Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán các khoản thanh toán với người lao động trong các doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng kế toán các khoản thanh toán với người lao động tại Trung tâm Môi trường và Phát triển Cộng đồng. Chương 3: Các kết luận và đề xuất nhằm hoàn thiện kế toán các khoản thanh toán với người lao động tại Trung tâm Môi trường và Phát triển Cộng đồng. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN CÁC KHOẢN THANH TOÁN VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 1.
Một số vấn đề lý luận cơ bản về kế toán các khoản thanh toán với người lao động trong doanh nghiệp 1.1 Các khái niệm cơ bản Tiền lương Theo Công ước về bảo vệ tiền lương (1949) có nêu: Tiền lương là sự trả công hoặc thu nhập mà có thể biểu hiện bằng tiền và được ấn định bằng thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động, hoặc bằng pháp luật, pháp quy Quốc gia do người sử dụng lao động phải trả cho người lao động theo hợp đồng cho một công việc đã thực hiện hay sẽ phải thực hiện, hoặc những dịch vụ đã làm hoặc sẽ phải làm. Tại điều 55, chương IV “Tiền lương” của Bộ luật lao động ban hành năm 2012 có ghi: “Tiền lương của người lao động do hai bên thỏa thuận trong hợp đồng lao động và được trả theo năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc” Nói tóm lại, tiền lương là số tiền thù lao mà người sử dụng lao động phải trả cho người lao động theo số lượng và chất lượng lao động mà họ đóng góp để tái sản xuất sức lao động, bù đắp hao phí của họ trong quá trình sản xuất kinh doanh Tiền thưởng Tại Điều 103 Bộ luật lao động năm 2012 quy định như sau: “Tiền thưởng là khoản tiền mà người sử dụng lao động thưởng cho người lao động căn cứ vào kết quả sản xuất kinh doanh hằng năm và mức độ hoàn thành công việc của người lao động. Quy chế thưởng do người sử dụng lao động quyết định và công bố công hai tại nơi làm việc sau khi tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở.” Phụ cấp Tại điểm b, khoản 1 Điều 3 Thông tư số 23/2015/TT-BLĐTBXH ngày 23/06/2015: “Phụ cấp lương là khoản tiền bù đắp các yếu tố về điều kiện lao động, tính chất phức tạp công việc, điều kiện sinh hoạt, mức độ thu hút lao động chưa được tính đến hoặc tính chưa đầy đủ trong mức lương theo công việc hoặc chức danh của thang lương, bảng lương”. 4 Các khoản trích theo lương Ngoài khoản tiền lương mà người sử dụng lao động thanh toán với người lao động bên cạnh đó các khoản thanh toán với người lao động còn bao gồm các khoản trích theo lương.
Các khoản trích theo lương bao gồm: Bảo hiểm xã hội (BHXH), Bảo hiểm y tế (BHYT), Kinh phí công đoàn (KPCĐ), Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN). Cụ thể như sau: - Bảo hiểm xã hội: Theo từ điển Bách khoa Việt Nam: “BHXH là sự đảm bỏ thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động như: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, tử tuất, già yếu, mất việc làm trên cơ sở hình thành một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia bảo hiểm, có sự bảo hộ của Nhà nươc theo đúng pháp luật. Nhằm bảo đảm sự an toàn, ổn định đời sống cho người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo xã hội”. - Bảo hiểm y tế: Theo giáo trình Kế toán tài chính 1, 2 Trường Đại học thương mại: “Bảo hiểm y tế là ngân quỹ được sử dụng để hỗ trợ chi cho việc khám chữa bệnh của người lao động trong Doanh nghiệp”.
- Kinh phí công đoàn: Theo Giáo trình Kế toán tài chính 1, 2 Trường Đại học Thương mại: “Kinh phí công đoàn là ngân quỹ để chi cho hoạt động của các tổ chức công đoàn trong đó bao gồm cả tổ chức công đoàn của Doanh nghiệp”. - Bảo hiểm thất nghiệp: Theo khoản 4 Điều 3 Luật việc làm năm 2013: Bảo hiểm thất nghiệp là chế độ nhằm bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi bị mất việc làm, hỗ trợ người lao động học nghề, duy trì việc làm, tìm việc trên cơ sở đóng vào Quỹ bảo hiểm thất nghiệp. Tạm ứng lương Là khoản tiền mà người lao động đề nghị Doanh nghiệp ứng cho mình khi có nhu cầu mà chưa đến ngày lĩnh lương. Khoản tiền tạm ứng này sẽ được trừ vào lương của người lao động 5 1.2 Nội dung các khoản thanh toán với người lao động trong doanh nghiệp 1.1 Nội dung các khoản thanh toán với người lao động Kế toán các khoản phải trả người lao động chịu chi phối của chuẩn mực kế toán số 01 chuẩn mực chung (VAS 01) Mục đích của chuẩn mực này là quy định và hướng dẫn các nguyên tắc và yêu cầu kế toán cơ bản, các yếu tố và ghi nhận các yếu tố của báo cáo tài chính của doanh nghiệp.
Kế toán các khoản thanh toán với người lao động tuân thủ các quy tắc như: Cơ sở dồn tích, hoạt động liên tục, giá gốc, phù hợp, nhất quán, thận trọng, trọng yếu. Đồng thời tuân thủ các yêu cầu co bản đối với kế toán: trung thực, khách quan, đầy đủ, kịp thời, dễ hiểu, dễ so sánh. Các khoản thanh toán với người lao động sẽ được ghi nhận là khoản nợ phải trả trên bảng cân đối kế toán trong báo cáo tài chính. Các khoản thanh toán với người lao động được ghi nhận trong bảng cân đối kế toán khi có đủ điều kiện chắc chắn là doanh nghiệp sẽ phải dùng một lượng tiền chi ra để trang trải cho những nghĩa vụ hiện tại mà doanh nghiệp phải thanh toán, và khoản nợ phải trả đó phải xác định được một cách đáng tin cậy.
Đối với các khoản thanh toán với người lao động, tiền lương được tính ra để trả cho người lao động sẽ được ghi nhận trên bảng cân đối kế toán và đến ngày thanh toán lương cho người lao động, kế toán phải trích quỹ có liên quan để chi trả cho người lao động. Ngoài ra kế toán các khoản thanh toán với người lao động còn chịu sự chi phối bởi các văn bản luật khác có liên quan đến BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ. Bảo hiểm xã hội BHXH bắt buộc đối với các đối tượng sau: Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời gian, hợp đồng lao động có thời gian đủ từ ba tháng trở lên. Theo điều 91 luật BHXH: quy định mức đóng và phương thức đóng của người lao động như sau: Hàng tháng người lao động đóng % mức tiền lương, tiền công vào quỹ hưu trí và tử tuất.
Và từ năm 2010 trở đi, cứ 2 năm một lần đóng thêm 1% cho đến khi đạt mức đóng 8% 6 Vậy từ 1/1/2018, mức trích lập BHXH là 24% trên quỹ tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội, trong đó người lao động đóng 8% và người sử dụng lao động đóng 17%. Với tổng mức đóng vào quỹ BHXH bắt buộc của cả người sử dụng lao động và người lao động là 25% thì có 3% đóng góp vào quỹ ốm đau, thai sản, 1% vào quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và 21% vào quỹ hưu trí, tử tuất. Và tỷ lệ này cứ 2 năm sẽ tăng 2% (trong đó người lao động đóng thêm 1% và người sử dụng lao động đóng thêm 1%) cho đến khi đạt tỷ lệ trích lập là 26%, trong đó người lao động đóng 8% và người sử dụng lao động đóng 18%. Bảo hiểm y tế Theo luật BHYT thì mức trích lập tối đa của quỹ BHYT là 6% tiền lương tiền công hàng tháng của người lao động, trong đó người lao động chịu 1/3 (tối đa là 2%) và người sử dụng lao động chịu 2/3 (tối đa 4%).
Theo nghị định số 62/2009/NĐ-CP ban hành ngày 27/07/2009 (có hiệu lực thi hành từ 01/10/2009) của thủ tướng chính phủ quy định mức trích lập BHYT từ 1/1/2010 như sau: Đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên, người lao động là người quản lý doanh nghiệp hưởng tiền lương, tiền công, cán bộ, công chức, viên chức thì mức trích lập BHYT bằng 4,5% mức tiền lương, tiền công hàng tháng của người lao động, trong đó người sử dụng lao động góp 3% và người lao động góp 1,5%. Bảo hiểm thất nghiệp Theo điều 81 luật BHXH, điều kiện hưởng BHTN Người thất nghiệp được hưởng bảo hiểm thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau đây: Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi thất nghiệp; Đã đăng ký thất nghiệp với tổ chức bảo hiểm xã hội; Chưa tìm được việc sau 15 ngày kể từ ngày đăng ký thất nghiệp. Theo điều 102 luật BHXH, nguồn hình thành quỹ như sau: Người lao động đóng bằng 1% tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp. 7 Người sử dụng lao động đóng bằng 1% quỹ tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của những người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp và mỗi năm chuyển 1 lần.
Vậy, tỷ lệ trích lập BHTN của DN là 2%, trong đó người lao động đóng 1% và DN đóng 1% tính vào chi phí. Kinh phí công đoàn Tỷ lệ trích lập của khoản này không thay đổi, vẫn là 2% trên tổng thu nhập của người lao động và toàn bộ khoản này được tính vào chi phí doanh nghiệp.2 Các hình thức trả lương - Hình thức trả lương theo thời gian Là hình thức trả lương cho người lao động căn cứ vào thời gian làm việc, cấp bậc lương (chức danh) và thang lương (hệ số lương). Hình thức này chủ yếu áp dụng cho lao động gián tiếp, công việc ổn định hoặc có thể cho cả lao động trực tiếp mà không định mức được sản phẩm. Tuỳ theo mỗi ngành nghề tính chất công việc đặc thù doanh nghiệp mà áp dụng bậc lương khác nhau.