CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN 1. Công ty chứng khoán 1. Khái niệm Thị trường chứng khoán nói chung được hiểu là nơi diễn ra các giao dịch mua bán, trao đổi các loại chứng khoán. Đó là một bộ phận quan trọng của nguồn vốn, hoạt động nhằm huy động, tập trung những nguồn vốn nhỏ thành nguồn vốn lớn, đồng thời thu hút đầu tư kiếm lời của các cá nhân và tổ chức hoạt động mua bán chứng khoán.
Nói cách khác, thị trường chứng khoán là nơi giao dịch nhưng những người mua bán chứng khoán có thể không tham gia trực tiếp mà ở đó việc mua bán chứng khoán được thực hiện bởi những người môi giới chứng khoán. Việc quy định giao dịch trên thị trường chứng khoán thông qua môi giới sẽ đảm bảo các chứng khoán là thực và hợp pháp, đảm bảo lợi ích nhà đầu tư và giúp thị trường hoạt động hiệu quả, lành mạnh và đều đặn. (Nguồn tài liệu: Giáo trình nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán, PGS. Cùng với sự phát triển của thị trường chứng khoán thì chức năng và quy mô hoạt động giao dịch của các nhà môi giới tăng lên đòi hỏi sự ra đời của các công ty chứng khoán, hay đó là sự tập hợp có tổ chức của các nhà môi giới đơn lẻ (Nguồn tài liệu: Giáo trình nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán, PGS.
Công ty chứng khoán là một chủ thể kinh doanh, một tổ chức tài chính trung gian được thành lập hợp pháp và thực hiện một hoặc một số loại hình kinh doanh chứng khoán, giữ vai trò quan trọng trên TTCK. Ở Việt Nam, theo quyết định số 27/2007/QĐ – BTC về ban hành quy chế tổ chức và hoạt động công ty chứng khoán thì: “Công ty chứng khoán là một tổ chức có tư cách pháp nhân hoạt động kinh doanh chứng, bao gồm một, một số hoặc toàn bộ các hoạt động: môi giới chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán, tự doanh chứng khoán” (Nguồn tài liệu: Luật chứng khoán). Sự phát triển của công ty chứng khoán gắn chặt với sự phát triển của thị trường chứng khoán và sự xuất hiện của các công ty chứng khoán đã giúp cho việc định giá chứng khoán diễn ra nhanh chóng với chi phí thấp. Đặc điểm của công ty chứng khoán 1.
CTCK là một tổ chức trung gian tài chính Các tổ chức tài chính có chức năng dẫn vốn từ người có vốn đến người cần vốn. Lịch sử hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán đã chứng minh rằng thị trường chứng khoán không thể vắng mặt loại chủ thể này, công ty chứng khoán cần cho cả người phát hành, người đầu tư chứng khoán và được xem là một trong những nhân tố quyết định sự phát triển của thị trường chứng khoán. Tuy nhiên, khác với dạng tài chính trực tiếp, người cần vốn và người có vốn trao đổi trực tiếp với nhau. Tại thị trường chứng khoán, các trung gian tài chính thực hiện dẫn vốn thông qua một cầu nối, 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghĩa là người cần vốn và có vốn phải thông qua người thứ ba, chính là các trung gian tài chính.
Công ty chứng khoán môi giới đại diện thu xếp giao dịch cho khách hàng và hưởng hoa hồng, là người trung gian mua bán chứng khoán nợ, chứng khoán vốn, chứng quyền, bảo chứng phiếu, hợp đồng quyền chọn tại sàn giao dịch. Một công ty đồng thời thực hiện cả nghiệp vụ tự doanh và môi giới chứng khoán rất dễ xảy ra xung đột về lợi ích. Chính vì thế, hầu hết các nước trên thế giới trong đó có Việt Nam, thường quy định các công ty chứng khoán phải tổ chức thực hiện hai nghiệp vụ ở hai bộ phận riêng biệt nếu công ty đó thực hiện cả hai nghiệp vụ. Hoạt động kinh donah của công ty chứng khoán phải được kiểm soát chặt chẽ đồng thời bởi các cơ quan chức năng của nhà nước và hiệp hội chứng khoán.
Công ty kinh doanh mua bán theo nguyên tắc ưu tiên cho khách hàng trước, rồi tính đến mình sau. Những giao dịch của Công ty chứng khoán được thực hiện thanh toán bằng tiền của khách hàng đều bị cấm tuyệt đối. Cơ sở vật chất kỹ thuật, nhân sự và vốn Về cơ sở vật chất kỹ thuật, khi tiến hành đăng ký hoạt động, CTCK phải đáp ứng yêu cầu về trụ sở có các điều kiện phù hợp với việc kinh doanh chứng khoán. Yêu cầu này ban đầu xuất phát từ đặc điểm của hoạt động kinh doanh chứng khoán là phải có sàn giao dịch.
Bên cạnh đó, các CTCK cũng đòi hỏi phải được trang bị hệ thống trang thiết bị hiện đại phục vụ cho quá trình đặt lệnh, truyền lệnh của khách hàng, thông báo kết quả giao dịch cũng như giúp khách hàng tra cứu, kiểm soát số dư tài khoản hoặc tìm kiếm thông tin. Về mặt nhân sự, các CTCK phải sở hữu một đội ngũ nhân viên cũng như ban lãnh đạo có trình độ nhất định. Bởi hoạt động kinh doanh chứng khoán là một lĩnh vực hoạt động có nghiệp vụ phức tạp, có độ rủi ro cao và có ảnh hưởng lớn đến đời sống kinh tế xã hội. Đó phải là những người có tư cách đạo đức nghề nghiệp, có chứng chỉ hành nghề do cơ quan có thẩm quyền cấp.
Bên cạnh đó, đội ngũ lãnh đạo đòi hỏi phải có trình độ quản lý, tuyệt đối không vi phạm pháp luật, được cấp giấy phép đại diện do cơ quan có thẩm quyền cấp. Về vốn, CTCK muốn được cấp giấy phép thành lập phải đáp ứng yêu cầu về mức vốn pháp định mà luật pháp cố định. Tại Việt Nam, theo Luật chứng khoán, doanh nghiệp muốn kinh doanh các nghiệp vụ chứng khoán thì phải có vốn đã góp tại thời điểm thành lập công ty tối thiểu bằng mức vốn pháp định theo quy định cho từng nghiệp vụ như sau: - Môi giới chứng khoán: 25 tỷ đồng Việt Nam; - Tự doanh chứng khoán: 100 tỷ đồng Việt Nam; 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Bảo lãnh phát hành chứng khoán: 165 tỷ đồng Việt Nam; - Tư vấn đầu tư chứng khoán: 10 tỷ đồng Việt Nam. Trường hợp doanh nghiệp đề nghị cấp giấy phép cho nhiều nghiệp vụ kinh doanh, vốn pháp định là tổng số vốn pháp định tương ứng với từng nghiệp vụ đề nghị cấp phép.
Sự xung đột lợi ích giữa quyền lợi của khách hàng và công ty chứng khoán Hiện nay, trong bất kỳ lĩnh vực kinh doanh hay cung cấp dịch vụ nào thì lợi ích của khách hàng bao giờ cũng phải được gắn liền với lợi ích của chính doanh nghiệp và hơn hết là giữa doanh nghiệp với khách hàng khôngxyả ra mâu thuẫn về lợi ích. Đối với hoạt động của công ty chứng khoán, ngoài việc đảm bảo cung ứng dịch vụ tốt nhất cho khách hàng thì giữa công ty và khách hàng đôi khi sẽ có trường hợp xảy ra mâu thẫu về lợi ích. Những hoạt động mà CTCK tiến hành có thể dẫn đến xung đột lợi ích là hoạt động tự doanh, hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán và hoạt động môi giới. Do đó, điểm này tạo nên nét khác biệt trong hoạt động của công ty chứng khoán trên thị trường chứng khoán so với các hoạt động kinh doanh trong các lĩnh vực khác.
Vai trò của công ty chứng khoán Thị trường chứng khoán ngày càng phát triển mạnh mẽ, vai trò của các công ty chứng khoán cũng ngày càng quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế nói chung. Các CTCK với nghiệp vụ chuyên môn, kinh nghiệm nghề nghiệp, và bộ máy tổ chức thích hợp sẽ thực hiện vai trò trung gian môi giới mua bán, phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư và thực hiện một số dịch vụ khác cho cả người đầu tư và người phát hành. Do đó, các cổ phiếu lưu thông buôn bán tấp nập trên thị trường chứng khoán và tập hợp được những nguồn vốn lẻ tẻ trong công chúng thành một lượng vốn khổng lồ. Tuy nhiên, đối với từng chủ thể khác nhau trên thị trường thì vai trò của công ty chứng khoán là khác nhau.
Đối với các tổ chức phát hành CTCK bên cạnh việc mang tính chất của một doanh nghiệp chuyên về tài chính, họ còn có vai trò giúp doanh nghiệp có thể phát hành được cổ phiếu nhằm huy động vốn kinh doanh nhanh chóng để triển khai các dự án thông qua các kênh chứng khoán. Các CTCK thường đảm nhiệm vai trò bằng các hoạt động bảo lãnh phát hành và MGCK. Để có thể phát hành cổ phiếu thành công, các doanh nghiệp sẽ được nhân viên môi giới chứng khoán tư vấn, tìm kiếm khách hàng nhàn rỗi, có nhu cầu đầu tư vào 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các công cụ trên thị trường, đồng thời bảo lãnh quá trình phát hành chứng khoán của mình. CTCK sẽ giúp tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán và phân phối chứng khoán.
Với đội ngũ tư vấn đầu tư và môi giới chuyên nghiệp, thông tin về tổ chức phát hành sẽ được nhân viên phân tích và cung cấp cho các nhà đầu tư một cách đầy đủ, chi tiết, rõ ràng và kịp thời. Đối với thị trường chứng khoán Thứ nhất, công ty chứng khoán góp phần tạo lập giá cả, điều tiết thị trường. Thông qua các sở giao dịch chứng khoán và thị trường phi tập trung, CTCK có chức năng cung cấp một cơ chế giá nhắm giúp các nhà đầu tư có được sự đánh giá chính xác nhất về giá trị khoản đầu tư của mình. Theo quy định của cả nước, công ty chứng khoán bắt buộc phải dành ra một tỷ lệ nhất định giap dịch của mình để mua bán chứng khoán như mua vào khi giá chứng khoán trên thị trường đang giảm và bán ra khi giá tăng cao.
Sự can thiệp đó ít nhiều còn phụ thuộc vào nguồn vốn tự doanh và quỹ dự trữ chứng khoán. Tuy vậy, sự can thiệp đó vẫn có ý nghĩa nhất định, có tác động đến tâm lý của các nhà đầu tư trên thị trường. Thứ hai, CTCK cung cấp các dịch vụ, sản phẩm mới cho thị trường chứng khoán. Trước yêu cầu của đa số các nhà đầu thư về sự đa dạng và nâng cao chất lượng dịch vụ cũng như sự tồn tại của CTCK trong tình hình cạnh tranh ngày càng gay gắt như hiện nay, các công ty chứng khoán không ngừng phát triển và nâng cao dịch vụ cung cấp.
Thông qua việc tiếp xúc với khách hàng, CTCK sẽ cũng cấp ý tưởng và thiết kế sản phẩm và dịch vụ theo yêu cầu của khách hàng và xu hướng thay đổi của thị trường.