mở đầu đến khâu kết thúc. Theo lý luận trong tội phạm học, hành vi phạm tội nói chung thường diễn biến theo quy luật: Nguyên nhân, điều kiện phát sinh – tác động vào đối tượng – xuất hiện ý định phạm tội – chuẩn bị thực hiện hành vi – thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, để phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn tội phạm phải thực hiện theo các khâu tương ứng, từ việc tiến hành công tác điều tra cơ bản để nghiên cứu, thu thập tình hình, xác định các địa bàn, tuyến, lĩnh vực, các đối tượng có thể bị xâm hại … ; qua công tác sưu tra nhằm quản lý các đối tượng có nhiều yếu tố dễ bị tác động, hoặc đã bị tác động bởi các nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm làm xuất hiện ý định phạm tội; tiếp đến, bằng công tác xác minh hiềm nghi để xác định sự thật về các dấu hiệu, biểu hiện về ý định phạm tội chuyển sang chuẩn bị hoặc thực hiện hành vi phạm tội để có biện pháp ngăn chặn, đấu tranh, đồng thời thông qua công tác đấu tranh chuyên án để tổ chức các chiến thuật nghiệp vụ nhằm thu thập tài liệu, chứng cứ chứng minh tội phạm, bắt giữ đối tượng phạm tội nguy hiểm. Ngoài ra, trong quá trình thu thập thông tin, tài liệu để thực hiện các nhiệm vụ này, một biện pháp mang lại hiệu quả cao và không thể thiếu được, đó là sử dụng người cộng tác bí mật có điều kiện, khả năng tiếp cận đối tượng và thu thập thông tin, tài liệu.
Trên cơ sở xác định công tác nghiệp vụ cơ bản của lực lượng Cảnh sát nhân dân bao gồm các công tác chính: Điều tra cơ bản; sưu tra, xác minh hiềm nghi; dấu tranh chuyên án; xây dựng và sử dụng mạng lưới bí mật. Trong quá trình phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm, các công tác trên được kết hợp thực hiện thường xuyên, liên tục. Tuỳ từng loại đối tượng và tình huống nghiệp vụ cụ thể, việc tiến hành các nội dung công tác có thể tuân theo tuần tự từ điều tra cơ bản, sưu tra, xác minh hiềm nghi, đấu tranh chuyên án; hoặc cũng có thể bỏ qua một số khâu nhất định để đảm bảo hiệu 14 quả phòng ngừa, ngăn chặn, triệt phá tội phạm, như từ sưu tra có thể chuyển ngay sang xác lập, đấu tranh chuyên án … Tuy nhiên, trong tổng thể chung đó là một quá trình điều tra nghiên cứu mang tính chủ động và khách quan, đi từ diện đến điểm, từ nông đến sâu, giữa các mặt công tác có sự kế thừa, tương hỗ lẫn nhau trong mối quan hệ chặt chẽ. Mối quan hệ của các mặt công tác nghiệp vụ cơ bản còn thể hiện ở sự tác động tương hỗ lẫn nhau giữa các mặt công tác, việc thực hiện công tác này là điều kiện đảm bảo hiệu quả của công tác khác.
Ví dụ như phải làm tốt công tác xây dựng, sử dụng mạng lưới bí mật thì mới có cơ sở thông tin, tài liệu để quản lý đối tượng sưu tra, xác minh hiềm nghi, đấu tranh chuyên án; ngược lại, làm tốt công tác sưu tra sẽ có cơ sở cho việc phát triển hiềm nghi, chuyên án và phát hiện, lựa chọn con người phù hợp để xây dựng và bố trí vào mạng lưới bí mật. Công tác nghiệp vụ cơ bản còn có mối quan hệ xuyên suốt trong toàn bộ các hoạt động nghiệp vụ khác của lực lượng Cảnh sát nhân dân, nhất là có mối quan hệ khăng khít với công tác điều tra hình sự; quản lý, giáo dục, cải tạo phạm nhân; công tác quản lý hành chính về trật tự xã hội; các biện pháp kỹ thuật nghiệp vụ, khoa học hình sự; tuần tra, kiểm soát vũ trang; công tác xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc ở địa bàn cơ sở … Các mặt công tác này phải thường xuyên có sự hỗ trợ, cung cấp thông tin, tài liệu cho nhau, đồng thời có thể hỗ trợ tác chiến trong những trường hợp cần thiết. Thấy hết được những mối quan hệ này, để chúng ta thực hiện các mặt công tác nghiệp vụ một cách đồng bộ, khi làm việc này thì phải chú ý nghiên cứu phát triển cho việc khác, muốn làm tốt việc này thì phải làm có hiệu quả việc kia, tạo cho công tác nghiệp vụ có hệ thống, kế thừa liên tục các thành quả đã đạt được, khắc phục tình trạng rời rạc, cục bộ, kém hiệu quả. 15 Trong bối cảnh tăng cường hội nhập quốc tế và sự phát triển của khoa học công nghệ, công tác nghiệp vụ cơ bản của lực lượng Cảnh sát nhân dân cần phải vươn lên về mọi mặt để đáp ứng yêu cầu phòng ngừa, đấu tranh với các loại tội phạm có tính quốc tế và việc mở rộng hợp tác quốc tế về phòng, chống tội phạm.
Đây là yêu cầu có tính khách quan, vì tình hình tội phạm quốc tế hoạt động rất phức tạp và có xu hướng gia tăng nguy hiểm trong điều kiện toàn cầu hoá hiện nay. Tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới và phát triển và phát triển kinh tế đất nước, với xu thế hội nhập, đa phương hoá, đa dạng hoá. Việt Nam đã trực tiếp tham gia Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), tham gia Diễn đàn hợp tác Á-Âu (ASEM), Diễn đàn hợp tác kinh tế khu vực châu Á – Thái Bình Dương (APEC), gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), tiếp tục tăng cường mở rộng hợp tác kinh tế với các nước trên thế giới. Bên cạnh những thuận lợi, do tác động của những yếu tố tiêu cực nảy sinh, tình hình an ninh trật tự nói chung và tình hình hoạt động của bọn tội phạm nói riêng cũng sẽ có nhiều diễn biến phức tạp.
Đặc biệt, hoạt động của loại tội phạm có tính quốc tế, tội phạm xuyên quốc gia sẽ gia tăng trên nhiều phương diện, hoạt động của chúng diễn ra trên hầu hết các lĩnh vực, trong quan hệ đầu tư, thương mại, dịch vụ, du lịch …; bên cạnh đó là hoạt động buôn ma tuý, buôn bán vũ khí, buôn bán người, khủng bố, cướp biển, tội phạm lẩn trốn ra nước ngoài … Trong một số lĩnh vực, đã xuất hiện tội phạm quốc tế liên quan đến Việt Nam và có xu hướng ngày càng gia tăng, nhất là tội phạm về ma tuý, buôn bán phụ nữ, trẻ em, lừa đảo trong kinh doanh, dịch vụ. Xác định rõ vấn đề này, trong các văn bản của Bộ đã có phần qui định về đối tượng sưu tra là người nước ngoài, xây dựng đặc tình người nước ngoài, đặc tình ngoại biên … để đảm bảo cơ sở cho việc tiến hành các biện pháp phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh với tội phạm có tính quốc tế, tội phạm xuyên quốc gia. Tuy nhiên trong thực tế, các đơn vị, địa phương chưa thực hiện được nhiều, mà nguyên nhân chủ yếu là năng lực trong lĩnh vực 16 này còn hạn chế, điều kiện đảm bảo còn thiếu. Vì vậy, công tác nghiệp vụ cơ bản trong thời gian tới cần phải nghiên cứu biện pháp để đẩy mạnh trên các lĩnh vực có yếu tố nước ngoài, đảm bảo cho việc tổ chức phòng, chống các tội phạm có yếu tố nước ngoài được chủ động ngay từ đầu, cần tập trung phòng ngừa khi tình hình còn chưa đến mức quá phức tạp; đồng thời phải nâng cao trình độ, khả năng chuyên môn về phòng, chống tội phạm mới có thể đáp ứng được yêu cầu phòng, chống tội phạm hoạt động trên phạm vi quốc tế có liên quan đến Việt Nam và yêu cầu hợp tác với các nước trong phòng, chống tội phạm.
Nhận thức chung về công tác điều tra cơ bản của lực lượng Cảnh sát nhân dân 1. Khái niệm, vai trò của công tác điều tra cơ bản của lực lượng Cảnh sát nhân dân Công tác nghiệp vụ cơ bản của lực lượng Cảnh sát nhân dân luôn được chú trọng thực hiện, thông qua các văn bản của Bộ, ngành như Quyết định số 31/QĐ-BNV(C11) ngày 28/02/1995, Quyết định số 225/QĐ-BNV(C11) ngày 17/08/1994, các Quyết định số 658, 659/QĐ-BCA(C11) về công tác sưu tra, xác minh hiềm nghi, xây dựng và sử dụng mạng lưới bí mật. Tuy nhiên, qua thực tế áp dụng, công tác, chiến đấu, các quy định về công tác nghiệp vụ cơ bản của lực lượng Cảnh sát nhân trước đây có những nội dung còn thiếu hoặc không còn phù hợp, chậm được bổ sung, đổi mới; trong đó chưa có văn bản quy định riêng chính thức về công tác điều tra cơ bản của lực lượng Cảnh sát nhân dân. Trên tinh thần nhằm nâng cao hiệu quả các mặt công tác nghiệp vụ cơ bản của lực lượng cảnh sát nhân đáp ứng yêu cầu phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm trong tình hình mới, Bộ Công an có ra Chỉ thị số 05/CT- BCA(C11) ngày 06/06/2003 về việc chấn chỉnh, tăng cường công tác nghiệp 17 vụ cơ bản của lực lượng Cảnh sát nhân dân trong tình hình mới; kèm theo đó có Quyết định số 360/2003/QĐ-BCA(C11) ngày 06/06/2003 của Bộ trưởng Bộ Công an, về việc ban hành Qui định công tác điều tra cơ bản của lực lượng Cảnh sát nhân dân.
Điều 1 của Quyết định 360 nói trên đã nêu rõ: “Công tác điều tra cơ bản của lực lượng Cảnh sát nhân dân là một bộ phận của công tác điều tra nghiên cứu, có nhiệm vụ thu thập rộng rãi có hệ thống các thông tin, tài liệu về tình hình có liên quan ở một địa bàn, tuyến, lĩnh vực, hệ loại đối tượng … phục vụ công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm, giữ gìn trật tự an toàn xã hội. Công tác điều tra cơ bản là cơ sở quan trọng xác định những hệ loại đối tượng, tuyến, địa bàn, lĩnh vực trọng điểm, phức tạp về trật tự an toàn xã hội; phát hiện việc, hiện tượng, con người liên quan đến trật tự an toàn xã hội một cách có hệ thống; làm cơ sở đề ra các chủ trương, kế hoạch, biện pháp phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm, đảm bảo trật tự an toàn xã hội”. [ 9 ] Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, có thể thấy được một số điểm về vai trò và ý nghĩa của công tác điều tra cơ bản của lực lượng Cảnh sát nhân dân: - Đây là văn bản đầu tiên của Bộ Công an mang tính thống nhất các văn bản khác về nội dung công tác điều tra cơ bản của lực lượng Cảnh sát nhân dân. - Trong công tác nghiệp vụ cơ bản của lực lượng Cảnh sát nhân dân bao gồm các mặt công tác cụ thể như: Công tác điều tra cơ bản; công tác sưu tra, xác minh hiềm nghi; công tác xây dựng, sử dụng mạng lưới bí mật; công tác đấu tranh chuyên án.