Luận văn thạc sĩ: Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu lao động nông thôn tỉnh Bắc Kạn

Luận văn phân tích thực trạng, đề xuất các giải pháp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu lao động khu vực nông thôn tại tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2014-2016.

Chuyên ngành

Quản trị kinh doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

99
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG NÔNG THÔN

1.1. Một số vấn đề lý luận về lao động nông thôn và xuất khẩu lao động nông thôn

1.1.1. Khái niệm cơ bản

1.1.2. Đặc điểm của nguồn lao động nông thôn

1.1.3. Xuất khẩu lao động nông thôn

1.1.4. Vai trò của xuất khẩu lao động đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở các vùng nông thôn

1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu lao động nông thôn

1.2.1. Các nhân tố khách quan

1.2.2. Các nhân tố chủ quan

1.3. Kinh nghiệm thực tiễn trong xuất khẩu lao động của một số địa phương ở nước ta

1.3.1. Kinh nghiệm của một số tỉnh

1.3.2. Những bài học có thể vận dụng đối với tỉnh Bắc Kạn

2. Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Câu hỏi nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Phương pháp tiếp cận

2.2.2. Phương pháp thu thập thông tin

2.2.3. Phương pháp phân tích số liệu

2.3. Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu

2.3.1. Các chỉ tiêu định lượng

2.3.2. Các chỉ tiêu định tính

3. Chương 3: THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA TỈNH BẮC KẠN TRONG THỜI GIAN QUA

3.1. Giới thiệu chung về tỉnh Bắc Kạn

3.1.1. Vị trí địa lý

3.1.2. Đặc điểm địa hình

3.1.3. Điều kiện tự nhiên

3.2. Tình hình lao động khu vực nông thôn của tỉnh

3.3. Thực trạng hoạt động xuất khẩu lao động của tỉnh Bắc Kạn trong thời gian qua

3.3.1. Quan điểm của Tỉnh về XKLĐ

3.3.2. Các ban ngành của Tỉnh tham gia vào công tác XKLĐ

3.3.3. Những đơn vị tham gia vào XKLĐ

3.3.4. Mô hình liên kết XKLĐ

3.3.5. Các chính sách hỗ trợ người lao động đi làm việc ở nước ngoài

3.4. Kết quả XKLĐ ở nông thôn của tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2014 - 2016

3.5. Đánh giá công tác quản lý hoạt động xuất khẩu lao động của tỉnh Bắc Kạn hiện nay

3.5.1. Công tác thông tin, tuyên truyền

3.5.2. Công tác tuyển dụng, giáo dục định hướng, dạy nghề

3.5.3. Tình hình hỗ trợ tài chính cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài

3.5.4. Tình hình đời sống, thu nhập của người lao động

3.6. Các nhân tố tác động đến hoạt động xuất khẩu lao động của tỉnh Bắc Kạn

3.6.1. Nhân tố khách quan

3.6.2. Nhân tố chủ quan

3.7. Nhu cầu và nguyện vọng của người lao động tham gia thị trường xuất khẩu lao động

3.7.1. Mức độ quan tâm của người lao động đối với XKLĐ

3.7.2. Lí do người lao động tham gia thị trường XKLĐ

3.7.3. Mức độ cần thiết khi tham gia thị trường XKLĐ

3.7.4. Các thị trường mà người lao động lựa chọn

3.7.5. Các vấn đề người lao động lo ngại khi tham gia XKLĐ

3.8. Đánh giá chung về hoạt động XKLĐ ở nông thôn của tỉnh Bắc Kạn

3.8.1. Những kết quả đã đạt được

3.8.2. Những hạn chế, tồn tại và nguyên nhân

4. Chương 4: GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG KHU VỰC NÔNG THÔN TỈNH BẮC KẠN

4.1. Mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu của tỉnh với việc xuất khẩu lao động trong thời gian tới

4.1.1. Nhiệm vụ chủ yếu

4.2. Điểm mạnh, điểm yếu và các cơ hội, đe dọa tác động đến xuất khẩu lao động của tỉnh Bắc Kạn

4.2.1. Bối cảnh thị trường lao động thế giới

4.3. Các giải pháp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu lao động khu vực nông thôn tỉnh Bắc Kạn

4.3.1. Ma trận SWOT đối với hoạt động xuất khẩu lao động của tỉnh Bắc Kạn

4.3.2. Các giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu lao động tỉnh Bắc Kạn

4.4. Một số kiến nghị

4.4.1. Đối với cơ quan quản lý nhà nước về XKLĐ ở trung ương (Bộ, ngành)

4.4.2. Đối với các đơn vị, ban ngành của Tỉnh

4.4.3. Đối với các doanh nghiệp XKLĐ

4.4.4. Đối với bản thân người lao động và gia đình

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Vai trò của xuất khẩu lao động tỉnh Bắc Kạn và tiềm năng

Xuất khẩu lao động (XKLĐ) được xác định là một hướng đi chiến lược, đóng vai trò then chốt trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Kạn. Hoạt động này không chỉ giải quyết bài toán việc làm cho lao động địa phương mà còn tạo ra nguồn ngoại tệ quan trọng, góp phần vào công cuộc giảm nghèo bền vững. Bắc Kạn, một tỉnh miền núi với nguồn nhân lực tỉnh Bắc Kạn dồi dào, đặc biệt là lao động nông thôn, sở hữu tiềm năng lớn để phát triển lĩnh vực này. Tuy nhiên, để biến tiềm năng thành kết quả thực tiễn, cần có một sự phân tích sâu sắc về đặc điểm nguồn lao động và tầm quan trọng của XKLĐ trong bối cảnh hiện tại. Việc hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn là bước đầu tiên để xây dựng các giải pháp đột phá, giúp Bắc Kạn vươn lên trên bản đồ XKLĐ quốc gia.

1.1. Tầm quan trọng của XKLĐ đối với kinh tế xã hội tỉnh

Luận văn của Nguyễn Hoàng Anh (2018) khẳng định vai trò của XKLĐ là đa diện, tác động tích cực đến cả kinh tế và xã hội. Về mặt kinh tế, XKLĐ là kênh thu hút ngoại tệ hiệu quả, tăng thu nhập cho người dân và giảm áp lực đầu tư công để tạo việc làm trong nước. Người lao động đi làm việc ở nước ngoài có thể đạt thu nhập cao hơn từ 6 đến 10 lần so với làm việc tại địa phương. Về mặt xã hội, hoạt động này góp phần giải quyết tình trạng thất nghiệp, đặc biệt ở khu vực nông thôn, nơi có tỷ lệ thất nghiệp gần 6,0% (cao hơn nhiều so với mức trung bình cả nước). Hơn nữa, XKLĐ giúp người lao động tiếp cận với công nghệ tiên tiến, rèn luyện tác phong công nghiệp và kỷ luật lao động, từ đó nâng cao chất lượng lao động cho tỉnh khi họ trở về. Đây là một giải pháp quan trọng giúp cải thiện đời sống, ổn định trật tự xã hội và tăng cường giao lưu văn hóa quốc tế.

1.2. Phân tích nguồn nhân lực tỉnh Bắc Kạn hiện có

Tỉnh Bắc Kạn có nguồn lao động dồi dào với khoảng 193 nghìn người trong độ tuổi lao động, trong đó lao động nông thôn chiếm tới 73,8% (khoảng 142 nghìn người). Đặc điểm nổi bật của nguồn nhân lực này là sự trẻ trung và khỏe mạnh. Tuy nhiên, chất lượng nguồn lao động lại là một thách thức lớn. Theo số liệu của Sở LĐ-TB&XH, có tới 59,3% lao động nông thôn chưa qua đào tạo, và chỉ 16,8% đã qua đào tạo có bằng cấp. Điều này cho thấy cơ cấu lao động còn lạc hậu, trình độ chuyên môn thấp, chủ yếu là lao động giản đơn. Phần lớn lao động, bao gồm cả lao động dân tộc thiểu số, còn mang nặng tư duy sản xuất nông nghiệp tự cấp, tự túc, thiếu tác phong công nghiệp. Đây vừa là tiềm năng về số lượng, vừa là thách thức về chất lượng mà các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu lao động Bắc Kạn cần tập trung giải quyết.

II. Thực trạng xuất khẩu lao động Bắc Kạn và các thách thức

Phân tích thực trạng XKLĐ Bắc Kạn trong giai đoạn vừa qua cho thấy những kết quả ban đầu đáng ghi nhận nhưng cũng bộc lộ nhiều hạn chế và thách thức. Mặc dù tỉnh đã có nhiều nỗ lực trong công tác tuyên truyền và hỗ trợ, số lượng lao động đi làm việc ở nước ngoài vẫn còn khiêm tốn so với tiềm năng. Các rào cản về chất lượng lao động, trình độ ngoại ngữ, kỹ năng nghề nghiệp và những rủi ro trong xuất khẩu lao động vẫn là những vấn đề nan giải. Việc đánh giá một cách khách quan những kết quả đạt được, chỉ ra các tồn tại và nguyên nhân là cơ sở quan trọng để xây dựng các giải pháp mang tính đột phá, phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương.

2.1. Đánh giá kết quả XKLĐ Bắc Kạn giai đoạn 2014 2016

Theo số liệu từ Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Bắc Kạn, trong giai đoạn 2014-2016, tỉnh duy trì được số lượng lao động nông thôn đi XKLĐ ở mức khoảng 300 người mỗi năm. Cụ thể, năm 2014 có 300 lao động, năm 2015 là 280 và năm 2016 là 320 lao động. Lao động nông thôn chiếm tỷ lệ áp đảo, từ 87% đến 95% tổng số lao động đi XKLĐ của tỉnh. Điều này cho thấy chính sách đã bước đầu hướng đến đúng đối tượng. Tuy nhiên, con số này là rất nhỏ bé khi so sánh với tổng số 142.471 người trong độ tuổi lao động ở khu vực nông thôn. Kết quả này chưa đạt chỉ tiêu so với kế hoạch đề ra và chưa khai thác hết tiềm năng dồi dào của nguồn nhân lực tỉnh Bắc Kạn. Thị trường xuất khẩu cũng còn hạn hẹp, chủ yếu tập trung vào các thị trường lao động phổ thông.

2.2. Hạn chế về chất lượng lao động nông thôn dân tộc thiểu số

Một trong những rào cản lớn nhất của hoạt động xuất khẩu lao động Bắc Kạn là chất lượng nguồn lao động chưa cao. Luận văn chỉ rõ, phần lớn lao động nông thônlao động dân tộc thiểu số có trình độ học vấn và chuyên môn thấp. Do điều kiện kinh tế khó khăn, việc tiếp cận các chương trình đào tạo nghề xuất khẩu lao động còn hạn chế. Nhiều người lao động thiếu ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp và kỹ năng mềm cần thiết để làm việc trong môi trường quốc tế. Thói quen làm việc tự do trong nông nghiệp khiến họ khó thích ứng với các quy định nghiêm ngặt của nhà máy, xí nghiệp ở nước ngoài. Hạn chế về ngoại ngữ cũng là một điểm yếu cố hữu, làm thu hẹp cơ hội tiếp cận các thị trường xuất khẩu lao động có thu nhập cao như Nhật Bản hay Hàn Quốc.

2.3. Các rủi ro trong xuất khẩu lao động cần đối mặt

Người lao động và gia đình khi tham gia XKLĐ phải đối mặt với không ít rủi ro. Các vấn đề người lao động lo ngại bao gồm chi phí đi XKLĐ quá cao, nguy cơ gặp phải các doanh nghiệp XKLĐ không uy tín, lừa đảo. Rủi ro về điều kiện làm việc, sinh hoạt không đúng như hợp đồng, bị bóc lột sức lao động, hoặc gặp tai nạn lao động cũng là mối bận tâm lớn. Ngoài ra, tình trạng lao động bỏ trốn, vi phạm hợp đồng không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi của chính người lao động mà còn làm xấu đi hình ảnh lao động Việt Nam, có thể dẫn đến việc các thị trường tiềm năng siết chặt hoặc đóng cửa tiếp nhận. Các cơ quan quản lý nhà nước cần có biện pháp quản lý chặt chẽ và cung cấp thông tin minh bạch để giảm thiểu những rủi ro này.

III. Giải pháp chính sách hỗ trợ XKLĐ từ chính quyền tỉnh

Để đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu lao động tỉnh Bắc Kạn, vai trò của chính quyền địa phương trong việc xây dựng và thực thi các chính sách hỗ trợ XKLĐ là vô cùng quan trọng. Các chính sách này cần được thiết kế đồng bộ, từ hỗ trợ tài chính, cung cấp thông tin, đến quản lý và bảo vệ quyền lợi người lao động. Việc hoàn thiện hành lang pháp lý và cơ chế phối hợp giữa các ban ngành sẽ tạo ra một môi trường thuận lợi, khuyến khích người dân tham gia XKLĐ một cách an toàn và hiệu quả. Đặc biệt, sự vào cuộc quyết liệt của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Bắc Kạn và các ngân hàng chính sách sẽ là đòn bẩy giúp người lao động nghèo có cơ hội thay đổi cuộc sống.

3.1. Tối ưu chính sách hỗ trợ vốn vay đi XKLĐ cho người dân

Chi phí là rào cản lớn đối với lao động nông thôn tại Bắc Kạn. Chính vì vậy, chính sách hỗ trợ vốn vay đi XKLĐ cần được tối ưu hóa. Hiện tại, tỉnh đã có chính sách hỗ trợ 100% chi phí giáo dục định hướng và đào tạo nghề ngắn hạn. Người lao động được vay vốn từ ngân hàng thương mại tới 80% tổng chi phí. Đặc biệt, các hộ nghèo, hộ chính sách được Ngân hàng Chính sách Xã hội cho vay 80% và Quỹ hỗ trợ của tỉnh cho vay 20% còn lại. Giải pháp cần triển khai là đơn giản hóa thủ tục vay vốn, rút ngắn thời gian giải ngân và tăng cường tuyên truyền để người dân, đặc biệt là lao động dân tộc thiểu số, nắm rõ và tiếp cận được nguồn vốn ưu đãi này. Cần đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong quá trình xét duyệt hồ sơ vay vốn.

3.2. Nâng cao vai trò của Sở LĐ TB XH Bắc Kạn trong quản lý

Sở Lao động - Thương binh và Xã hội (LĐ-TB&XH) tỉnh Bắc Kạn cần đóng vai trò là cơ quan đầu mối, điều phối và quản lý toàn diện hoạt động XKLĐ. Nhiệm vụ của Sở không chỉ dừng lại ở việc báo cáo, thống kê mà cần chủ động hơn trong việc thẩm định, lựa chọn các doanh nghiệp XKLĐ uy tín được phép hoạt động trên địa bàn. Cần xây dựng một cơ sở dữ liệu chung để quản lý người lao động từ khâu đăng ký, xuất cảnh cho đến khi về nước. Bên cạnh đó, Sở LĐ-TB&XH Bắc Kạn phải tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm, lừa đảo người lao động. Việc phối hợp chặt chẽ với các huyện, xã để tuyên truyền chính sách và nắm bắt nguyện vọng của người dân cũng là một nhiệm vụ trọng tâm cần được đẩy mạnh.

IV. Phương pháp nâng cao chất lượng lao động xuất khẩu Bắc Kạn

Giải pháp cốt lõi để tạo ra bước đột phá cho xuất khẩu lao động tỉnh Bắc Kạn chính là nâng cao chất lượng lao động. Một lực lượng lao động có tay nghề, kỷ luật và ngoại ngữ tốt không chỉ đáp ứng yêu cầu của các thị trường khắt khe mà còn có thể nhận được mức lương cao hơn, mang lại giá trị kinh tế lớn hơn. Để làm được điều này, cần một chiến lược tổng thể bao gồm cải cách công tác đào tạo nghề, tăng cường định hướng nghề nghiệp và xây dựng một mô hình liên kết chặt chẽ giữa các bên liên quan: nhà nước, cơ sở đào tạo, doanh nghiệp và chính người lao động. Đây là một khoản đầu tư dài hạn cho tương lai của nguồn nhân lực tỉnh nhà.

4.1. Cải thiện công tác đào tạo nghề xuất khẩu lao động

Công tác đào tạo nghề xuất khẩu lao động cần được đổi mới một cách căn bản. Thay vì đào tạo dàn trải, các chương trình cần được thiết kế dựa trên yêu cầu thực tế của từng thị trường xuất khẩu lao động cụ thể. Nội dung đào tạo phải kết hợp giữa kỹ năng nghề, ngoại ngữ, kiến thức văn hóa, pháp luật của nước sở tại và đặc biệt là rèn luyện tác phong công nghiệp. Tỉnh cần đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất cho các trung tâm dạy nghề, đồng thời khuyến khích các doanh nghiệp XKLĐ uy tín tham gia trực tiếp vào quá trình đào tạo. Việc kiểm tra, đánh giá chất lượng đầu ra cần được thực hiện nghiêm ngặt để đảm bảo người lao động đáp ứng tiêu chuẩn trước khi xuất cảnh.

4.2. Xây dựng mô hình liên kết doanh nghiệp và người lao động

Mô hình liên kết doanh nghiệp và người lao động là yếu tố then chốt đảm bảo sự thành công của quá trình XKLĐ. Luận văn đã đề xuất một mô hình liên kết 6 bên: Ban chỉ đạo tỉnh, Đơn vị cung ứng lao động, Công ty XKLĐ, Chính quyền địa phương, Ngân hàng và Người lao động. Trong mô hình này, thông tin được lưu chuyển một cách minh bạch và có sự phối hợp nhịp nhàng. Ban chỉ đạo tỉnh đóng vai trò điều phối chung, phân bổ chỉ tiêu. Các công ty XKLĐ cung cấp thông tin về nhu cầu tuyển dụng. Chính quyền cơ sở và các đoàn thể tuyên truyền, sơ tuyển lao động. Các trung tâm dịch vụ việc làm tổ chức đào tạo. Mô hình này giúp giảm thiểu các khâu trung gian, hạn chế tiêu cực và bảo vệ tốt hơn quyền lợi cho người lao động.

4.3. Tăng cường định hướng nghề nghiệp theo thị trường

Công tác định hướng nghề nghiệp cần được thực hiện sớm và thường xuyên. Người lao động cần được cung cấp thông tin đầy đủ về đặc điểm, yêu cầu, mức thu nhập và chi phí của từng thị trường như thị trường Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan. Điều này giúp họ có lựa chọn phù hợp với năng lực, trình độ và điều kiện tài chính của bản thân. Các phiên giao dịch việc làm lưu động, các buổi tư vấn trực tiếp tại xã, phường cần được tổ chức nhiều hơn. Nội dung tư vấn không chỉ giới thiệu về cơ hội mà còn phải cảnh báo về những rủi ro trong xuất khẩu lao động và cách phòng tránh. Định hướng tốt sẽ giúp người lao động có sự chuẩn bị tâm lý và kỹ năng vững vàng, giảm tỷ lệ bỏ dở giữa chừng.

V. Bí quyết mở rộng thị trường xuất khẩu lao động tiềm năng

Bên cạnh việc củng cố các thị trường truyền thống, việc chủ động tìm kiếm và mở rộng thị trường xuất khẩu lao động mới, có giá trị cao là một hướng đi chiến lược cho Bắc Kạn. Đa dạng hóa thị trường giúp giảm sự phụ thuộc và rủi ro, đồng thời tạo ra nhiều cơ hội việc làm với thu nhập tốt hơn cho người lao động. Để thành công, tỉnh cần nghiên cứu kỹ lưỡng đặc điểm của các thị trường mục tiêu, học hỏi kinh nghiệm từ các địa phương đi trước và xây dựng thương hiệu cho lao động Bắc Kạn. Phân tích các thị trường khó tính nhưng tiềm năng như Nhật Bản, Hàn Quốc và học hỏi từ các tỉnh miền núi tương đồng như Cao Bằng, Tuyên Quang sẽ cung cấp những bài học quý giá.

5.1. Phân tích thị trường Nhật Bản Hàn Quốc Đài Loan

Các thị trường Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan là những thị trường mục tiêu đầy tiềm năng với mức thu nhập cao, điều kiện làm việc tốt. Tuy nhiên, đây cũng là những thị trường có yêu cầu khắt khe về tay nghề, kỷ luật và ngoại ngữ. Đài Loan là thị trường tương đối quen thuộc, phù hợp với nhiều lao động phổ thông. Hàn Quốc có chương trình EPS với nhiều quyền lợi nhưng quy trình tuyển chọn cạnh tranh. Nhật Bản đang có nhu cầu lớn về thực tập sinh kỹ năng trong các ngành như xây dựng, cơ khí, điều dưỡng, nông nghiệp. Để thâm nhập các thị trường này, Bắc Kạn cần tập trung vào việc nâng cao chất lượng lao động, đặc biệt là đào tạo ngoại ngữ và kỹ năng nghề theo tiêu chuẩn của đối tác, đồng thời liên kết với các doanh nghiệp XKLĐ uy tín có kinh nghiệm tại các thị trường này.

5.2. Bài học kinh nghiệm từ các tỉnh Tuyên Quang Cao Bằng

Nghiên cứu kinh nghiệm của Tuyên Quang và Cao Bằng, những tỉnh miền núi có điều kiện tương tự, mang lại nhiều bài học giá trị. Cả hai tỉnh đều xác định XKLĐ là chương trình trọng điểm và có sự chỉ đạo quyết liệt từ Tỉnh ủy, UBND tỉnh. Họ đẩy mạnh công tác tuyên truyền qua các phiên giao dịch việc làm lưu động, phát tờ rơi. Vai trò của Trung tâm Dịch vụ việc làm được đề cao như một cầu nối hiệu quả. Các tỉnh này cũng rất chú trọng lựa chọn các công ty XKLĐ có uy tín và quản lý chặt chẽ hoạt động của họ. Đặc biệt, Tuyên Quang và Cao Bằng đã thành công trong việc nâng cao chất lượng lao động thông qua các chương trình đào tạo định hướng bài bản, giúp lao động của họ có uy tín trên thị trường quốc tế. Bắc Kạn hoàn toàn có thể vận dụng những kinh nghiệm này vào thực tiễn của mình.

VI. Hướng đi tương lai cho xuất khẩu lao động tỉnh Bắc Kạn

Để hoạt động xuất khẩu lao động tỉnh Bắc Kạn phát triển bền vững, cần có một tầm nhìn dài hạn, gắn kết chặt chẽ mục tiêu kinh tế với các mục tiêu xã hội. Hướng đi tương lai không chỉ là gia tăng số lượng lao động xuất cảnh mà còn phải tập trung vào việc nâng cao chất lượng, bảo vệ quyền lợi người lao động và tận dụng nguồn lực mà họ mang về sau khi kết thúc hợp đồng. Việc xây dựng một chiến lược XKLĐ toàn diện, gắn với chương trình giảm nghèo bền vững và có chính sách tái hòa nhập cho lao động về nước sẽ tạo ra một chu trình phát triển khép kín, mang lại lợi ích lâu dài cho cả người lao động và sự phát triển chung của tỉnh.

6.1. Gắn XKLĐ với mục tiêu giảm nghèo bền vững tại địa phương

Mục tiêu cuối cùng của việc đẩy mạnh XKLĐ là phục vụ công cuộc phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Kạngiảm nghèo bền vững. Do đó, các chính sách cần ưu tiên cho các đối tượng thuộc hộ nghèo, cận nghèo, lao động dân tộc thiểu số ở các vùng đặc biệt khó khăn. Nguồn ngoại tệ do người lao động gửi về cần được định hướng, khuyến khích đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại địa phương thay vì chỉ tiêu dùng. Sự thành công của một vài cá nhân, gia đình thoát nghèo nhờ XKLĐ sẽ tạo ra hiệu ứng lan tỏa, thay đổi nhận thức và thúc đẩy các hộ gia đình khác mạnh dạn tham gia. Sở LĐ-TB&XH Bắc Kạn cần phối hợp với chính quyền địa phương theo dõi, đánh giá tác động của XKLĐ đến tỷ lệ hộ nghèo để có những điều chỉnh chính sách kịp thời.

6.2. Xây dựng chính sách tái hòa nhập cho lao động về nước

Một chiến lược XKLĐ bền vững không thể thiếu chính sách tái hòa nhập cho lao động về nước. Những người lao động này sau nhiều năm làm việc ở nước ngoài đã tích lũy được vốn, kinh nghiệm, kỹ năng và tác phong làm việc công nghiệp. Đây là nguồn nhân lực chất lượng cao quý giá cho tỉnh. Chính quyền cần có chính sách hỗ trợ họ khởi nghiệp, giới thiệu việc làm phù hợp với tay nghề, hoặc tư vấn để họ tiếp tục đi XKLĐ lần hai ở các vị trí cao hơn. Việc tận dụng hiệu quả nguồn lực này sẽ giúp phát triển kinh tế địa phương, tạo thêm nhiều việc làm mới ngay tại quê hương, và biến XKLĐ trở thành một quá trình đào tạo và phát triển nguồn nhân lực hiệu quả.

03/10/2025
Luận văn thạc sĩ giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu lao động nông thôn tỉnh bắc kạn

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 1. Một số vấn đề lý luận về lao động nông thôn và xuất khẩu lao động nông thôn 1. Khái niệm cơ bản 1. Lao động và lao động nông thôn Lao động là hoạt động có mục đích của con người, thông qua hoạt động đó con người tác động vào giới tự nhiên, cải biến chúng thành những vật có ích nhằm phục vụ mục đích nào đó của con người (Trần Xuân Cầu, Mai Quốc Chánh, 2008, tr.

Lao động nông thôn là toàn bộ những hoạt động lao động sản xuất tạo ra của cải vật chất của những người lao động ở khu vực nông thôn (Dương Ngọc Thành, Nguyễn Minh Hiếu, 2014). Lao động nông thôn bao gồm lao động trong các ngành nông nghiệp, công nghiệp nông thôn và dịch vụ nông thôn. Hoạt động lao động nói chung và lao động nông thôn nói riêng có 3 đặc trưng cơ bản: - Xét về tính chất, hoạt động lao động phải có mục đích (có ý thức) của con người. - Xét về mục đích, hoạt động lao động phải tạo ra sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người.

- Xét về nội dung, hoạt động lao động phải là sự tác động vào tự nhiên làm biến đổi tự nhiên và xã hội nhằm tạo ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ lợi ích của con người. Sức lao động Sức lao động là phạm trù chỉ khả năng lao động của con người, là tổng hợp thể lực và trí lực của con người được con người vận dụng trong quá trình lao động.Mác thì sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong một cơ thể, trong một con người đang sống và được người đó đem ra vận dụng khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó (Trần Xuân Cầu, Mai Quốc Chánh, 2008, tr. Sức lao động của con người được thể hiện: - Khả năng về thể chất (thể lực): chỉ rõ khả năng làm việc chân tay, được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu như chiều cao, cân nặng, thị lực, thính lực… download by : skknchat@gmail.com 5 - Khả năng về tinh thần (trí lực): chỉ rõ khả năng làm việc trí tuệ, được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu về trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn, kinh nghiệm công tác… Sức lao động là điều kiện đầu tiên cần thiết trong quá trình lao động xã hội. Trên thị trường lao động, sức lao động được coi là hàng hoá.

Đây là hàng hoá đặc biệt vì bản thân con người có tư duy, tự làm chủ, nói cách khác con người là chủ thể lao động. Thông qua thị trường lao động, sức lao động được xác định giá cả. Nguồn lao động và nguồn lao động nông thôn Nguồn lao động được hiểu là một bộ phận dân cư bao gồm những người trong độ tuổi lao động (không kể những người mất khả năng lao động) và những người ngoài độ tuổi lao động thực tế có tham gia lao động (Phạm Quốc Chính, 2008). Cần phân biệt nguồn lao động với dân số trong độ tuổi lao động.

Cả hai thuật ngữ trên đều giới hạn độ tuổi lao động theo luật định của mỗi nước, nhưng nguồn lao động chỉ bao gồm những người có khả năng lao động trong khi dân số trong độ tuổi lao động còn bao gồm dân số trong độ tuổi lao động nhưng không có khả năng lao động như tàn tật, mất sức lao động bẩm sinh hoặc do các nguyên nhân: chiến tranh, tai nạn giao thông, tai nạn lao động… Việc quy định độ tuổi lao động ở các nước khác nhau là khác nhau. Căn cứ để xác định độ tuổi lao động: - Sức khoẻ của người dân. - Trình độ phát triển kinh tế, xã hội… Ở Việt Nam, căn cứ vào Điều 3 của Bộ Luật lao động nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2012 “Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động.” và Điều 187 “Người lao động bảo đảm điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội được hưởng lương hưu khi nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi…” Căn cứ vào đó, độ tuổi lao động của người Việt Nam như sau: - Nam từ đủ 15 tuổi đến đủ 60 tuổi. - Nữ từ đủ 15 tuổi đến đủ 55 tuổi.

download by : skknchat@gmail.com 6 Từ những phân tích trên, ta có thể hiểu nguồn lao động nông thôn là một bộ phận dân số sinh sống và làm việc ở nông trong độ tuổi lao động theo qui định của pháp luật (nam từ 16 đến 60 tuồi, nữ từ 16 đến 55 tuổi) có khả năng. Lực lượng lao động ở nông thôn là bộ phận của nguồn lao động ở nông thôn bao gồm hững người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, đang có việc làm và những người có thất nghiệp nhưng có nhu cầu tìm việc làm. Việc làm, thất nghiệp và tạo việc làm - Việc làm: Theo điều 9, Bộ luật lao động năm 2012: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm”. Trên thực tế việc làm nêu trên được thể hiện dưới 3 hình thức: + Một là, làm công việc để nhận tiền lương, tiền công hoặc hiện vật cho công việc đó.

+ Hai là, làm công việc để thu lợi cho bản thân mà bản thân lại có quyền sử dụng hoặc quyền sở hữu (một phần hay toàn bộ) tư liệu sản xuất để tiến hành công việc đó. + Ba là, làm các công việc cho hộ gia đình mình nhưng không được trả thù lao dưới hình thức tiền lương, tiền công cho công việc đó. Bao gồm sản xuất nông nghiệp, hoạt động kinh tế phi nông nghiệp do chủ hộ hoặc 1 thành viên khác trong gia đình có quyền sử dụng, sở hữu hoặc quản lý. - Thất nghiệp là tình trạng người muốn có việc làm mà không tìm được việc làm (Nguyễn Văn Công, 2009).

Như vậy, thất nghiệp bao gồm những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, chưa có việc làm và đang tìm việc làm. Một số nhà kinh tế học giải thích thất nghiệp theo các cách khác nhau, nhấn mạnh rằng nhu cầu yếu sẽ dẫn đến cắt giảm sản xuất và sa thải công nhân (thất nghiệp chu kỳ). Một số khác chỉ rằng các vấn đề về cơ cấu ảnh hưởng (thất nghiệp cơ cấu). Kinh tế học cổ điển và tân cổ điển có xu hướng lý giải áp lực thị trường đến từ bên ngoài, như mức, các quy định hạn chế thuê mướn người lao động (thất nghiệp thông thường).

Có ý kiến lại cho rằng thất nghiệp chủ yếu là sự lựa chọn tự nguyện. Chủ nghĩa Mác giải thích theo hướng thất nghiệp là thực tế giúp duy trì lợi nhuận doanh nghiệp và chủ nghĩa tư bản. Các quan điểm khác nhau có thể đúng theo những cách khác nhau, góp phần đưa ra cái nhìn toàn diện về tình trạng thất nghiệp. download by : skknchat@gmail.com 7 - Tạo việc làm là quá trình tạo ra số lượng và chất lượng tư liệu sản xuất; số lượng và chất lượng sức lao động và các điều kiện kinh tế xã hội cần thiết khác để kết hợp tư liệu sản xuất và sức lao động.

Như vậy, muốn tạo việc làm cần 3 yếu tố cơ bản: tư liệu sản xuất, sức lao động và các điều kiện kinh tế, xã hội khác để kết hợp tư liệu sản xuất và sức lao động. Ba yếu tố này lại chịu tác động của nhiều yếu tố khác. Thị trường lao động (TTLĐ) Theo Leo Maglen ( chuyên gia tư vấn của Dự án Giáo dục kỹ thuật dạy nghề của Tổng cục dạy nghề do Ngân hàng phát triển Châu Á - ADB tài trợ): “Thị trường lao động là một hệ thống trao đổi giữa những người có việc làm hoặc người đang tìm việc làm (cung lao động) với những người đang sử dụng lao động hoặc đang tìm kiếm lao động để sử dụng (cầu lao động)”. Theo Tổ chức Lao động quốc tế (viết tắt là ILO): “Thị trường lao động là thị trường trong đó các dịch vụ lao động được mua bán thông qua một quá trình thoả thuận để xác định mức độ có việc làm của lao động, cũng như mức độ tiền công”.

Theo “Đại Từ điển kinh tế thị trường” (1988): “Thị trường lao động là nơi mua bán sức lao động diễn ra giữa người lao động (cung lao động) và người sử dụng lao động (cầu lao động)”. Từ các định nghĩa trên kết hợp với thực tiễn Việt Nam có thể nêu lên một định nghĩa khái quát về thị trường lao động như sau: “Thị trường lao động là nơi mà người có nhu cầu tìm việc làm và người có nhu cầu sử dụng lao động trao đổi với nhau, mua bán dịch vụ lao động thông qua các hình thức xác định giá cả (tiền công, tiền lương) và các điều kiện thoả thuận khác (thời gian làm việc, điều kiện lao động, bảo hiểm xã hội.) trên cơ sở một hợp đồng lao động bằng văn bản hoặc bằng miệng, hoặc thông qua các dạng hợp đồng hay thoả thuận khác” Trên thị trường lao động, mối quan hệ được thiết lập giữa một bên là người lao động và một bên là người sử dụng lao động. Qua đó, quan hệ cung - cầu về lao động ảnh hưởng tới tiền công lao động và ngược lại, mức tiền công lao động cũng ảnh hưởng tới cung - cầu lao động. Khi cung và cầu lao động gặp nhau và hoạt động mua bán hay thuê mướn sức lao động diễn ra trong phạm vi biên giới một quốc gia, đó được gọi là thị trường lao động nội địa; nếu diễn ra ở ngoài biên giới quốc gia download by : skknchat@gmail.com 8 một nước thì gọi là thị trường lao động quốc tế.

Đứng từ góc độ của Việt Nam là nước xuất khẩu lao động (XKLĐ), thì thị trường nhập khẩu lao động (NKLĐ) được hiểu theo nghĩa chung nhất, là một bộ phận của thị trường lao động quốc tế mà nó được hình thành từ tổng cầu lao động nước ngoài trên thị trường trong nước và tổng cung mà thị trường lao động quốc tế đáp ứng. Hoạt động XKLĐ trên thị trường lao động quốc tế được thực hiện chủ yếu dựa vào quan hệ cung - cầu lao động, chịu tác động và chịu sự điều tiết của các quy luật thị trường. Bên cung lao động (hay thị trường XKLĐ) tính toán giá cả lao động, tìm nguồn lao động có chất lượng, đào tạo huấn luyện lao động… để nhằm mục đích cuối cùng là xuất khẩu được nhiều lao động.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ