Luận văn ThS Luật học: Điều tra cơ bản của Cảnh sát QLHC phòng chống tội phạm

Luận văn luật học đi sâu vào công tác điều tra cơ bản của lực lượng Cảnh sát quản lý hành chính, đề xuất giải pháp phòng chống tội phạm hiệu quả.

Chuyên ngành

Luật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2007

124
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. Chương 1: NHẬN THỨC CHUNG VỀ CÔNG TÁC ĐIỀU TRA CƠ BẢN CỦA LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT NHÂN DÂN NÓI CHUNG VÀ CỦA LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH VỀ TRẬT TỰ XÃ HỘI NÓI RIÊNG

1.1. Nhận thức chung về công tác nghiệp vụ cơ bản của lực lượng Cảnh sát nhân dân

1.1.1. Vai trò của công tác nghiệp vụ cơ bản của lực lượng Cảnh sát nhân dân

1.1.2. Nội dung công tác nghiệp vụ cơ bản của lực lượng Cảnh sát nhân dân

1.1.2.1. Công tác điều tra cơ bản
1.1.2.2. Công tác sưu tra và công tác xác minh hiềm nghi
1.1.2.3. Công tác đấu tranh chuyên án
1.1.2.4. Công tác xây dựng, sử dụng mạng lưới bí mật của lực lượng Cảnh sát nhân dân

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Khám phá vai trò điều tra cơ bản của CS QLHC phòng chống tội phạm

Công tác điều tra cơ bản là hoạt động mang tính nền tảng, giữ vai trò khởi nguồn và định hướng cho toàn bộ các hoạt động nghiệp vụ khác của lực lượng Công an nhân dân. Đây là một bộ phận cốt lõi của công tác điều tra nghiên cứu, được quy định chặt chẽ nhằm thu thập thông tin một cách rộng rãi và có hệ thống. Mục tiêu chính là nắm bắt toàn diện tình hình liên quan đến trật tự an toàn xã hội tại một địa bàn, tuyến, lĩnh vực hoặc hệ loại đối tượng cụ thể.

Hoạt động này không chỉ giúp xác định các khu vực trọng điểm, phức tạp về an ninh trật tự mà còn phát hiện sớm các dấu hiệu, con người, hoặc hiện tượng bất thường. Kết quả của nghiệp vụ điều tra cơ bản là cơ sở vững chắc để lực lượng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội (CS QLHC) xây dựng các chủ trương, kế hoạch và biện pháp phòng ngừa tội phạm một cách chủ động. Theo Chỉ thị số 05/CT-BCA(C11), việc chấn chỉnh và tăng cường công tác này là yêu cầu cấp thiết để đáp ứng nhiệm vụ trong tình hình mới. Hiệu quả của công tác này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng phòng ngừa tội phạm từ sớm, từ xa, giảm thiểu các nguyên nhân và điều kiện phát sinh vi phạm pháp luật, góp phần giữ vững ổn định chính trị và phát triển kinh tế - xã hội. Nếu không thực hiện tốt, lực lượng chức năng sẽ rơi vào thế bị động, chạy theo vụ việc và làm giảm hiệu lực quản lý nhà nước về an ninh trật tự.

1.1. Định nghĩa công tác nghiệp vụ cơ bản của Cảnh sát nhân dân

Công tác nghiệp vụ cơ bản là hệ thống các hoạt động có tính cốt lõi, là nền tảng cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tội phạm của lực lượng Công an nhân dân. Đây là hoạt động đặc thù được Đảng và Nhà nước giao phó, nhằm chủ động ngăn chặn và kịp thời phát hiện, điều tra tội phạm. Nó bao gồm bốn mặt công tác chính có mối quan hệ khăng khít: Điều tra cơ bản; Sưu tra, xác minh hiềm nghi; Đấu tranh chuyên án; và Xây dựng, sử dụng mạng lưới bí mật. Trong đó, điều tra cơ bản là khâu khởi nguồn, cung cấp thông tin đầu vào cho các khâu còn lại. Việc thực hiện tốt công tác này là sự cụ thể hóa quan điểm chỉ đạo của Đảng, đảm bảo lực lượng Cảnh sát giữ vai trò nòng cốt trong việc bảo vệ an ninh quốc gia.

1.2. Cơ sở pháp lý và chức năng nhiệm vụ của CS QLHC

Hoạt động của lực lượng CS QLHC được quy định bởi hệ thống văn bản pháp luật, từ Hiến pháp 1992, Luật Công an nhân dân 2005 đến các văn bản dưới luật. Đặc biệt, Quyết định số 360/2003/QĐ-BCA(C11) đã chính thức ban hành quy định về công tác điều tra cơ bản của lực lượng Cảnh sát nhân dân, làm rõ chức năng nhiệm vụ của CS QLHC. Theo đó, lực lượng này, trực tiếp là Cảnh sát khu vực và Công an phụ trách xã, có trách nhiệm tiến hành điều tra cơ bản tại các địa bàn xã, phường, thị trấn. Nhiệm vụ này bao gồm quản lý hộ khẩu, cấp giấy tờ tùy thân, quản lý ngành nghề kinh doanh có điều kiện, đảm bảo trật tự công cộng và chủ động phòng ngừa, phát hiện các hành vi vi phạm pháp luật.

II. Top 3 thách thức trong công tác điều tra cơ bản phòng chống tội phạm

Thực tiễn tại các đô thị lớn như Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy công tác điều tra cơ bản của CS QLHC đối mặt với nhiều thách thức lớn. Tình hình tội phạm diễn biến ngày càng phức tạp do sự gia tăng dân số cơ học, sự đa dạng của các loại hình kinh tế và tác động của quá trình hội nhập. Tài liệu nghiên cứu gốc chỉ ra, đến năm 2007, TP.HCM có tới hơn 862.000 nhân khẩu tạm trú diện KT4 và hàng chục ngàn đối tượng thuộc diện quản lý hành chính. Áp lực này tạo ra những khó khăn không nhỏ trong việc nắm bắt, quản lý địa bàn và đối tượng.

Báo cáo của Công an Thành phố đã thẳng thắn thừa nhận những hạn chế tồn tại. Công tác điều tra cơ bản đôi khi còn mang nặng tính hành chính, chủ yếu dừng lại ở bước thu thập thông tin và đăng ký hồ sơ mà chưa đi sâu vào phân tích, đánh giá. Điều này làm hạn chế khả năng đề xuất các biện pháp phòng ngừa tội phạm mang tính chiến lược. Một bộ phận cán bộ, chiến sĩ còn có nhận thức chưa đầy đủ, sâu sắc về tầm quan trọng của công tác này, thậm chí nhầm lẫn giữa nội dung điều tra cơ bản với sưu tra chuyên đề. Những yếu tố này cộng hưởng, làm giảm hiệu quả tổng thể của hoạt động phòng chống tội phạm tại cơ sở.

2.1. Hạn chế trong nhận thức và quy trình nghiệp vụ

Một trong những rào cản lớn nhất là nhận thức của một số cán bộ chiến sĩ về công tác nghiệp vụ cơ bản chưa đầy đủ. Sự nhầm lẫn giữa điều tra cơ bản và sưu tra chuyên đề dẫn đến việc triển khai sai mục tiêu và phương pháp. Chất lượng hồ sơ điều tra cơ bản chưa đáp ứng yêu cầu, thông tin thu thập còn tản mạn, chưa được cập nhật thường xuyên. Báo cáo 06 tháng đầu năm 2007 của Công an TP.HCM cho thấy công tác này "tốn nhiều thời gian công sức, nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu phòng ngừa đấu tranh chống tội phạm". Điều này cho thấy quy trình nghiệp vụ cần được chuẩn hóa và giám sát chặt chẽ hơn.

2.2. Khó khăn từ áp lực dân số và đô thị hóa tại TP.HCM

Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm kinh tế năng động, thu hút lượng lớn dân cư từ các tỉnh thành khác. Sự gia tăng dân số cơ học, đặc biệt là nhân khẩu tạm trú, tạo ra một môi trường xã hội phức tạp. Các đối tượng hình sự, kinh tế, ma túy dễ dàng trà trộn và ẩn náu, gây khó khăn cho công tác xác minh tin báo tố giác tội phạm và quản lý đối tượng. Lực lượng CS QLHC cấp cơ sở phải đối mặt với khối lượng công việc khổng lồ trong việc quản lý hộ khẩu, nhân khẩu và các ngành nghề kinh doanh nhạy cảm, ảnh hưởng đến thời gian và nguồn lực dành cho công tác điều tra chuyên sâu.

III. Hướng dẫn quy trình điều tra cơ bản của CS QLHC phòng chống tội phạm

Để nâng cao hiệu quả, quy trình điều tra cơ bản của CS QLHC cần được thực hiện một cách khoa học và bài bản, tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của ngành. Quyết định số 730/QĐ-BCA(C11) đã quy định rõ quy trình này gồm ba bước chính, tạo thành một chu trình khép kín và liên tục. Bước đầu tiên và quan trọng nhất là chuẩn bị. Lãnh đạo đơn vị phải chỉ đạo xây dựng kế hoạch chi tiết, xác định rõ phạm vi, đối tượng, mục tiêu cần đạt được và phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng cán bộ. Bước thứ hai là triển khai, bao gồm việc lập, đăng ký hồ sơ và tiến hành thu thập thông tin, tài liệu theo kế hoạch đã được phê duyệt. Quá trình này đòi hỏi sự chính xác, khách quan và phải sử dụng các biện pháp công khai theo quy định. Bước cuối cùng là hệ thống hóa, phân tích và đánh giá. Đây là bước thể hiện trí tuệ của công tác nghiệp vụ, biến những dữ liệu thô thành thông tin có giá trị, giúp nhận diện các vấn đề nổi cộm, dự báo xu hướng và đề xuất các giải pháp phòng ngừa hiệu quả. Việc tuân thủ quy trình này không chỉ đảm bảo tính pháp lý mà còn tối ưu hóa nguồn lực, giúp công tác phòng ngừa tội phạm đi vào chiều sâu.

3.1. Quy trình 3 bước Chuẩn bị thu thập và hệ thống hóa

Quy trình chuẩn hóa bao gồm: Bước 1 (Chuẩn bị): Xây dựng kế hoạch chi tiết, xác định phạm vi đối tượng (địa bàn, tuyến, lĩnh vực), nguồn thông tin cần thu thập, phân công lực lượng và dự kiến thời gian hoàn thành. Bước 2 (Tiến hành): Mở và đăng ký hồ sơ điều tra cơ bản (ký hiệu ĐB). Cán bộ tiến hành thu thập tài liệu bằng các biện pháp công khai, đảm bảo tính chính xác và khách quan. Bước 3 (Tổng hợp, đánh giá): Hệ thống hóa, phân loại thông tin đã thu thập. Phân tích để xác định các địa bàn trọng điểm, các vấn đề phức tạp về trật tự an toàn xã hội và đề xuất kế hoạch, biện pháp giải quyết.

3.2. Kỹ thuật thu thập và hệ thống hóa hồ sơ điều tra ĐB

Việc thu thập thông tin được thực hiện qua nhiều nguồn công khai như báo cáo của chính quyền địa phương, thống kê dân số, tài liệu từ các cơ quan, doanh nghiệp. Cán bộ phải đối chiếu, xác minh để đảm bảo độ tin cậy. Hồ sơ điều tra cơ bản (ký hiệu ĐB) là nơi tích lũy toàn bộ tài liệu, phải được sắp xếp khoa học. Theo Hướng dẫn số 206/C11(C27), hồ sơ ĐB phải bao gồm các tài liệu về kế hoạch, đặc điểm địa lý, tình hình kinh tế-xã hội, tình hình tội phạm và các báo cáo phân tích, đánh giá định kỳ. Việc hệ thống hóa hồ sơ tốt giúp khai thác thông tin nhanh chóng, phục vụ hiệu quả cho công tác phòng chống tội phạm.

IV. Top giải pháp tối ưu công tác điều tra cơ bản phòng chống tội phạm

Để khắc phục những tồn tại và đáp ứng yêu cầu thực tiễn, việc đề xuất các giải pháp đồng bộ là hết sức cần thiết. Giải pháp hàng đầu là nâng cao nhận thức và năng lực chuyên môn cho đội ngũ cán bộ, chiến sĩ trực tiếp thực hiện công tác nghiệp vụ cơ bản. Cần tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng chuyên sâu, phân biệt rõ ràng giữa điều tra cơ bản và các mặt công tác nghiệp vụ khác. Cán bộ phải nắm vững cơ sở pháp lý, từ Bộ luật Tố tụng hình sự đến các quy định của ngành, để áp dụng một cách chính xác.

Giải pháp thứ hai là đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ thông tin vào quá trình thu thập, quản lý và phân tích dữ liệu. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung, số hóa hồ sơ điều tra cơ bản sẽ giúp khắc phục tình trạng thông tin tản mạn, thiếu cập nhật. Công nghệ cho phép phân tích dữ liệu lớn (Big Data) để nhận diện các quy luật, xu hướng tội phạm, từ đó đưa ra những dự báo chính xác hơn. Cuối cùng, cần tăng cường cơ chế phối hợp giữa lực lượng CS QLHC với các lực lượng nghiệp vụ khác như Cảnh sát hình sự, kinh tế, ma túy. Sự phối hợp chặt chẽ, trao đổi thông tin thường xuyên sẽ tạo ra sức mạnh tổng hợp, giúp hoạt động phòng ngừa tội phạm đạt hiệu quả cao nhất.

4.1. Nâng cao năng lực cán bộ và nhận thức về nghiệp vụ

Con người là yếu tố quyết định. Cần phải chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng để mỗi cán bộ chiến sĩ, đặc biệt là Cảnh sát khu vực, nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của nghiệp vụ điều tra cơ bản. Nội dung đào tạo cần tập trung vào kỹ năng phân tích, đánh giá tình hình, thay vì chỉ dừng lại ở việc thu thập số liệu. Đồng thời, cần có cơ chế kiểm tra, giám sát thường xuyên và quy trách nhiệm rõ ràng để đảm bảo chất lượng công tác tại cơ sở, thúc đẩy vai trò của lực lượng công an nhân dân trong tình hình mới.

4.2. Tăng cường phối hợp giữa CS QLHC và các lực lượng khác

Công tác phòng chống tội phạm đòi hỏi sự hiệp đồng tác chiến. Quy chế phối hợp giữa CS QLHC và các lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm cần được cụ thể hóa. CS QLHC cung cấp thông tin nền tảng về địa bàn, đối tượng. Các lực lượng nghiệp vụ khác trên cơ sở đó tiến hành các biện pháp chuyên sâu như sưu tra, xác minh hiềm nghi, đấu tranh chuyên án. Việc trao đổi thông tin hai chiều, thường xuyên và kịp thời là chìa khóa để phá vỡ thế hoạt động đơn lẻ, tạo thành một mạng lưới phòng ngừa vững chắc, đảm bảo trật tự an toàn xã hội.

01/10/2025
Luận văn thạc sĩ luật học công tác điều tra cơ bản của lực lượng cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội phục vụ hoạt động phòng ngừa đấu tranh chống tội phạm trên địa bàn

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu đến khâu kết thúc. Theo lý luận trong tội phạm học, hành vi phạm tội nói chung thường diễn biến theo quy luật: Nguyên nhân, điều kiện phát sinh – tác động vào đối tượng – xuất hiện ý định phạm tội – chuẩn bị thực hiện hành vi – thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, để phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn tội phạm phải thực hiện theo các khâu tương ứng, từ việc tiến hành công tác điều tra cơ bản để nghiên cứu, thu thập tình hình, xác định các địa bàn, tuyến, lĩnh vực, các đối tượng có thể bị xâm hại … ; qua công tác sưu tra nhằm quản lý các đối tượng có nhiều yếu tố dễ bị tác động, hoặc đã bị tác động bởi các nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm làm xuất hiện ý định phạm tội; tiếp đến, bằng công tác xác minh hiềm nghi để xác định sự thật về các dấu hiệu, biểu hiện về ý định phạm tội chuyển sang chuẩn bị hoặc thực hiện hành vi phạm tội để có biện pháp ngăn chặn, đấu tranh, đồng thời thông qua công tác đấu tranh chuyên án để tổ chức các chiến thuật nghiệp vụ nhằm thu thập tài liệu, chứng cứ chứng minh tội phạm, bắt giữ đối tượng phạm tội nguy hiểm. Ngoài ra, trong quá trình thu thập thông tin, tài liệu để thực hiện các nhiệm vụ này, một biện pháp mang lại hiệu quả cao và không thể thiếu được, đó là sử dụng người cộng tác bí mật có điều kiện, khả năng tiếp cận đối tượng và thu thập thông tin, tài liệu.

Trên cơ sở xác định công tác nghiệp vụ cơ bản của lực lượng Cảnh sát nhân dân bao gồm các công tác chính: Điều tra cơ bản; sưu tra, xác minh hiềm nghi; dấu tranh chuyên án; xây dựng và sử dụng mạng lưới bí mật. Trong quá trình phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm, các công tác trên được kết hợp thực hiện thường xuyên, liên tục. Tuỳ từng loại đối tượng và tình huống nghiệp vụ cụ thể, việc tiến hành các nội dung công tác có thể tuân theo tuần tự từ điều tra cơ bản, sưu tra, xác minh hiềm nghi, đấu tranh chuyên án; hoặc cũng có thể bỏ qua một số khâu nhất định để đảm bảo hiệu 14 quả phòng ngừa, ngăn chặn, triệt phá tội phạm, như từ sưu tra có thể chuyển ngay sang xác lập, đấu tranh chuyên án … Tuy nhiên, trong tổng thể chung đó là một quá trình điều tra nghiên cứu mang tính chủ động và khách quan, đi từ diện đến điểm, từ nông đến sâu, giữa các mặt công tác có sự kế thừa, tương hỗ lẫn nhau trong mối quan hệ chặt chẽ. Mối quan hệ của các mặt công tác nghiệp vụ cơ bản còn thể hiện ở sự tác động tương hỗ lẫn nhau giữa các mặt công tác, việc thực hiện công tác này là điều kiện đảm bảo hiệu quả của công tác khác.

Ví dụ như phải làm tốt công tác xây dựng, sử dụng mạng lưới bí mật thì mới có cơ sở thông tin, tài liệu để quản lý đối tượng sưu tra, xác minh hiềm nghi, đấu tranh chuyên án; ngược lại, làm tốt công tác sưu tra sẽ có cơ sở cho việc phát triển hiềm nghi, chuyên án và phát hiện, lựa chọn con người phù hợp để xây dựng và bố trí vào mạng lưới bí mật. Công tác nghiệp vụ cơ bản còn có mối quan hệ xuyên suốt trong toàn bộ các hoạt động nghiệp vụ khác của lực lượng Cảnh sát nhân dân, nhất là có mối quan hệ khăng khít với công tác điều tra hình sự; quản lý, giáo dục, cải tạo phạm nhân; công tác quản lý hành chính về trật tự xã hội; các biện pháp kỹ thuật nghiệp vụ, khoa học hình sự; tuần tra, kiểm soát vũ trang; công tác xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc ở địa bàn cơ sở … Các mặt công tác này phải thường xuyên có sự hỗ trợ, cung cấp thông tin, tài liệu cho nhau, đồng thời có thể hỗ trợ tác chiến trong những trường hợp cần thiết. Thấy hết được những mối quan hệ này, để chúng ta thực hiện các mặt công tác nghiệp vụ một cách đồng bộ, khi làm việc này thì phải chú ý nghiên cứu phát triển cho việc khác, muốn làm tốt việc này thì phải làm có hiệu quả việc kia, tạo cho công tác nghiệp vụ có hệ thống, kế thừa liên tục các thành quả đã đạt được, khắc phục tình trạng rời rạc, cục bộ, kém hiệu quả. 15 Trong bối cảnh tăng cường hội nhập quốc tế và sự phát triển của khoa học công nghệ, công tác nghiệp vụ cơ bản của lực lượng Cảnh sát nhân dân cần phải vươn lên về mọi mặt để đáp ứng yêu cầu phòng ngừa, đấu tranh với các loại tội phạm có tính quốc tế và việc mở rộng hợp tác quốc tế về phòng, chống tội phạm.

Đây là yêu cầu có tính khách quan, vì tình hình tội phạm quốc tế hoạt động rất phức tạp và có xu hướng gia tăng nguy hiểm trong điều kiện toàn cầu hoá hiện nay. Tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới và phát triển và phát triển kinh tế đất nước, với xu thế hội nhập, đa phương hoá, đa dạng hoá. Việt Nam đã trực tiếp tham gia Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), tham gia Diễn đàn hợp tác Á-Âu (ASEM), Diễn đàn hợp tác kinh tế khu vực châu Á – Thái Bình Dương (APEC), gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), tiếp tục tăng cường mở rộng hợp tác kinh tế với các nước trên thế giới. Bên cạnh những thuận lợi, do tác động của những yếu tố tiêu cực nảy sinh, tình hình an ninh trật tự nói chung và tình hình hoạt động của bọn tội phạm nói riêng cũng sẽ có nhiều diễn biến phức tạp.

Đặc biệt, hoạt động của loại tội phạm có tính quốc tế, tội phạm xuyên quốc gia sẽ gia tăng trên nhiều phương diện, hoạt động của chúng diễn ra trên hầu hết các lĩnh vực, trong quan hệ đầu tư, thương mại, dịch vụ, du lịch …; bên cạnh đó là hoạt động buôn ma tuý, buôn bán vũ khí, buôn bán người, khủng bố, cướp biển, tội phạm lẩn trốn ra nước ngoài … Trong một số lĩnh vực, đã xuất hiện tội phạm quốc tế liên quan đến Việt Nam và có xu hướng ngày càng gia tăng, nhất là tội phạm về ma tuý, buôn bán phụ nữ, trẻ em, lừa đảo trong kinh doanh, dịch vụ. Xác định rõ vấn đề này, trong các văn bản của Bộ đã có phần qui định về đối tượng sưu tra là người nước ngoài, xây dựng đặc tình người nước ngoài, đặc tình ngoại biên … để đảm bảo cơ sở cho việc tiến hành các biện pháp phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh với tội phạm có tính quốc tế, tội phạm xuyên quốc gia. Tuy nhiên trong thực tế, các đơn vị, địa phương chưa thực hiện được nhiều, mà nguyên nhân chủ yếu là năng lực trong lĩnh vực 16 này còn hạn chế, điều kiện đảm bảo còn thiếu. Vì vậy, công tác nghiệp vụ cơ bản trong thời gian tới cần phải nghiên cứu biện pháp để đẩy mạnh trên các lĩnh vực có yếu tố nước ngoài, đảm bảo cho việc tổ chức phòng, chống các tội phạm có yếu tố nước ngoài được chủ động ngay từ đầu, cần tập trung phòng ngừa khi tình hình còn chưa đến mức quá phức tạp; đồng thời phải nâng cao trình độ, khả năng chuyên môn về phòng, chống tội phạm mới có thể đáp ứng được yêu cầu phòng, chống tội phạm hoạt động trên phạm vi quốc tế có liên quan đến Việt Nam và yêu cầu hợp tác với các nước trong phòng, chống tội phạm.

Nhận thức chung về công tác điều tra cơ bản của lực lượng Cảnh sát nhân dân 1. Khái niệm, vai trò của công tác điều tra cơ bản của lực lượng Cảnh sát nhân dân Công tác nghiệp vụ cơ bản của lực lượng Cảnh sát nhân dân luôn được chú trọng thực hiện, thông qua các văn bản của Bộ, ngành như Quyết định số 31/QĐ-BNV(C11) ngày 28/02/1995, Quyết định số 225/QĐ-BNV(C11) ngày 17/08/1994, các Quyết định số 658, 659/QĐ-BCA(C11) về công tác sưu tra, xác minh hiềm nghi, xây dựng và sử dụng mạng lưới bí mật. Tuy nhiên, qua thực tế áp dụng, công tác, chiến đấu, các quy định về công tác nghiệp vụ cơ bản của lực lượng Cảnh sát nhân trước đây có những nội dung còn thiếu hoặc không còn phù hợp, chậm được bổ sung, đổi mới; trong đó chưa có văn bản quy định riêng chính thức về công tác điều tra cơ bản của lực lượng Cảnh sát nhân dân. Trên tinh thần nhằm nâng cao hiệu quả các mặt công tác nghiệp vụ cơ bản của lực lượng cảnh sát nhân đáp ứng yêu cầu phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm trong tình hình mới, Bộ Công an có ra Chỉ thị số 05/CT- BCA(C11) ngày 06/06/2003 về việc chấn chỉnh, tăng cường công tác nghiệp 17 vụ cơ bản của lực lượng Cảnh sát nhân dân trong tình hình mới; kèm theo đó có Quyết định số 360/2003/QĐ-BCA(C11) ngày 06/06/2003 của Bộ trưởng Bộ Công an, về việc ban hành Qui định công tác điều tra cơ bản của lực lượng Cảnh sát nhân dân.

Điều 1 của Quyết định 360 nói trên đã nêu rõ: “Công tác điều tra cơ bản của lực lượng Cảnh sát nhân dân là một bộ phận của công tác điều tra nghiên cứu, có nhiệm vụ thu thập rộng rãi có hệ thống các thông tin, tài liệu về tình hình có liên quan ở một địa bàn, tuyến, lĩnh vực, hệ loại đối tượng … phục vụ công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm, giữ gìn trật tự an toàn xã hội. Công tác điều tra cơ bản là cơ sở quan trọng xác định những hệ loại đối tượng, tuyến, địa bàn, lĩnh vực trọng điểm, phức tạp về trật tự an toàn xã hội; phát hiện việc, hiện tượng, con người liên quan đến trật tự an toàn xã hội một cách có hệ thống; làm cơ sở đề ra các chủ trương, kế hoạch, biện pháp phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm, đảm bảo trật tự an toàn xã hội”. [ 9 ] Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, có thể thấy được một số điểm về vai trò và ý nghĩa của công tác điều tra cơ bản của lực lượng Cảnh sát nhân dân: - Đây là văn bản đầu tiên của Bộ Công an mang tính thống nhất các văn bản khác về nội dung công tác điều tra cơ bản của lực lượng Cảnh sát nhân dân. - Trong công tác nghiệp vụ cơ bản của lực lượng Cảnh sát nhân dân bao gồm các mặt công tác cụ thể như: Công tác điều tra cơ bản; công tác sưu tra, xác minh hiềm nghi; công tác xây dựng, sử dụng mạng lưới bí mật; công tác đấu tranh chuyên án.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ