóa.

2.1. Kết quả đánh định lượng hiệu quả hoạt động ba ngân hàng lớn

Nghiên cứu định lượng sử dụng dữ liệu tài chính giai đoạn 2008-2018 của VCB, Vietinbank, BIDV cho thấy chỉ tiêu ROA và ROE có giá trị p-value nhỏ hơn 0,05, có ý nghĩa thống kê. ROA trung bình tăng từ 1,39% lên 2,124%, tương ứng mức tăng 73,8%. ROE tăng từ 26,9% lên 48,2%, tương ứng mức tăng 78,2%. Chỉ tiêu tỷ lệ cho vay trên tiền gửi (LDR) tăng từ 0,8216 lên 0,9501, cho thấy khả năng huy động vốn được cải thiện. Tuy nhiên, chỉ tiêu ROS lại giảm có ý nghĩa thống kê, cho thấy hiệu quả kiểm soát chi phí hoạt động còn hạn chế sau cổ phần hóa.

2.2. Hạn chế trong hiệu quả hoạt động sau cổ phần hóa

Bên cạnh những kết quả tích cực, hiệu quả hoạt động của các ngân hàng sau cổ phần hóa vẫn tồn tại một số hạn chế. Thứ nhất, tỷ lệ nợ xấu ở một số ngân hàng vẫn còn cao trong giai đoạn đầu sau cổ phần hóa do nợ cũ từ thời kỳ nhà nước quản lý. Thứ hai, chi phí hoạt động tăng cao do đầu tư vào hệ thống công nghệ thông tin, xây dựng quy trình quản trị rủi ro theo chuẩn quốc tế. Thứ ba, lợi nhuận từ hoạt động lãi chiếm tỷ trọng quá lớn, trong khi thu nhập từ dịch vụ ngoài lãi còn thấp, làm giảm tính ổn định của lợi nhuận.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động ngân hàng sau cổ phần hóa

Để nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại sau cổ phần hóa, cần triển khai đồng bộ các giải pháp ở cả ba cấp độ: quản trị nội bộ, quản lý nhà nước và cơ chế thị trường. Đối với các ngân hàng, cần tối ưu hóa cơ cấu nguồn vốn, giảm tỷ trọng nợ ngắn hạn, mở rộng hoạt động dịch vụ ngoài lãi để tăng thu nhập ổn định. Cần áp dụng công nghệ số vào hoạt động ngân hàng để giảm chi phí vận hành, nâng cao trải nghiệm khách hàng. Đối với cơ quan quản lý nhà nước, cần hoàn thiện khung pháp lý về quản trị ngân hàng, siết chặt giám sát rủi ro tín dụng, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các ngân hàng cổ phần và ngân hàng nhà nước. Đồng thời, cần khuyến khích các ngân hàng tăng cường hợp tác quốc tế để nâng cao năng lực quản trị.

3.1. Giải pháp quản trị nội bộ ngân hàng

Đối với mỗi ngân hàng, giải pháp quản trị nội bộ là yếu tố cốt lõi để nâng cao hiệu quả hoạt động. Cần xây dựng cơ cấu tổ chức quản trị hiện đại, phân chia rõ ràng quyền hạn giữa hội đồng quản trị, ban điều hành và ban kiểm soát. Áp dụng hệ thống quản trị rủi ro toàn diện, bao gồm rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro hoạt động. Đầu tư vào hệ thống công nghệ thông tin, phát triển ngân hàng số để giảm chi phí giao dịch, mở rộng kênh phân phối dịch vụ. Đồng thời, đào tạo đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp, nâng cao năng suất lao động để tối ưu hóa chi phí nhân lực.

3.2. Giải pháp quản lý và giám sát của nhà nước

Cơ quan quản lý nhà nước cần hoàn thiện khung pháp lý về hoạt động ngân hàng, siết chặt các quy định về giám sát an toàn hoạt động, đặc biệt là giám sát tỷ lệ nợ xấu, tỷ lệ đảm bảo an toàn vốn. Tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, không có sự ưu đãi đặc biệt đối với các ngân hàng cổ phần so với ngân hàng nhà nước. Khuyến khích các ngân hàng niêm yết trên sàn chứng khoán, minh bạch hóa thông tin tài chính để nhà đầu tư và khách hàng có thể giám sát hoạt động của ngân hàng. Đồng thời, hỗ trợ các ngân hàng trong việc xử lý nợ xấu tồn đọng từ giai đoạn trước cổ phần hóa.

IV. Kết luận về hiệu quả hoạt động ngân hàng sau cổ phần hóa

Cổ phần hóa là giải pháp quan trọng giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu thực tế tại VCB, Vietinbank, BIDV cho thấy các chỉ tiêu khả năng sinh lời như ROA, ROE tăng đáng kể sau cổ phần hóa, cho thấy năng lực sinh lời được cải thiện rõ rệt. Tỷ lệ nợ xấu giảm mạnh, hệ số đòn bẩy ổn định, cho thấy an toàn hoạt động được nâng cao. Tuy nhiên, hiệu quả kiểm soát chi phí hoạt động và tăng thu nhập từ dịch vụ ngoài lãi vẫn còn là hạn chế cần khắc phục. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, việc tiếp tục hoàn thiện cơ cấu quản trị, áp dụng công nghệ số và mở rộng hoạt động kinh doanh quốc tế là yêu cầu cấp thiết để nâng cao hiệu quả hoạt động bền vững của các ngân hàng thương mại Việt Nam.

4.1. Ứng dụng thực tế trong hoạt động ngân hàng hiện nay

Kết quả nghiên cứu về hiệu quả hoạt động ngân hàng sau cổ phần hóa có ý nghĩa tham khảo quan trọng cho quá trình hoàn thiện cơ cấu sở hữu các ngân hàng thương mại nhà nước hiện nay. Các ngân hàng có thể áp dụng các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động như ROA, ROE, ROS để theo dõi định kỳ mức độ cải thiện sau các đợt cải cách. Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng cần chú trọng kiểm soát chi phí hoạt động, đa dạng hóa nguồn thu để tăng tính ổn định của lợi nhuận. Đồng thời, việc xây dựng hệ thống quản trị rủi ro theo chuẩn mực Basel là yêu cầu bắt buộc để nâng cao an toàn hoạt động trong bối cảnh hội nhập.

4.2. Hướng phát triển nghiên cứu tiếp theo

Các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng phạm vi đánh giá sang các ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân, so sánh hiệu quả hoạt động giữa nhóm ngân hàng cổ phần hóa từ nhà nước và nhóm ngân hàng tư nhân để có kết luận chính xác hơn về tác động của cổ phần hóa. Ngoài ra, có thể sử dụng các phương pháp đánh giá hiệu quả hoạt động tiên tiến như phương pháp DEA để loại bỏ yếu tố môi trường ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của ngân hàng. Nghiên cứu về tác động của cổ phần hóa đến khả năng tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng là hướng nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

19/05/2026
Luận văn kinh tế hiệu quả hoạt động ngân hàng sau cổ phần hóa trường hợp thực nghiệm tại vcb vietinbank bidv

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI. CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ VẤN ĐỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG SAU CỔ PHẦN HÓA. CHƯƠNG 3: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG SAU CỔ PHẦN HÓA. CHƯƠNG 4: ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG SAU CỔ PHẦN HÓA.

CHƯƠNG 5: MỘT SỐ ĐỀ XUẤT NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG SAU CỔ PHẦN HÓA. Chương đầu tiên giới thiệu một cách khái quát về trình tự của bài luận. Qua đó, người xem sẽ có cái nhìn khái quát về vấn đề được đưa ra trình bày theo thứ tự nào. Từ giới thiệu đề tài đến cơ sở lý luận rồi phân tích đánh giá và rút ra kết luận về vấn đề quan tâm.

Đối tượng nghiên cứu được giới thiệu ở chương tiếp theo. 4 CHƯƠNG 2 : TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ VẤN ĐỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG SAU CỔ PHẦN HÓA Sau khi kết thúc chương đầu tiên, tác giả đã giới thiệu sơ lược về kết cấu của bài luận. Nhằm giúp người đọc có cái nhìn khái quát về chủ thể nghiên cứu, chương 2 cung cấp cái nhìn sơ lược về ngành NH và các NH trong hệ thống. Bên cạnh đó, các cơ sở để chọn đề tài cũng được trình bày.

Tình hình hoạt động của NHTM: 2. Giới thiệu tổng quan về ngành NH: Hệ thống NH Việt Nam hiện có khoảng 50 NH đang hoạt động. Trong đó, NH thuộc sự quản lý của NN có 4 (Agribank và 3 NH được mua lại); NH TMCP có 31 (VCB, Vietinbank, BIDV được xem là NH cổ phần nhưng trước đây thuộc NN sở hữu, sau CPH thì NN vẫn nắm giữ cổ phần chi phối); NH 100% vốn nước ngoài có 9; NH liên doanh có 2; NH chính sách có 2; NH hợp tác xã có 1. Giới thiệu về các NH tiến hành CPH: Trong hệ thống NH, hiện có ba NH đã tiến hành CPH đó là: 1.

NHTM cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) được thành lập năm 1957 với tên gọi là NH Kiến thiết Việt Nam. Lúc bấy giờ, chức năng chính của NH là việc cấp phát vốn ngân sách NN cho đầu tư xây dựng cơ bản theo nhiệm vụ được phân công. NH đổi tên thành NH Đầu tư và Xây dựng Việt Nam và chuyển sang trực thuộc NH NN từ Bộ tài chính năm 1981. Sang thập niên 1990, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 401/CT thành lập NH Đầu tư và phát triển Việt Nam.

NH hoạt động theo mô hình NH thương mại sau khi chuyển chức năng cấp phát vốn theo chỉ đạo sang bộ Tài chính năm 1995. Bên cạnh các nghiệp vụ như tín dụng, huy động truyền thống trong nước, NH còn mở rộng hoạt động đối ngoại và kinh doanh quốc tế như triển khai NH đại lý các nguồn vốn nước ngoài cho các tổ chức đơn và đa phương cũng như mở NH liên doanh tại Lào Campuchia, văn phòng đại diện tại châu Âu. Chính phủ thực hiện CPH NH theo Quyết định số 5 2124/QĐ-TTg. Ngày 28-12-11, NH bán đấu giá cổ phần lần đầu ra công chúng (IPO).

Ngày 27-4-12, NH chuyển đổi thành NH cổ phần. Ngày 24-01-14, NH chính thức giao dịch trên sàn chứng khoán với mã cổ phiếu BID. NHTM cổ phần Ngoại thương Việt Nam (VCB) thành lập năm 1963 từ tổ chức tiền thân là Cục ngọại hối. Là NH thương mại NN đầu tiên được Chính phủ lựa chọn thực hiện thí điểm CPH, VCB chính thức hoạt động với tư cách là một NH thương mại cổ phần vào ngày 02/6/2008 sau khi thực hiện thành công kế hoạch CPH thông qua việc phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng.

Ngày 02-06-08, VCB trở thành NH cổ phần. Ngày 30-06-09, cổ phiếu NH với mã VCB được niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh.Hoạt động của NH đa dạng đa dịch vụ như kinh doanh vốn, huy động vốn, tín dụng, tài trợ dự án, kinh doanh ngoại tệ, dịch vụ thẻ, NH điện tử. Ngày 9/1/18, VCB phát hành riêng lẻ 360 triệu cổ phần cho NH Mizuho và quỹ đầu tư quốc gia Singapore. NH nới lỏng tỷ lệ sở hữu nước ngoài nhưng NN vẫn nắm giữ tối thiểu 65% vốn.

NHTM cổ phần Công thương Việt Nam (Vietinbank). Ngày 26/03/1988, Hội đồng bộ trưởng ban hành Nghị định số 53/HĐBT về việc thành lập các NH chuyên doanh. Ngày 14/11/1990, Quyết định số 402/CT của Hội đồng Bộ trưởng chuyển các NH chuyên doanh Công thương Việt Nam thành NH Công thương Việt Nam. Ngày 27/03/1993 NH Công thương Việt Nam thành lập theo Quyết định số 67/QĐ-NH5 của Thống đốc NHNN Việt Nam.

Ngày 21/09/1996 thành lập lại NH Công thương Việt Nam theo Quyết định số 285/QĐ-NH5 của Thống đốc NHNN Việt Nam. Ngày 23/09/2008, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt phương án CPH NH Công thương Việt Nam. Ngày 25/12/2008, đợt IPO trong nước được tổ chức. Ngày 04/06/2009, Nghị quyết của Đại hội Cổ đông lần thứ nhất NH TMCP Công thương Việt Nam.

Ngày 03/07/2009, Quyết định cấp giấy phép thành lập và hoạt động cho NH TMCP Công thương Việt Nam. Ngày 03/07/2009: Thống đốc NHNN chuẩn y điều lệ tổ chức và hoạt động NH TMCP Công thương Việt Nam. Tháng 07/2009, NH được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP. Ngày 27/12/2012, nhà 6 đầu tư chiến lược Bank of Tokyo – Mitsubishi UFJ mua 20% cổ phần từ NH.

Tình hình hoạt động của NHTM giai đoạn 2008-2018: Các NHTM tại Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Tác giả xem xét tình hình hoạt động kinh doanh của 16 NHTM về doanh thu, lợi nhuận, chi phí hoạt động, tổng tài sản, cơ cấu sở hữu để có cái nhìn khái quát về ngành NH trong khoảng thời gian từ 2008 đến 2018. Các NHTM tác giả nghiên cứu gồm 16 NH đại diện cho ngành NH. Số liệu về tài chính của các NH được thu thập từ báo cáo được công bố hàng năm.

Đối với lợi nhuận ròng trung bình, VCB dẫn đầu tiếp theo là Vietinbank và BIDV. Trung bình cho giai đoạn 2008-2018 lợi nhuận ròng của ba NH kể trên đều vượt 3.1: Lợi nhuận ròng trung bình của một số NH tại Việt Nam giai đoạn 2008-2018. (đvt: triệu đồng) (Xem thêm phụ lục 2.2: Doanh thu thuần trung bình của một số NH tại Việt Nam giai đoạn 2008-2018. (đvt: triệu đồng) (Xem thêm tại phụ lục 2.2) Trong hình ta thấy nổi bật có Agribank, BIDV, Vietinbank và VCB với mức thu nhập ròng trung bình cao hơn hẳn so với các NH còn lại.

Dẫn đầu là Agribank, Vietinbank, tiếp theo là BIDV và VCB với thu nhập ròng trung bình hơn 14. Trong giai đoạn 2008-2018, tổng tài sản trung bình của các NH có sự phân hóa. Các NH Agribank, BIDV, Vietinbank và VCB dẫn đầu và vượt trội các NH còn lại về quy mô tài sản. Các NH như Agibank, VCB, Vietinbak, BIDV đều có tổng tài sản trung bình hơn 500.3: Tổng tài sản trung bình của một số NH tại Việt Nam giai đoạn 2008-2018.

(đvt: triệu đồng) (Xem thêm tại phụ lục 2.3) Một lần nữa xét về mặt chi phí, các NH Agribank, BIDV, Vietinbank, VCB vẫn nằm trong nhóm dẫn đầu. Cụ thể, tổng chi phí hoạt động trung bình của VCB, Vietinbank, BIDV khá cao xấp xỉ 7.000 tỷ đồng trở lên.4: Tổng chi phí hoạt động trung bình của một số NH tại Việt Nam giai đoạn 2008-2018. (đvt: triệu đồng) (Xem thêm phụ lục 2.5: Tỷ lệ sở hữu NN tại một số NH Việt Nam thời điểm tháng 9/2019. Sau khi đánh giá các biểu đồ trên, ta có thể dễ dàng nhận thấy các NH BIDV, Vietinbank, VCB luôn có các thông tin về kết quả kinh doanh cao hơn các NH khác trong cùng hệ thống.

Mặc khác, khi xem xét về cấu trúc sở hữu của ba NH trên ta nhận thấy có thay đổi với sự xuất hiện của các thành phần TN và nước ngoài và tỷ lệ NN nắm giữ dưới 100%. Phát hiện đề tài: Các nhận xét từ việc đánh giá thông tin về kết quả kinh doanh và cơ cấu sở hữu của NH, ta thấy sự cần thiết của việc nghiên cứu về hiệu quả của các NH hàng đầu Việt Nam như VCB, BIDV, Vietinbank. Các NH này, vừa trải qua một giai đoạn chuyển mình từ thuộc hoàn toàn sở hữu NN sang TN. Phần tiếp theo, các NH thuộc sở hữu NN được tiến hành CPH tác giả gọi là NH CPH.

Vấn đề hiệu quả hoạt động NH sau CPH: Các giai đoạn của quá trình thực hiện CPH tại Việt Nam: Giai đoạn tiến hành thí điểm CPH từ năm 1992 đến giữa năm 1998: một số văn bản pháp lý được ban hành như sau: Quyết đinh 202-CT ngày 08/06/92 có nội dung tiếp tục thí điểm chuyển một số doanh nghiệp NN thành công ty cổ phần. Nghị định 28/CP ngày 07/05/96 về việc chuyển một số doanh nghiệp NN thành công ty cổ phần (thay thế QĐ 2002-CT). Nghị định 25/CP ngày 26/03/97 về sửa đổi một số điều của NĐ 28/CP. Giai đoạn đẩy mạnh CPH từ năm 1998 đến 2001: một số văn bản pháp lý được ban hành như sau: Nghị định 44/1998/NĐ-CP ngày 29/06/98 về việc chuyển doanh nghiệp NN thành công ty cổ phần.

Nghị định 64/2002/NĐ-CP ngày 19/06/2002 về việc chuyển doanh nghiệp NN thành công ty cổ phần. Nghi định 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 về việc chuyển công ty NN thành công ty cổ phần. Nghị định 109/2007/NĐ-CP ngày 26/06/2007 về việc chuyển doanh nghiệp 100% vốn NN thành công ty cổ phần. Nghi định 59/2011/NĐ-CP ngày 18/07/2011 về việc chuyển doanh nghiệp 100% vốn NN thành công ty cổ phần.

10 Giai đoạn tăng cường từ năm 2012 đến 2016: Quyết định 929/QĐ-TTg ngày 17/07/2012 với nội dung Tái cơ cấu doanh nghiệp NN, trọng tâm là các tập đoàn, tổng công ty NN giai đoạn 2011-2015. Quyết định 37/2014/QĐ-TTg ngày 18/06/2014 nhằm sắp xếp phân loại các doanh nghiệp NNtheo tỷ lệ % vốn điều lệ do NN nắm giữ. Sau năm 2016, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 126/2017/NĐ-CP về việc CPH doanh nghiệp NN (DNNN), có hiệu lực kể từ ngày 1/1/2018. Nghị định trên có thay đổi về chi phí thực hiện CPH (trước đậy là được tính theo giá trị doanh nghiệp) và trao cho cơ quan đại diện chủ sở hữu được phê duyệt, giám đóc doanh nghiệp được quyết định theo nội dung được quy định và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật.

Để cụ thể hóa Nghi định được ban hành, Chỉ thị số 04/CT-TTg ngày 02/02/2017 về việc đẩy mạnh việc sắp xếp, đổi mới DNNN giai đoạn 2016-2020 được ra đời. Số lượng doanh nghiệp CPH từ 1992 đến 2017: Quyết định số 202 ký ngày 08/06/1992 ban hành có hiệu lực thì số doanh nghiệp cổ phần là 5 trong khoảng thời gian từ 1992 đến giữa năm 1996.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ