Luận văn: Tổ chức thực thi chính sách giảm nghèo bền vững tại huyện Vân Hồ

Tài liệu nghiên cứu Luận văn thạc sỹ tổ chức thực thi chính sách giảm nghèo bền vững của chính quyền huyện vân hồ tỉnh, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

80
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Luận văn giảm nghèo bền vững tại Vân Hồ Bức tranh toàn cảnh

Luận văn về giảm nghèo bền vững tại Vân Hồ, Sơn La cung cấp một cái nhìn sâu sắc về một trong những thách thức lớn nhất của khu vực miền núi Tây Bắc. Vân Hồ, một huyện mới thành lập năm 2013, đối mặt với nhiều khó khăn trong việc cải thiện đời sống người dân. Nghiên cứu tập trung vào việc tổ chức thực thi các chính sách giảm nghèo của chính quyền địa phương, đặc biệt là các chương trình mục tiêu quốc gia. Mục tiêu của luận văn không chỉ là phân tích thực trạng nghèo đói mà còn đề xuất các giải pháp khả thi, mang tính chiến lược. Nội dung bài viết này sẽ tóm lược những phát hiện chính từ nghiên cứu, từ việc phân tích các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến tỷ lệ hộ nghèo, cho đến việc đánh giá hiệu quả của các chính sách đã triển khai. Các chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững như Chương trình 135 và 30a đóng vai trò xương sống trong nỗ lực này. Tuy nhiên, hiệu quả thực thi phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của vai trò của chính quyền địa phương và sự tham gia của cộng đồng. Bài viết sẽ làm rõ những điểm mạnh, hạn chế và bài học kinh nghiệm, tạo nền tảng cho các chiến lược thoát nghèo bền vững trong tương lai.

1.1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội huyện Vân Hồ

Huyện Vân Hồ có điều kiện tự nhiên huyện Vân Hồ phức tạp, địa hình chia cắt, đồi núi chiếm phần lớn diện tích. Đây là một bất lợi lớn cho việc phát triển nông nghiệp, nông thôn và xây dựng cơ sở hạ tầng. Dân số của huyện có đặc điểm nổi bật là tỷ lệ dân tộc thiểu số rất cao, chiếm tới 93,6%, bao gồm các dân tộc Thái, Mông, Mường, Dao. Trình độ dân trí không đồng đều và các phong tục tập quán canh tác lạc hậu cũng là rào cản cho sự phát triển kinh tế - xã hội huyện Vân Hồ. Mặc dù có tiềm năng về đất đai cho nông lâm nghiệp và du lịch, việc khai thác các tiềm năng này còn hạn chế. Nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp, quy mô nhỏ lẻ, giá trị gia tăng thấp, dẫn đến việc nâng cao thu nhập cho người dân gặp nhiều khó khăn.

1.2. Phân tích thực trạng nghèo đói và tỷ lệ hộ nghèo

Thực trạng nghèo đói tại Vân Hồ là một vấn đề nhức nhối. Theo tài liệu nghiên cứu, năm 2015, tỷ lệ hộ nghèo của huyện lên tới 50,87%, một con số rất cao so với mặt bằng chung của cả nước. Đa số các hộ nghèo, hộ cận nghèo tập trung ở các xã vùng sâu, vùng xa, nơi điều kiện sống và sản xuất khắc nghiệt nhất. Nguyên nhân nghèo đói mang tính đa chiều, bao gồm thiếu đất sản xuất, thiếu vốn, thiếu kiến thức khoa học kỹ thuật, và khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản như y tế, giáo dục còn hạn chế. Tình trạng tái nghèo cũng là một thách thức, khi nhiều hộ vừa thoát nghèo bền vững lại dễ dàng rơi trở lại tình trạng khó khăn do thiên tai, dịch bệnh hoặc các cú sốc kinh tế.

II. Thách thức trong công tác giảm nghèo bền vững tại Vân Hồ

Công tác xóa đói giảm nghèo tại Vân Hồ đối mặt với nhiều thách thức đan xen, đòi hỏi các giải pháp đồng bộ và quyết liệt. Thách thức lớn nhất đến từ chính các yếu tố nội tại của huyện. Điều kiện tự nhiên huyện Vân Hồ khắc nghiệt, giao thông đi lại khó khăn làm tăng chi phí sản xuất và hạn chế giao thương. Bên cạnh đó, nguồn lực đầu tư cho công tác giảm nghèo còn hạn chế, chủ yếu phụ thuộc vào ngân sách Trung ương và tỉnh. Sự phụ thuộc này khiến địa phương thiếu chủ động trong việc xây dựng các mô hình giảm nghèo hiệu quả phù hợp với đặc thù riêng. Một thách thức khác là nhận thức và năng lực của chính người dân. Một bộ phận hộ nghèo vẫn còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước, chưa chủ động vươn lên. Năng lực tiếp thu và áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn yếu, đặc biệt trong cộng đồng dân tộc thiểu số. Năng lực của đội ngũ cán bộ cơ sở cũng là một vấn đề, nhiều nơi còn thiếu và yếu, ảnh hưởng đến hiệu quả triển khai chính sách giảm nghèo từ cấp huyện xuống thôn, bản. Việc phối hợp giữa các ban ngành, đoàn thể đôi khi chưa chặt chẽ, dẫn đến sự chồng chéo hoặc bỏ sót đối tượng trong quá trình hỗ trợ.

2.1. Hạn chế về nguồn lực và sự phụ thuộc vào ngân sách

Vân Hồ là một huyện nghèo, nguồn thu tại chỗ rất thấp. Do đó, hầu hết nguồn lực cho công tác giảm nghèo đều trông chờ vào sự phân bổ từ ngân sách cấp trên. Sự phụ thuộc này tạo ra tính bị động trong việc lập kế hoạch và triển khai các dự án. Việc phân bổ vốn đôi khi còn chậm, chưa đáp ứng kịp thời nhu cầu cấp thiết của địa phương, đặc biệt là vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng. Nguồn vốn dàn trải cho nhiều chương trình, dự án cũng làm giảm hiệu quả đầu tư, khó tạo ra những đột phá thực sự trong phát triển kinh tế - xã hội huyện Vân Hồ.

2.2. Trở ngại từ đặc thù dân tộc thiểu số và địa hình

Với hơn 93% dân số là dân tộc thiểu số, các rào cản về ngôn ngữ, văn hóa và trình độ nhận thức là rất lớn. Việc tuyên truyền, phổ biến chính sách giảm nghèo gặp nhiều khó khăn. Các mô hình sản xuất mới cần có sự điều chỉnh để phù hợp với tập quán canh tác của bà con. Địa hình hiểm trở không chỉ cản trở việc xây dựng hạ tầng mà còn làm tăng chi phí vận chuyển vật tư nông nghiệp và tiêu thụ sản phẩm, trực tiếp ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế và nỗ lực nâng cao thu nhập cho người dân.

III. Phương pháp tổ chức thực thi chính sách giảm nghèo bền vững

Để giải quyết bài toán giảm nghèo bền vững tại Vân Hồ, chính quyền huyện đã áp dụng nhiều phương pháp tổ chức thực thi chính sách một cách linh hoạt. Luận văn chỉ ra rằng, chìa khóa thành công nằm ở việc cụ thể hóa các chủ trương của Trung ương và Tỉnh vào điều kiện thực tế của địa phương. Vai trò của chính quyền địa phương được thể hiện rõ nét qua việc xây dựng kế hoạch chi tiết, phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng ban ngành và UBND các xã. Công tác rà soát, xác định đúng đối tượng hộ nghèo, hộ cận nghèo được thực hiện nghiêm túc, đảm bảo chính sách đến đúng người, đúng địa chỉ. Chính quyền đã tập trung vào việc lồng ghép hiệu quả các nguồn vốn từ chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững và các chương trình phát triển kinh tế - xã hội khác. Việc đầu tư có trọng tâm, trọng điểm vào cơ sở hạ tầng thiết yếu như giao thông, thủy lợi, điện, trường học đã tạo ra đòn bẩy cho sự phát triển. Quá trình thực thi luôn có sự giám sát, kiểm tra thường xuyên để kịp thời phát hiện và chấn chỉnh những sai sót, đảm bảo tác động của chính sách là tích cực và thực chất.

3.1. Vai trò của chính quyền địa phương trong triển khai chương trình

Vai trò của chính quyền địa phương là yếu tố quyết định. UBND huyện Vân Hồ đã thành lập Ban chỉ đạo giảm nghèo, hoạt động như một cơ quan điều phối trung tâm. Ban chỉ đạo chịu trách nhiệm xây dựng kế hoạch hàng năm và 5 năm, chỉ đạo các xã triển khai, và tổ chức các lớp tập huấn nâng cao năng lực cho cán bộ cơ sở. Sự quyết tâm của lãnh đạo huyện đã truyền cảm hứng và tạo động lực cho cả hệ thống chính trị vào cuộc. Theo luận văn, sự sâu sát của cán bộ huyện, xã trong việc nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của người dân là yếu tố quan trọng giúp điều chỉnh chính sách kịp thời.

3.2. Phân bổ nguồn lực cho công tác giảm nghèo và hạ tầng

Việc phân bổ nguồn lực cho công tác giảm nghèo được thực hiện theo nguyên tắc ưu tiên cho các xã, bản đặc biệt khó khăn. Luận văn trích dẫn số liệu cho thấy vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng chiếm tỷ trọng lớn, từ 70% đến 86% tổng vốn chương trình 135 giai đoạn 2014-2017. Các công trình như đường giao thông nông thôn, kênh mương thủy lợi, nhà văn hóa được đầu tư đã góp phần thay đổi bộ mặt nông thôn, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất và sinh hoạt, là nền tảng cho việc thoát nghèo bền vững.

IV. Top mô hình giảm nghèo hiệu quả tại huyện Vân Hồ Sơn La

Bên cạnh các chính sách hỗ trợ vĩ mô, việc nhân rộng các mô hình giảm nghèo hiệu quả là hướng đi chiến lược để giảm nghèo bền vững tại Vân Hồ. Các mô hình này không chỉ giúp nâng cao thu nhập cho người dân mà còn thay đổi tư duy sản xuất, giúp họ tự chủ hơn trên chính mảnh đất của mình. Thay vì hỗ trợ trực tiếp, các chương trình tập trung vào việc cung cấp "cần câu" thông qua các dự án phát triển sản xuất. Các mô hình thành công thường gắn liền với việc khai thác lợi thế của địa phương và có sự liên kết với thị trường. Đa dạng hóa sinh kế được xem là nguyên tắc vàng, giúp các hộ gia đình giảm thiểu rủi ro khi một nguồn thu nhập bị ảnh hưởng. Luận văn đã phân tích một số mô hình tiêu biểu trong phát triển nông nghiệp, nông thôn như trồng cây ăn quả trên đất dốc, chăn nuôi gia súc theo hướng hàng hóa, hay phát triển các sản phẩm OCOP. Kinh nghiệm giảm nghèo từ các huyện lân cận như Mộc Châu cũng được nghiên cứu, áp dụng một cách sáng tạo, phù hợp với điều kiện của Vân Hồ, tạo ra những kết quả tích cực ban đầu.

4.1. Đa dạng hóa sinh kế Chìa khóa nâng cao thu nhập

Chính sách đa dạng hóa sinh kế được triển khai thông qua việc hỗ trợ người dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi. Thay vì độc canh cây ngô, lúa nương, nhiều hộ đã chuyển sang trồng mận, đào, chanh leo... những loại cây có giá trị kinh tế cao hơn. Các dự án hỗ trợ con giống, vật tư, tập huấn kỹ thuật chăn nuôi bò, dê đã giúp nhiều hộ nghèo có thêm nguồn thu nhập ổn định. Mô hình kinh tế vườn - ao - chuồng - rừng (VACR) cũng được khuyến khích, tận dụng tối đa tài nguyên đất đai và lao động tại chỗ.

4.2. Phát triển nông nghiệp nông thôn gắn với thị trường

Một trong những yếu tố then chốt của các mô hình giảm nghèo hiệu quả là phải gắn sản xuất với nhu cầu thị trường. Chính quyền huyện đã hỗ trợ việc thành lập các hợp tác xã, tổ hợp tác để kết nối các hộ sản xuất nhỏ lẻ với doanh nghiệp. Việc xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm nông sản đặc trưng của Vân Hồ cũng được chú trọng. Cách làm này không chỉ giúp đảm bảo đầu ra ổn định mà còn nâng cao giá trị sản phẩm, mang lại lợi nhuận cao hơn cho người nông dân, góp phần thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo một cách bền vững.

V. Đánh giá kết quả và tác động của chính sách giảm nghèo

Việc tổ chức thực thi các chính sách giảm nghèo trong giai đoạn 2014-2017 đã mang lại những kết quả đáng ghi nhận cho huyện Vân Hồ. Tác động của chính sách thể hiện rõ nhất qua sự thay đổi bộ mặt cơ sở hạ tầng và sự cải thiện đời sống của người dân. Luận văn chỉ ra, nhờ nguồn vốn từ các chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, hàng loạt công trình đường giao thông, trường học, trạm y tế, thủy lợi đã được xây dựng và đưa vào sử dụng. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho giao thương, sản xuất và giúp người dân, đặc biệt là trẻ em, tiếp cận tốt hơn các dịch vụ xã hội cơ bản. Tỷ lệ hộ nghèo đã giảm dần qua các năm, từ 50,8% năm 2015 xuống còn 44,1% năm 2017. Mặc dù tốc độ giảm chưa nhanh như kỳ vọng, đây là một nỗ lực rất lớn trong bối cảnh một huyện còn nhiều khó khăn. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực, quá trình thực thi vẫn còn những hạn chế. Chất lượng giảm nghèo chưa thực sự vững chắc, nguy cơ tái nghèo còn cao. Một số công trình hạ tầng hiệu quả sử dụng chưa như mong đợi. Đây là những bài học quan trọng để hoàn thiện các giải pháp giảm nghèo trong giai đoạn tiếp theo.

5.1. Chuyển biến tích cực về cơ sở hạ tầng và an sinh xã hội

Trong giai đoạn 2014-2017, huyện đã khởi công 40 công trình hạ tầng, trong đó 28 công trình đã hoàn thành. Các công trình này đã giải quyết những nhu cầu cấp bách nhất của người dân. Hệ thống an sinh xã hội tại Sơn La, cụ thể là tại Vân Hồ, cũng được củng cố. 100% người thuộc hộ nghèo được cấp thẻ bảo hiểm y tế, học sinh nghèo được miễn giảm học phí và hỗ trợ chi phí học tập. Những chính sách này đã giảm bớt gánh nặng cho các gia đình khó khăn, giúp họ có điều kiện chăm sóc sức khỏe và đầu tư cho giáo dục.

5.2. Thống kê tỷ lệ thoát nghèo bền vững giai đoạn 2014 2017

Theo số liệu được trích dẫn trong luận văn, trong giai đoạn 2015-2017, toàn huyện có 986 hộ thoát nghèo bền vững. Con số này phản ánh nỗ lực chung của cả hệ thống chính trị và người dân. Tuy nhiên, số hộ thoát nghèo có mức thu nhập sát chuẩn nghèo còn lớn. Điều này cho thấy tính bền vững của kết quả giảm nghèo vẫn là một thách thức lớn. Việc tiếp tục hỗ trợ các hộ mới thoát nghèo để họ không tái nghèo là một nhiệm vụ quan trọng.

VI. Hướng đi tương lai cho giảm nghèo bền vững tại Vân Hồ

Trên cơ sở phân tích thực trạng và kinh nghiệm giảm nghèo, luận văn đã đề xuất những hướng đi mang tính chiến lược cho công tác giảm nghèo bền vững tại Vân Hồ đến năm 2025. Trọng tâm của các giải pháp là chuyển từ giảm nghèo đơn chiều sang đa chiều, không chỉ tập trung vào thu nhập mà còn cả việc tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách theo hướng tăng cường phân cấp, trao quyền cho cơ sở và cộng đồng, phát huy tính chủ động, sáng tạo của người dân. Một trong những giải pháp giảm nghèo quan trọng là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, bao gồm cả đội ngũ cán bộ làm công tác giảm nghèo và chính người dân. Việc đào tạo nghề gắn với nhu cầu của doanh nghiệp và thị trường lao động cần được đẩy mạnh. Bên cạnh đó, cần huy động đa dạng các nguồn lực xã hội, không chỉ trông chờ vào ngân sách nhà nước, để tạo ra sức mạnh tổng hợp cho công cuộc xóa đói giảm nghèo. Những kiến nghị đối với chính quyền tỉnh Sơn La và Trung ương cũng được đưa ra nhằm tháo gỡ những vướng mắc về cơ chế, chính sách, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho Vân Hồ trong hành trình vươn lên.

6.1. Đề xuất giải pháp giảm nghèo toàn diện đến năm 2025

Các giải pháp giảm nghèo được đề xuất bao gồm: (1) Tiếp tục đầu tư đồng bộ cơ sở hạ tầng, ưu tiên các công trình có tính kết nối, lan tỏa. (2) Đẩy mạnh tái cơ cấu nông nghiệp, nhân rộng các mô hình giảm nghèo hiệu quả và xây dựng chuỗi giá trị cho sản phẩm chủ lực. (3) Tăng cường tín dụng chính sách, giúp người nghèo có vốn sản xuất. (4) Nâng cao hiệu quả công tác truyền thông, thay đổi nhận thức, khơi dậy ý chí tự vươn lên của người nghèo.

6.2. Nâng cao năng lực cán bộ và cộng đồng để thoát nghèo

Yếu tố con người là quyết định. Cần thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng cho đội ngũ cán bộ làm công tác giảm nghèo ở cấp xã, bản. Đồng thời, phải tăng cường các hoạt động khuyến nông, khuyến lâm, chuyển giao khoa học kỹ thuật trực tiếp cho người dân. Việc phát huy vai trò của các già làng, trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng dân tộc thiểu số trong việc vận động, hướng dẫn bà con làm kinh tế là một giải pháp hiệu quả và cần được nhân rộng.

15/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ TỔ CHỨC THỰC THI CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP HUYỆN 1. Chính sách giảm nghèo bền vững 1. Khái niệm nghèo và giảm nghèo bền vững 1. Khái niệm về nghèo Theo nghĩa hẹp nghèo khổ được hiểu là sự thiếu thốn về các điều kiện thiết yếu của cuộc sống.

Tuy vậy, nghèo khổ cần được hiểu theo nghĩa rộng hơn từ khía cạnh về phát triển toàn diện con người, tức là nghèo khổ xét theo góc độ đa chiều là việc loại bỏ các cơ hội và sự lựa chọn cơ bản nhất cho phát triển toàn diện con người. Nghèo đói đa chiều được đề cập trong Báo cáo phát triển con người năm 1997 là nghèo khổ tổng hợp hay nghèo khổ con người. Khác với quan niệm nghèo khổ vật chất thì nghèo khổ tổng hợp đề cập đến sự phủ nhận các cơ hội và sự lựa chọn để đảm bảo một cuộc sống cơ bản nhất hoặc có thể chấp nhận được. Theo đó, nghèo khổ được tính đến điều kiện khó khăn trong phát triển con người, ví dụ như cuộc đời ngắn ngủi, thiếu giáo dục cơ bản và thiếu sự tiếp cận đến các nguồn lực tư nhân và của xã hội.

Cách tiếp cận về nghèo đói đa chiều giúp cho các nhà hoạch định chính sách đưa ra các chính sách giảm nghèo bền vững như hỗ trợ người nghèo thoát nghèo không chỉ về vật chất mà xóa nghèo về con người và nghèo về xã hội. Để đánh giá nghèo khổ đa chiều UNDP sử dụng chỉ số HPI (Human poor index) và Chỉ số nghèo tổng hợp (MPI – Multidimensional Poverty Index). HPI là chỉ số lần đầu tiên được đưa ra trong Báo cáo phát triển con người năm 1997 nhằm cố gắng tập hợp các đặc tính khác nhau về khía cạnh chất lượng cuộc sống con người vào trong một chỉ số tổng hợp để tiến tới một sự đánh giá tổng hợp về mức 9 độ nghèo khổ của một cộng đồng. Chỉ số nghèo khổ tổng hợp (MPI) được giới thiệu trong Báo cáo phát triển con người năm 2010.

Về cơ bản ý nghĩa và các tiêu chí cấu thành chỉ số nghèo khổ tổng hợp mới vẫn không thay đổi, tức là nó phản ánh mức độ thiếu hụt của mỗi cá nhân theo 3 phương diện: sức khỏe, giáo dục và chất lượng cuộc sống. Tuy vậy, chỉ số này có hoàn thiện hơn về nội dung và cách tính toán. Các yếu tố cấu thành mỗi tiêu chí có hoàn thiện theo hướng đưa vào nhiều nội dung hơn, cụ thể, bao gồm 10 phần tương ứng với 3 phương diện. Phương diện sức khỏe, bao gồm hai thành phần: tình trạng suy dinh dưỡng và chết yểu; phương diện giáo dục gồm hai thành phần là tình trạng không học hết lớp 5 và trẻ em không được đến trường; phương diện chất lượng sống bao gồm 6 thành phần: tình trạng không được sử dụng điện, nước sạch, nhà vệ sinh, nhà cửa tồi tàn, sử dụng nguyên liệu đun nấu và không có phương tiện đi lại tối thiểu.

Khái niếm về giảm nghèo bền vững Cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về giảm nghèo bền vững hay giảm nghèo theo hướng bền vững. Tuy nhiên vấn đề giảm nghèo luôn được đề cập đến khi nói đến phát triển bền vững, giảm nghèo bền vững là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên sự phát triển bền vững. Ngược lại, phát triển kinh tế bền vững lại là cơ sở, điều kiện để giảm nghèo bền vững. Về cơ bản, giải quyết nghèo đói nói chung trước hết cần đảm bảo cả 2 mặt: mặt số lượng và mặt chất lượng.

Số lượng giảm nghèo sẽ là số tuyệt đối hộ nghèo giảm được trong một thời gian (thường được xem xét trong 1 năm, 5 năm). Chất lượng giảm nghèo là khái niệm để chỉ thực chất của kết quả giảm nghèo, mà vấn đề cần đạt được là đời sống người nghèo được nâng lên sau khi có tác động hỗ trợ, khoảng cách thu nhập với các nhóm dân cư khác được rút ngắn về mặt tốc độ, khi gặp rủi ro hay bất trắc sẽ không bị rơi lại vào tình trạng nghèo đói, hay nói cách khác, chất lượng giảm nghèo suy cho cùng là phản ảnh tính bền vững của quá trình giảm nghèo. Không thể giúp người nghèo bằng cách tặng nhà, tặng phương tiện sống. Đây là cách giảm nghèo, xóa nghèo nhanh nhưng chỉ tức thời, không bền vững.

Muốn giảm nghèo, xóa nghèo bền vững thì Nhà nước, cơ quan chức năng cần phải 10 cấp cho người nghèo một phương thức phát triển mới mà tự họ không thể tiếp cận và duy trì. Bên cạnh đó là sự hỗ trợ, ngăn ngừa, loại trừ các yếu tố gây rủi ro chứ không chỉ là sự nỗ lực khắc phục hậu quả sau rủi ro. Đặc biệt, sự hỗ trợ giảm nghèo này phải được xác lập trên nguyên tắc ưu tiên cho các vùng có khả năng, điều kiện thoát nghèo nhanh và có thể lan tỏa sang các vùng lân cận. Tác giả luận văn đồng ý với quan niệm trên về giảm nghèo bền vững.

Đây chính là việc tặng “cần câu” thay vì tặng “xâu cá”. Bên cạnh đó còn tạo cho họ khả năng tự biết tìm cách nuôi cá thay vì chỉ đi câu…tạo ra sự chủ động trong việc thoát nghèo bằng chính năng lực của mình chứ không chỉ trông chờ vào sự hỗ trợ của cộng đồng. Bên cạnh đó cần có biện pháp giúp họ phòng ngừa rủi ro, để tự họ có thể khắc phục rủi ro như họ có thể tự chuyển đổi phương thức sản xuất khi phương thức cũ không còn phù hợp, có thể tìm được việc làm mới, xây dựng lại nhà cửa sau thiên tai. Muốn vậy, người nghèo cần được tiếp cận và duy trì với các loại dịch vụ giáo dục, y tế, văn hóa, pháp lý… Ngoài ra, những chương trình giảm nghèo đặc thù cho những đối tượng cụ thể, một số vùng nhằm xác định nhằm tạo sức lan tỏa là hết sức cần thiết trong điều kiện nguồn lực hạn chế như của chúng ta hiện nay.

Do vậy, quan điểm giảm nghèo bền vững ở nước ta chính là cần nắm bắt được các xu hướng và đặc điểm vận động của các nhân tố tác động đến chất lượng của giảm nghèo và giải quyết đồng thời tất cả những bài toán, bất cập nêu trên. Khái niệm và mục tiêu của chính sách giảm nghèo bền vững 1. Khái niệm về chính sách giảm nghèo bền vững Chính sách giảm nghèo bền vững là chính sách chiến lược phát triển kinh tế - xã hội để tạo điều kiện cho người nghèo tiếp cận tốt hơn các dịch vụ xã hội cơ bản; cơ sở hạ tầng của các huyện, xã nghèo được tăng cường; đời sống người nghèo được cải thiện. Mục tiêu của chính sách giảm nghèo bền vững * Mục tiêu tổng quát: Giảm nghèo bền vững là một trọng tâm của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 nhằm cải thiện và từng bước nâng cao điều kiện sống của người nghèo, trước hết là ở khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; 11 tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện ở các vùng nghèo; thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư.

* Mục tiêu cụ thể: - Thu nhập bình quân đầu người của các hộ nghèo tăng; tỷ lệ hộ nghèo cả nước giảm. - Điều kiện sống của người nghèo được cải thiện rõ rệt, trước hết là về y tế, giáo dục, văn hóa, nước sinh hoạt, nhà ở; người nghèo tiếp cận ngày càng thuận lợi hơn các dịch vụ xã hội cơ bản. - Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội ở các huyện nghèo; xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn được tập trung đầu tư đồng bộ theo tiêu chí nông thôn mới, trước hết là hạ tầng thiết yếu như: giao thông, điện, nước sinh hoạt. Chủ thể và đối tượng của chính sách giảm nghèo bền vững 1.

Chủ thể của chính sách giảm nghèo bền vững Có 3 chủ thể chính thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững đó là: cơ quan nhà nước; người nghèo và các tổ chức kinh tế, xã hội, chính trị. Ở Việt Nam, Chương trình giảm nghèo bền vững là một chương trình MTQG nên cơ quan nhà nước các cấp tham gia với tư cách tổ chức điều hành. Theo đó, UBND các cấp quyết định thành lập Ban Chỉ đạo giảm nghèo từ Trung ương đến địa phương gồm các thành viên kiêm nhiệm lấy từ các cơ quan chức năng của Nhà nước như: Phòng Lao động Thương binh và Xã hội; Phòng Tài chính- Kế hoạch, Phòng Tài nguyên- Môi trường, Phòng Kinh tế và Hạ tầng, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ngân hàng Chính sách Xã hội, mời Mặt trận Tổ quốc và các hội đoàn thể cùng cấp tham gia tuyên truyền vận động và giám sát việc thực hiện các chính sách giảm nghèo. Người nghèo có thể tham gia chính sách ở tư thế cung cấp thông tin xác định mức đói nghèo, đối tượng đói nghèo, thông tin về kết quả chính sách, thông tin về tác động của công cụ chính sách.

Thông tin do người nghèo cung cấp có ý nghĩa quan trọng trong hoạch định, thực thi và đánh giá chính sách xóa đói, giảm nghèo bởi đây là những nguồn thông tin gốc, phản ảnh trung thực tình hình 12 thực tế tại địa phương. Các tổ chức kinh tế, chính trị, xã hội có thể tham gia thực hiện chính sách giảm nghèo với tư cách là người tài trợ hoặc phối hợp hành động. Đa số các doanh nghiệp thích hình thức tài trợ hơn vì họ không có thời gian và không có khả năng tham gia trực tiếp vào các hoạt động chính sách. Việc xã hội hóa công tác giảm nghèo thông qua các tổ chức, doanh nghiệp không mang lại hiệu quả cao.

Các bên liên quan trong thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững Tại điểm 2, Điều 59, Hiến pháp Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định: “Nhà nước tạo bình đẳng về cơ hội để công dân thụ hưởng phúc lợi xã hội, phát triển hệ thống an sinh xã hội, có chính sách trợ giúp người cao tuổi, người khuyết tật, người nghèo và người có hoàn cảnh khó khăn khác”. Cơ cấu tổ chức bộ máy thực hiện Chương trình giảm nghèo bền vững ở nước ta được quy định như sau: Chính phủ thống nhất quản lý, chỉ đạo điều hành thực hiện chương trình giảm nghèo. Thủ tướng Chính phủ thành lập Ban Chỉ đạo chương trình giảm nghèo do Phó Thủ tướng Chính phủ làm Trưởng ban, thành viên là lãnh đạo các Bộ, ngành.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ