mở đầu quan trọng trong quá trình quản lý tài chính của một đơn vị, để thực hiện và kiểm soát thu chi, đảm bảo cân đối hợp lý giữa các nguồn kinh phí, làm cơ sở cho việc quản lý tài chính thông suốt của ĐVSN. Lập dự toán ngân sách là các đơn vị sẽ tiến hành phân tích, đánh giá giữa khả năng và nhu cầu các nguồn tài chính trên cơ sở tiêu chuẩn định mức chi tiêu kỳ trước để xây dựng, dự kiến biến động các chỉ tiêu thu chi hàng năm một cách khoa học và thực tiễn, ưu tiên các nhiệm vụ trọng tâm. Hàng năm, căn cứ vào các văn bản hướng dẫn lập dự toán của Bộ Tài chính, cơ quan quản lý cấp trên; chức năng nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao; tình hình thực hiện nhiệm vụ của năm trước và dự kiến cho năm kế hoạch; các định mức, chế độ chi tiêu tài chính hiện hành của Nhà nước quy định (Luật NSNN, 2015, điều 42), ĐVSNCL dự toán thu chi tài chính theo đúng chế độ quy định gửi Bộ, ngành có liên quan thẩm tra, cơ quan tổ chức thảo luận công khai, sau đó sẽ được báo cáo Chính phủ và trình Quốc hội phê duyệt. Trên cơ sở phê duyệt của Quốc hội, 12 Chính phủ và Bộ, Ngành chức năng có trách nhiệm phân bổ cho các đơn vị thụ hưởng.
Các đơn vị dự toán nhận trực tiếp kinh phí qua Kho bạc Nhà nước theo hình thức cấp phát hoặc rút. Dự toán thu chi là cơ sở để dẫn dắt, triển khai toàn bộ quá trình quản lý tài chính của đơn vị sau này, là tiêu chí để đánh giá việc thực hiện dự toán trong cơ quan nhà nước có hiệu quả không. Dự toán phải thể hiện đầy đủ các khoản thu, thu chi dự kiến đúng chế độ, quy định nhà nước, phải thực hiện đúng mẫu, nội dung, thời gian theo hướng dẫn của Bộ Tài chính để kịp thời gửi cho các cơ quan quản lý cấp trên. Dự toán sau khi được phê duyệt phải được thực hiện công khai theo quy định.
Công tác chấp hành dự toán thu chi. Căn cứ vào dự toán được giao, các đơn vị lập kế hoạch tiến hành sử dụng các biện pháp kinh tế tài chính nhằm biến các chi tiêu trong dự toán thành hiện thực. Kho bạc Nhà nước là nơi diễn ra các giao dịch để được cấp phát kinh phí, mọi khoản chi cho các đối tượng thụ hưởng cũng được thực thi tại đây. Thực tế cho thấy trong các đơn vị sự nghiệp, nguồn thu chính bao gồm: Nguồn kinh phí cấp phát từ ngân sách nhà nước (NSNN): Theo Luật NSNN thì nguồn kinh phí NSNN là nguồn kinh phí đảm bảo hoạt động thuờng xuyên thực hiện chức năng, nhiệm vụ đối với ĐVSNCL tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động được cơ quan cấp trên có thẩm quyền giao; Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ khoa học, công nghệ; Kinh phí thực hiện chương trình đào tạo bỗi dưỡng cán bộ, viên chức; Kinh phí vốn đầu tư xây dựng cơ bản, trang thiết bị, sửa chữa tài sản cố định phục vụ hoạt động sự nghiệp; Kinh phí thực hiện nhiệm vụ đột xuất được cấp trên giao; Kinh phí khác.
Đây là nguồn thu chính trong việc thực thi hoạt động sự nghiệp. Tuy nhiên, với chủ trương tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm, tỷ trọng nguồn thu này có xu hướng giảm dần nhằm giảm bớt gánh nặng đối với NSNN. Nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp: là phần chênh lệch để lại từ các khoản thu phí, lệ phí thuộc NSNN theo quy định của pháp luật. Cùng theo hướng chuyển đổi sang cơ chế tự chủ tài chính, tỷ trọng nguồn thu này trong các đơn vị sự nghiệp có xu hướng ngày càng tăng.
Vì thế đò i hỏ i các đơn vị phải tăng cường khai thác các nguồn thu hợp pháp này nhằm nâng cao năng lực tài chính của đơn vị; Các khoản thu từ nhận viện trợ, biếu tặng; Các khoản thu khác không phải nộp ngân sách theo chế độ; Các nguồn khác như nguồn vốn vay của các tổ chức tín dụng, vốn huy động của cán bộ, viên chức trong đơn vị; Nguồn vốn liên doanh, liên kết của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật. ĐVSN tự chủ thực hiện nhiệm vụ thu đúng, đủ theo mức thu và đối tượng do cơ quan Nhà nước, cơ quan cấp trên quy định. Trong quá trình sử dụng Ngân sách phải đảm bảo thực hiện theo đúng mục đích, chế độ, quy định, quy chế chi tiêu Nhà nước đồng thời thực hành tiết kiệm, chống lãng phí góp phần 13 biến các chỉ tiêu của kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của đất nước có hiệu quả. Đồng thời phải thường xuyên thực hiện kiểm tra, tự kiểm tra để kịp thời phát hiện, ngăn chặn, điều chỉnh các khoản chi sai, không đúng đối tượng, định mức quy định.
Công tác quyết toán thu chi. Công tác quyết toán thu chi là quá trình kiểm tra, tổng hợp số liệu về tình hình chấp hành dự toán theo quý, năm. Các ĐVSNCL có trách nhiệm lập báo cáo quyết toán gửi cơ quan chủ quản cấp trên để thẩm tra, xét duyệt, sau đó sẽ thông báo kết quả xét duyệt cho các đơn vị cấp dưới. Công tác quyết toán thực hiện tốt sẽ là cơ sở thiết thực để đơn vị lập và chấp hành dự toán năm sau, từ đó điều chỉnh kịp thời theo xu hướng thích hợp.
Quyết toán thu chi sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt phải được thực hiện công khai theo quy định của Nhà nước.Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý tài chính của các đơn vị sự nghiệp công lập * Hệ thống quản lý tài chính của Nhà nước Hệ thống quản lý tài chính của Nhà nước là nhân tố quan trọng hình thành nên một lộ trình thống nhất, một hành lang pháp lý trong quản lý tài chính công nói chung, đơn vị sự nghiệp có thu trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo nói riêng, nhằm giúp các đơn vị thực hiện tốt các mục tiêu, kế hoạch đề ra. Nhưng nếu hệ thống quản lý này không phù hợp cũng sẽ trở thành hàng rào cản trở đến quá trình phát triển của đơn vị, quản lý l ỏng lẻo có thể gây ra thiệt hại lớn, thất thoát NSNN và không tạo ra tăng trưởng nền kinh tế - xã hội như đã định Nhà nước có vai tr như một cán cân công lý, đảm bảo sự công bằng, minh bạch trong việc tạo và phân phối sử dụng các nguồn lực tài chính giữa các đơn vị sự nghiệp thuộc các lĩnh vực khác nhau. Điều đó sẽ tạo môi trường bình đẳng, điều kiện phát triển cho các đơn vị sự nghiệp dù hoạt động ở lĩnh vực nào và ở đâu. * Hệ thống quản lý tài chính của Bộ, ngành, đơn vị chủ quản Ngoài hệ thống quản lý tài chính Nhà nước, thì các cơ quan của Bộ, ngành, đơn vị chủ quản cũng có hệ thống quản lý tài chính đặc thù, quy định rõ ràng, phù hợp với từng chức năng nhiệm vụ, đặc điểm hoạt động của từng ĐVSNCL.
Các ĐVSNCL phải tuân thủ các quy định, quy chế quản lý tài chính của đơn vị cấp trên, vì vậy khi hệ thống quản lý Nhà nước có nhiều biến động, mà cơ quan chủ thể không kịp cập nhật, sửa đổi sẽ cản trở đến công tác quản lý tài chính và hoạt động sự nghiệp của ĐVSNCL trực thuộc. * Việc ban hành cơ chế, chính sách pháp luật của Nhà nước Việc ban hành cơ chế, chính sách pháp luật của Nhà nước về cải cách hành chính như cải cách thể chế, cải cách bộ máy. cũng ảnh hưởng đến quản lý tài chính của ĐVSN. Nhờ đó, các ĐVSNCL nói chung và các ĐVSNCL có thu trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo nói riêng đã được phân cấp biên chế, sắp xếp lại bộ máy tổ chức, nguồn lực tài chính để hoàn thành nhiệm vụ được 14 giao góp phần phát huy khả năng cung cấp dịch vụ công, đảm bảo tính hiệu quả công việc, nguồn thu nhập của người lao động.
Tuy nhiên, nếu thực hiện điều chỉnh pháp luật chậm chễ, không phát hiện kịp thời, chính xác thì việc ban hành này cơ chế, chính sách pháp luật này không c n ý nghĩa, không phát huy được tính hiệu lực và hiệu quả trước yêu cầu của công cuộc đổi mới. * Đội ngũ cán bộ, lãnh đạo quản lý Cán bộ lãnh đạo, quản lý là nhân tố trung tâm, là khâu trọng yếu trong việc xử lý các thông tin, ảnh hưởng trực tiếp đến tính chất lượng, hiệu quả hoạt động của ĐVSNCL. Các đơn vị có đội ngũ quản lý có trình độ cao, nhiều kinh nghiệm, phẩm chất đạo đức tốt sẽ xử lý thông tin nhanh, hữu hiệu hơn. Điều này cũng sẽ đưa công tác quản lý tài chính của đơn vị ngày càng phát triển, thực thi nhiệm vụ dần đi vào nền nếp, tuân thủ đúng các quy định về tài chính, góp phần nâng cao hiệu quả các hoạt động sự nghiệp của đơn vị.
CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ HOÀN THIỆN QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI ĐVSNCL 1.1 Sự đầy đủ, cập nhật hệ thống văn bản quy định về quản lý tài chính tại ĐVSNCL Cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với các ĐVSNCL đã có nhiều đổi mới. Các cấp, các ngành đã tích cực triển khai chủ trương về đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các ĐVSNCL. Hệ thống cung ứng dịch vụ sự nghiệp công đã hình thành ở hầu hết các địa bàn, lĩnh vực; mạng lưới cơ sở giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao trải rộng đến tận khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, địa bàn khó khăn, biên giới, hải đảo trong cả nước. Các ĐVSNCL giữ vai trò chủ đạo, vị trí then chốt trong cung ứng dịch vụ sự nghiệp công và thực hiện chính sách an sinh xã hội.
Hệ thống pháp luật về đơn vị sự nghiệp công từng bước được hoàn thiện. Chính sách xã hội hoá cung ứng dịch vụ sự nghiệp công đã góp phần mở rộng mạng lưới, tăng quy mô, số lượng và nâng cao chất lượng các đơn vị sự nghiệp ngoài công lập. Để từng bước hoàn thiện được mạng lưới ĐVSNCL, Nhà nước và các cơ quan chủ quản cấp trên phải xây dựng một hệ thống văn bản quy định về quản lý tài chính tại các ĐVSNCL đồng bộ. Đây là nội dung quan trọng, giúp nhà quản lý tài chính có cơ sở tổ chức thực hiện, kiểm soát để đạt mục tiêu đề ra.
Hệ thống văn bản bao gồm các văn bản pháp luật liên quan đến quản lý tài chính của các ĐVSNCL.