Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 1. Một số vấn đề lý luận về lao động nông thôn và xuất khẩu lao động nông thôn 1. Khái niệm cơ bản 1. Lao động và lao động nông thôn Lao động là hoạt động có mục đích của con người, thông qua hoạt động đó con người tác động vào giới tự nhiên, cải biến chúng thành những vật có ích nhằm phục vụ mục đích nào đó của con người (Trần Xuân Cầu, Mai Quốc Chánh, 2008, tr.
Lao động nông thôn là toàn bộ những hoạt động lao động sản xuất tạo ra của cải vật chất của những người lao động ở khu vực nông thôn (Dương Ngọc Thành, Nguyễn Minh Hiếu, 2014). Lao động nông thôn bao gồm lao động trong các ngành nông nghiệp, công nghiệp nông thôn và dịch vụ nông thôn. Hoạt động lao động nói chung và lao động nông thôn nói riêng có 3 đặc trưng cơ bản: - Xét về tính chất, hoạt động lao động phải có mục đích (có ý thức) của con người. - Xét về mục đích, hoạt động lao động phải tạo ra sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người.
- Xét về nội dung, hoạt động lao động phải là sự tác động vào tự nhiên làm biến đổi tự nhiên và xã hội nhằm tạo ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ lợi ích của con người. Sức lao động Sức lao động là phạm trù chỉ khả năng lao động của con người, là tổng hợp thể lực và trí lực của con người được con người vận dụng trong quá trình lao động.Mác thì sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong một cơ thể, trong một con người đang sống và được người đó đem ra vận dụng khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó (Trần Xuân Cầu, Mai Quốc Chánh, 2008, tr. Sức lao động của con người được thể hiện: - Khả năng về thể chất (thể lực): chỉ rõ khả năng làm việc chân tay, được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu như chiều cao, cân nặng, thị lực, thính lực… download by : skknchat@gmail.com 5 - Khả năng về tinh thần (trí lực): chỉ rõ khả năng làm việc trí tuệ, được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu về trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn, kinh nghiệm công tác… Sức lao động là điều kiện đầu tiên cần thiết trong quá trình lao động xã hội. Trên thị trường lao động, sức lao động được coi là hàng hoá.
Đây là hàng hoá đặc biệt vì bản thân con người có tư duy, tự làm chủ, nói cách khác con người là chủ thể lao động. Thông qua thị trường lao động, sức lao động được xác định giá cả. Nguồn lao động và nguồn lao động nông thôn Nguồn lao động được hiểu là một bộ phận dân cư bao gồm những người trong độ tuổi lao động (không kể những người mất khả năng lao động) và những người ngoài độ tuổi lao động thực tế có tham gia lao động (Phạm Quốc Chính, 2008). Cần phân biệt nguồn lao động với dân số trong độ tuổi lao động.
Cả hai thuật ngữ trên đều giới hạn độ tuổi lao động theo luật định của mỗi nước, nhưng nguồn lao động chỉ bao gồm những người có khả năng lao động trong khi dân số trong độ tuổi lao động còn bao gồm dân số trong độ tuổi lao động nhưng không có khả năng lao động như tàn tật, mất sức lao động bẩm sinh hoặc do các nguyên nhân: chiến tranh, tai nạn giao thông, tai nạn lao động… Việc quy định độ tuổi lao động ở các nước khác nhau là khác nhau. Căn cứ để xác định độ tuổi lao động: - Sức khoẻ của người dân. - Trình độ phát triển kinh tế, xã hội… Ở Việt Nam, căn cứ vào Điều 3 của Bộ Luật lao động nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2012 “Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động.” và Điều 187 “Người lao động bảo đảm điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội được hưởng lương hưu khi nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi…” Căn cứ vào đó, độ tuổi lao động của người Việt Nam như sau: - Nam từ đủ 15 tuổi đến đủ 60 tuổi. - Nữ từ đủ 15 tuổi đến đủ 55 tuổi.
download by : skknchat@gmail.com 6 Từ những phân tích trên, ta có thể hiểu nguồn lao động nông thôn là một bộ phận dân số sinh sống và làm việc ở nông trong độ tuổi lao động theo qui định của pháp luật (nam từ 16 đến 60 tuồi, nữ từ 16 đến 55 tuổi) có khả năng. Lực lượng lao động ở nông thôn là bộ phận của nguồn lao động ở nông thôn bao gồm hững người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, đang có việc làm và những người có thất nghiệp nhưng có nhu cầu tìm việc làm. Việc làm, thất nghiệp và tạo việc làm - Việc làm: Theo điều 9, Bộ luật lao động năm 2012: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm”. Trên thực tế việc làm nêu trên được thể hiện dưới 3 hình thức: + Một là, làm công việc để nhận tiền lương, tiền công hoặc hiện vật cho công việc đó.
+ Hai là, làm công việc để thu lợi cho bản thân mà bản thân lại có quyền sử dụng hoặc quyền sở hữu (một phần hay toàn bộ) tư liệu sản xuất để tiến hành công việc đó. + Ba là, làm các công việc cho hộ gia đình mình nhưng không được trả thù lao dưới hình thức tiền lương, tiền công cho công việc đó. Bao gồm sản xuất nông nghiệp, hoạt động kinh tế phi nông nghiệp do chủ hộ hoặc 1 thành viên khác trong gia đình có quyền sử dụng, sở hữu hoặc quản lý. - Thất nghiệp là tình trạng người muốn có việc làm mà không tìm được việc làm (Nguyễn Văn Công, 2009).
Như vậy, thất nghiệp bao gồm những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, chưa có việc làm và đang tìm việc làm. Một số nhà kinh tế học giải thích thất nghiệp theo các cách khác nhau, nhấn mạnh rằng nhu cầu yếu sẽ dẫn đến cắt giảm sản xuất và sa thải công nhân (thất nghiệp chu kỳ). Một số khác chỉ rằng các vấn đề về cơ cấu ảnh hưởng (thất nghiệp cơ cấu). Kinh tế học cổ điển và tân cổ điển có xu hướng lý giải áp lực thị trường đến từ bên ngoài, như mức, các quy định hạn chế thuê mướn người lao động (thất nghiệp thông thường).
Có ý kiến lại cho rằng thất nghiệp chủ yếu là sự lựa chọn tự nguyện. Chủ nghĩa Mác giải thích theo hướng thất nghiệp là thực tế giúp duy trì lợi nhuận doanh nghiệp và chủ nghĩa tư bản. Các quan điểm khác nhau có thể đúng theo những cách khác nhau, góp phần đưa ra cái nhìn toàn diện về tình trạng thất nghiệp. download by : skknchat@gmail.com 7 - Tạo việc làm là quá trình tạo ra số lượng và chất lượng tư liệu sản xuất; số lượng và chất lượng sức lao động và các điều kiện kinh tế xã hội cần thiết khác để kết hợp tư liệu sản xuất và sức lao động.
Như vậy, muốn tạo việc làm cần 3 yếu tố cơ bản: tư liệu sản xuất, sức lao động và các điều kiện kinh tế, xã hội khác để kết hợp tư liệu sản xuất và sức lao động. Ba yếu tố này lại chịu tác động của nhiều yếu tố khác. Thị trường lao động (TTLĐ) Theo Leo Maglen ( chuyên gia tư vấn của Dự án Giáo dục kỹ thuật dạy nghề của Tổng cục dạy nghề do Ngân hàng phát triển Châu Á - ADB tài trợ): “Thị trường lao động là một hệ thống trao đổi giữa những người có việc làm hoặc người đang tìm việc làm (cung lao động) với những người đang sử dụng lao động hoặc đang tìm kiếm lao động để sử dụng (cầu lao động)”. Theo Tổ chức Lao động quốc tế (viết tắt là ILO): “Thị trường lao động là thị trường trong đó các dịch vụ lao động được mua bán thông qua một quá trình thoả thuận để xác định mức độ có việc làm của lao động, cũng như mức độ tiền công”.
Theo “Đại Từ điển kinh tế thị trường” (1988): “Thị trường lao động là nơi mua bán sức lao động diễn ra giữa người lao động (cung lao động) và người sử dụng lao động (cầu lao động)”. Từ các định nghĩa trên kết hợp với thực tiễn Việt Nam có thể nêu lên một định nghĩa khái quát về thị trường lao động như sau: “Thị trường lao động là nơi mà người có nhu cầu tìm việc làm và người có nhu cầu sử dụng lao động trao đổi với nhau, mua bán dịch vụ lao động thông qua các hình thức xác định giá cả (tiền công, tiền lương) và các điều kiện thoả thuận khác (thời gian làm việc, điều kiện lao động, bảo hiểm xã hội.) trên cơ sở một hợp đồng lao động bằng văn bản hoặc bằng miệng, hoặc thông qua các dạng hợp đồng hay thoả thuận khác” Trên thị trường lao động, mối quan hệ được thiết lập giữa một bên là người lao động và một bên là người sử dụng lao động. Qua đó, quan hệ cung - cầu về lao động ảnh hưởng tới tiền công lao động và ngược lại, mức tiền công lao động cũng ảnh hưởng tới cung - cầu lao động. Khi cung và cầu lao động gặp nhau và hoạt động mua bán hay thuê mướn sức lao động diễn ra trong phạm vi biên giới một quốc gia, đó được gọi là thị trường lao động nội địa; nếu diễn ra ở ngoài biên giới quốc gia download by : skknchat@gmail.com 8 một nước thì gọi là thị trường lao động quốc tế.
Đứng từ góc độ của Việt Nam là nước xuất khẩu lao động (XKLĐ), thì thị trường nhập khẩu lao động (NKLĐ) được hiểu theo nghĩa chung nhất, là một bộ phận của thị trường lao động quốc tế mà nó được hình thành từ tổng cầu lao động nước ngoài trên thị trường trong nước và tổng cung mà thị trường lao động quốc tế đáp ứng. Hoạt động XKLĐ trên thị trường lao động quốc tế được thực hiện chủ yếu dựa vào quan hệ cung - cầu lao động, chịu tác động và chịu sự điều tiết của các quy luật thị trường. Bên cung lao động (hay thị trường XKLĐ) tính toán giá cả lao động, tìm nguồn lao động có chất lượng, đào tạo huấn luyện lao động… để nhằm mục đích cuối cùng là xuất khẩu được nhiều lao động.