CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DỊCH VỤ VÀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ 1. Khái niệm, đặc điểm dịch vụ nói chung và FiberVNN nói riêng Dịch vụ là một khái niệm phổ biến, trong thời gian qua có rất nhiều khái niệm, cách nhìn nhận khác nhau về dịch vụ. Theo Zeithaml & Britner (2000), dịch vụ là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng; Dịch vụ có một số đặc tính sau: - Tính đồng thời, không thể tách rời: Trong hoạt động sản xuất và tiêu dùng dịch vụ phải diễn ra đồng giữa bên cung cấp dịch vụ và bên tiêu dùng dịch vụ.
Nếu thiếu đi một trong hai bên thì sẽ không có hoạt động cung cấp dịch vụ; - Tính chất không đồng nhất: Không có chất lượng đồng nhất, vì dịch vụ bắt nguồn từ sự khác nhau về tính chất tâm lý, trình độ của từng nhân viên, ngoài ra còn chịu sự đánh giá phím tính của từng khách hàng, tại mỗi thời điểm khác nhau khách hàng có thể có những cảm nhận khác nhau về dịch vụ; - Tính vô hình: Không có hình hài rõ rệt, không thể thấy trước khi tiêu dùng, không nhìn ngắm, cầm nắm được. Khách hàng rất khó trong việc đưa ra quyết định tiêu dùng dịch vụ; - Tính không lưu trữ được: Sản phẩm dịch vụ không thể lưu trữ, tồn kho được như các sản phẩm hàng hóa hữu hình; - Tính không chuyển đổi sở hữu: Từ những đặc điểm trên ta có thể dễ dàng nhận thấy dịch vụ không thể để dành và chuyển đổi cho người khác dùng được. 7 Trong khi đó, dịch vụ FiberVNN là dịch vụ internet cáp quang của VNPT. Đây là dịch vụ truy nhập internet tốc độ cao băng thông đối xứng thông qua cổng Ethernet của mạng MAN-E và đôi cáp sợi quang.
Dịch vụ này mang lại cho khách hàng các tiện ích như : kết nối mạng internet với tốc độ cao, gọi điện qua internet, phục vụ cho công tác giáo dục và đào tạo từ xa trên cơ sở khách hàng có thể tham dự các khóa học từ xa hoặc truy cập vào các thư viện điện tử trên mạng nhanh hơn. Thông qua sử dụng dịch vụ FiberVNN khách hàng có thể truy cập những website thiết kế với chất lượng cao, dùng flash, nhạc nền, hình động…Ngoài ra, khách hàng có thể nghe, xem trực tuyến các bài hát, bản tin, phim ảnh,… từ khắp mọi nơi trên thế giới, cho phép tải và đưa dữ liệu lên nhanh hơn. Bên cạnh đó dịch vụ FiberVNN giúp khách hàng đàm thoại với bạn bè, người thân, đối tác kinh doanh qua internet với âm thanh và hình ảnh chất lượng cao, giúp khách hàng tổ chức các buổi họp trực tuyến thông qua đường truyền mạng internet. Khái niệm và các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ 1.
Khái niệm về chất lượng dịch vụ Từ các điểm khác biệt giữa hàng hóa và dịch vụ mà khái niệm chất lượng dịch vụ trở nên rất phức tạp. Đặc điểm nổi bật là khách hàng chỉ có thể đánh giá được toàn bộ chất lượng của những dịch vụ sau khi đã “mua” và “sử dụng” chúng. Do đó, tài liệu xác định chất lượng dịch vụ dựa theo: chủ quan, thái độ, và khả năng nhận biết. Zeithaml (1987) giải thích: Chất lượng dịch vụ là sự đánh giá của khách hàng về tính siêu việt và sự tuyệt vời nói chung của một thực thể.
Nó là một dạng của thái độ và các hệ quả từ một sự so sánh giữa những gì được mong đợi và nhận thức về những thứ ta nhận được. Lewis và Booms phát biểu: Dịch vụ là một sự đo lường mức độ dịch vụ được đưa đến khách hàng tương xứng với mong đợi của khách hàng tốt đến 8 đâu. Việc tạo ra một dịch vụ chất lượng nghĩa là đáp ứng mong đợi của khách hàng một cách đồng nhất. Theo Lehinen & Lehinen (1982): Chất lượng dịch vụ phải được đánh giá trên hai khía cạnh: (1) quá trình cung cấp dịch vụ (2) kết quả của dịch vụ.
Gronroos (1984) cũng đề nghị hai lĩnh vực của chất lượng dịch vụ, đó là (1) chất lượng kỹ thuật và (2) chất lượng chức năng. Chất lượng kỹ thuật liên quan đến những gì được phục vụ và chất lượng chức năng nói lên chúng được phục vụ như thế nào (Nguyễn Đình Thọ & ctg.L Berry (Parasuraman và ctg) thì định nghĩa chất lượng dịch vụ là khoảng cách mong đợi về sản phẩm dịch vụ của khách hàng và nhận thức, cảm nhận của họ khi sử dụng qua sản phẩm dịch vụ đó. Parasuraman (1991) giải thích rằng để biết được sự dự đoán của khách hàng thì tốt nhất là nhận dạng và thấu hiểu những mong đợi của họ. Việc phát triển một hệ thống xác định được những mong đợi của khách hàng là cần thiết.
Và ngay sau đó ta mới có một chiến lược chất lượng cho dịch vụ có hiệu quả. Đây có thể xem là một khái niệm tổng quát nhất, bao hàm đầy đủ ý nghĩa của dịch vụ đồng thời cũng chính xác nhất khi xem xét chất lượng dịch vụ đứng trên quan điểm khách hàng, xem khách hàng là trung tâm. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này với quan điểm hướng về khách hàng thì chất lượng dịch vụ đồng nghĩa với việc đáp ứng mong đợi của khách hàng, thõa mãn nhu cầu của khách hàng. Do vậy, chất lượng dịch vụ được xác định bởi khách hàng khi doanh nghiệp cung cấp dịch vụ đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Chất lượng dịch vụ là do khách hàng quyết định, như vậy chất lượng dịch vụ là phạm trù mang tính chủ quan, tùy thuộc vào nhu cầu, mong đợi của khách hàng. Do đó cùng mức chất lượng dịch vụ nhưng các khách hàng khác nhau sẽ có cảm nhận khác nhau và ngay cả cùng một khách hàng cũng có cảm 9 nhận khác nhau, ở các giai đoạn khác nhau. Các nhân tố quyết định đến chất lượng dịch vụ Vào năm 2001, Sureshchandar et al đã đưa ra năm nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ bao gồm: - Yếu tố dịch vụ cốt lõi (core service); - Yếu tố con người (human element); - Yếu tố kỹ thuật (non-human element); - Yếu tố hữu hình (tangibles); - Yếu tố cộng đồng (social responsibility); Gronroos (1990) đã tiến hành nghiên cứu và đưa ra sáu nhân tố đo lường chất lượng dịch vụ như sau: - Có tính chuyên nghiệp (professionalism and skills); - Có phong cách phục vụ ân cần (attitudes and behaviour); - Có tính thuận tiện (accessibility and flexibility); - Có sự tin cậy (reliability and trustworthiness); - Có sự tín nhiệm (reputation and credibility); - Có khả năng giải quyết khiếu kiện (recovery); Năm 1985, Parasuraman et al đã đưa ra mười nhân tố quyết định chất lượng dịch vụ được bao gồm: - Khả năng tiếp cận (access); - Chất lượng thông tin liên lạc (communication); - Năng lực chuyên môn (competence); - Phong cách phục vụ (courtesy); - Tôn trọng khách hàng (credibility); - Đáng tin cậy (reliability); - Hiệu quả phục vụ (responsiveness); - Tính an toàn (security); 10 - Tính hữu hình (tangibles); - Am hiểu khách hàng (understanding the customer); Đến năm 1988, ông đã tổng hợp thành năm nhân tố cụ thể: - Sự tin cậy (reliability); - Hiệu quả phục vụ (responsiveness); - Sự hữu hình (tangibles); - Sự đảm bảo (assurance); - Sự cảm thông (empathy); 1. Đo lường chất lượng dịch vụ 1.
Đo lường chất lượng dịch vụ bằng thang đo SERVQUAL (1988) Parasuraman et al (1985:1988, dẫn theo Nguyễn Đình Thọ, 2003) được xem là những người đầu tiên nghiên cứu chất lượng dịch vụ một cách cụ thể và chi tiết trong lĩnh vực tiếp thị với việc đưa ra mô hình 5 khoảng cách trong chất lượng dịch vụ. Khoảng cách [1] là sai biệt giữa kỳ vọng của khách hàng và cảm nhận của nhà cung cấp dịch vụ về kỳ vọng đó. Sự diễn dịch kỳ vọng của khách hàng khi không hiểu thấu đáo các đặc trưng chất lượng dịch vụ, đặc trưng khách hàng tạo ra sai biệt này. Khoảng cách [2] được tạo ra khi nhà cung cấp gặp các khó khăn, trở ngại khách quan lẫn chủ quan khi chuyển các kỳ vọng được cảm nhận sang các tiêu chí chất lượng cụ thể và chuyển giao chúng đúng như kỳ vọng.
Các tiêu chí này trở thành các thông tin tiếp thị đến khách hàng. Khoảng cách [3] hình thành khi nhân viên chuyển giao dịch vụ cho khách hàng không đúng các tiêu chí đã định. Vai trò nhân viên giao dịch trực tiếp rất quan trọng trong tạo ra chất lượng dịch vụ. Khoảng cách [4] là sai biệt giữa dịch vụ chuyển giao và thông tin mà khách hàng nhận được.
Thông tin này có thể làm tăng kỳ vọng nhưng có thể 11 làm giảm chất lượng dịch vụ cảm nhận khi khách hàng không nhận đúng những gì đã cam kết. KHÁCH HÀNG Kinh nghiệm Thông tin Nhu cầu cá nhân trải qua Truyền miệng Dịch vụ kỳ vọng Khoảng cách 5 Dịch vụ cảm nhận CUNG ỨNG Khoảng cách 4 Dịch vụ chuyển giao Thông tin đến khách hàng Khoảng cách 1 Khoảng cách 3 Chuyển đổi cảm nhận của công ty thành tiêu chí chất lượng Khoảng cách 2 CÔNG TY Nhận thức của công ty về kỳ vọng của khách hàng Hình 1. Mô hình chất lượng dịch vụ của Parasuraman et al (1985, dẫn theo Nguyễn Đình Thọ, 2003) Khoảng cách [5] hình thành từ sự khác biệt giữa chất lượng cảm nhận và chất lương kỳ vọng khi khách hàng tiêu thụ dịch vụ. Parasuraman et al.
12 (1985) (dẫn theo Nguyễn Đình Thọ et al, 2003) cho rằng chất lượng dịch vụ chính là khoảng cách thứ năm. Khoảng cách này lại phụ thuộc vào 4 khoảng cách trước. Mô hình chất lượng dịch vụ, theo các nhà nghiên cứu này, có thể được biểu diễn như sau: CLDV = F(KC_5) = f(KC_1, KC_2, KC_3, KC_4). Trong đó, CLDV là chất lượng dịch vụ và KC_1,2,3,4,5 là các khoảng cách chất lượng 1,2,3,4, và 5.
Mô hình mười thành phần của chất lượng dịch vụ nêu trên có ưu điểm là bao quát hầu hết mọi khía cạnh của một dịch vụ. Tuy nhiên, mô hình này có nhược điểm là phức tạp trong đo lường. Hơn nữa, mô hình này mang tính lý thuyết, thực tế có thể có nhiều thành phần không đạt giá trị phân biệt. Đo lường chất lượng kỹ thuật/chức năng bằng thang đo Gronroos (1984) Theo mô hình này, chất lượng dịch vụ được đánh giá bằng cách so sánh giữa giá trị mà khách hàng mong đợi trước khi sử dụng dịch vụ và giá trị mà khách hàng nhận được khi sử dụng dịch vụ.
Vấn đề nghiên cứu: Chất lượng kỹ thuật và chất lượng chức năng ảnh hưởng thế nào tới dịch vụ cung cấp và khách hàng cảm nhận về những yếu tố ra sao?