CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Tiếp cận CLIL 1. Khái niệm Dạy học theo hướng tích hợp nội dung và ngôn ngữ (CLIL: Content and Language Integrated Learning) lần đầu tiên được giới thiệu tại châu Âu vào năm 1994 (Marsh, Maljers and Hartiala, 2001) [8] trong bối cảnh các trường học tìm ra những cách riêng để làm phong phú thêm trải nghiệm học tập của học sinh. CLIL được giới thiệu với nhiều cách định nghĩa khác nhau: Theo Van de Crean (2006), CLIL được xem là một phương pháp dạy học sáng tạo phù hợp để học tập kiến thức chuyên ngành cùng với học tập ngoại ngữ.
Trong đó một ngoại ngữ được bổ sung cho việc học và dạy cả nội dung và ngoại ngữ, tức là trong quá trình dạy và học không chỉ chú trọng nội dung, không chỉ chú trọng ngoại ngữ mà mỗi mục tiêu được đan xen. CLIL không phải là một hình thức giáo dục ngoại ngữ mới hay giáo dục bộ môn mới. Đây là sự kết hợp sáng tạo của cả nội dung và ngoại ngữ. Ngoài ra CLIL cũng được xem là một cách tiếp cận dạy học có liên quan đến ngôn ngữ, kiến thức, hiểu biết và các kĩ năng liên văn hóa; chuẩn bị cho việc hội nhập quốc tế hoặc sự tiến bộ của chính bản thân nền giáo dục đó.
CLIL được mô tả như một hướng tiếp cận dạy và học, trong đó nội dung được dạy thông qua một ngôn ngữ thứ hai không phải tiếng mẹ đẻ. Việc học một môn học thông qua ngôn ngữ không phải tiếng mẹ đẻ có thể khó khăn và thử thách hơn đối với người học. Học sinh được tiếp cận sâu rộng hơn với phạm vi ngôn ngữ đồng thời đạt được những kiến thức và kĩ năng trong các lĩnh vực khác (TKT: CLIL Handbook) [6]. Như vậy, CLIL là một định hướng trong đó tích hợp việc dạy nội dung của chương trình học với việc dạy một ngôn ngữ không phải tiếng mẹ đẻ.
CLIL được xây dựng với mục tiêu kép cả kiến thức môn học và ngoại ngữ. 5 Dạy học một nội dung môn học bằng ngoại ngữ không phải vấn đề mới. CLIL có cùng quan điểm dạy học theo hướng tiếp cận ngôn ngữ với một số phương pháp khác như bilingual education (Giáo dục song ngữ), Immersion (Nhúng), Content – based language (Dạy học ngôn ngữ dựa trên nội dung) hay English as an Additonal Language (Tiếng Anh như một ngôn ngữ thứ hai). Tuy nhiên CLIL vẫn có những điểm khác biệt cơ bản với những hướng tiếp cận này.
CLIL được định hướng vừa mở rộng nội dung và vừa mở rộng trải nghiệm ngôn ngữ. CLIL xem ngôn ngữ thứ hai như một bộ môn riêng biệt được được giảng dạy đồng thời với các bộ môn khác. Mục đích và ý nghĩa của việc dạy học Toán bằng Tiếng Anh theo định hướng CLIL Maljers et al (2007) [9] đã trình bày tổng quan về việc thực hành CLIL tại các nước Châu Âu bằng cách để các tác giả từ 20 quốc gia phản ánh về việc thực hành CLIL tại đất nước của họ. Một vấn đề được đặt ra cho các tác giả là “Mô tả mục đích của CLIL”.
Điều đáng chú ý là hầu hết các tác giả coi mục tiêu chính của CLIL là: thúc đẩy sự đa dạng ngôn ngữ; thúc đẩy việc học ngôn ngữ, nâng cao trình độ của người học và quốc tế hoá. Đây là những mục tiêu quan trọng và cơ bản của việc dạy học theo định hướng CLIL. Ở Việt Nam, việc triển khai dạy và học theo CLIL nói chung và việc dạy Toán Tiếng Anh nói riêng cũng dựa trên những mục đích cơ bản trên, từ đó: - Nâng cao kĩ năng sử dụng ngôn ngữ Tiếng Anh chuyên ngành cho học sinh: Việc sử dụng các từ Toán chuyên ngành bằng Tiếng Anh là một hình thức để rèn luyện và nâng cao khả năng sử dụng ngôn ngữ Tiếng Anh cho học sinh. Nhất là với theo hướng tiếp cận CLIL các từ vựng lồng ghép cùng với tình huống, hoàn cảnh, văn hóa sử dụng giúp học sinh nắm vững và có kiến thức sâu rộng hơn về các từ vựng.
- Giúp tăng cường sự tự tin giao tiếp học thuật bằng Tiếng Anh: Được tiếp cận, rèn luyện kĩ năng sử dụng tiếng Anh học thuật từ sớm giúp 6 học sinh có được nền tảng vững chắc để giao tiếp không chỉ là giao tiếp phổ thông mà còn là giao tiếp về chuyên môn, tạo bước đệm cho học sinh hòa nhập tốt hơn với các môi trường học tập trên thế giới và trong công việc sau này của học sinh. - Hòa nhập và phát triển với các nền giáo dục trên thế giới: Việt Nam đang trong quá trình hội nhập quốc tế một cách mạnh mẽ và sâu rộng, sự phát triển của khoa học kĩ thuật và công nghệ đòi hỏi nền giáo dục Việt Nam cũng cần phải đổi mới. Tiếng Anh chuyên ngành là một phương tiện, là cầu nối để giúp chúng ta tiếp cận với nền khoa học của thế giới. Việc sử dụng thông thạo Tiếng Anh học thuật đem lại nhiều lợi ích cho việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cho sự phát triển của đất nước.
- Hình thành thói quen, ý thức chủ động học tập cho học sinh: Việc dạy các môn học bằng Tiếng Anh giúp học sinh không chỉ được tiếp thu kiến thức chuyên ngành mà còn có cơ hội rèn luyện các kĩ năng ngôn ngữ như nghe, nói, đọc, viết trong quá trình nghe giảng, trao đổi và thảo luận. Học sinh được tiếp cận với những kiến thức của thế giới. Từ đó giúp học sinh hình thành các thói quen, ý thức học tập tự giác, chủ động. Các mô hình CLIL Bentley (2015) [7] giới thiệu ba mô hình của CLIL.
Mô hình “CLIL” thường được dùng để chỉ một loạt các tình huống và mô hình dạy học khác nhau. Trong đó, mô hình CLIL mềm là mô hình một số trường dạy các nội dung dưới hình thức một phần khoá học ngoại ngữ. Mô hình CLIL cứng là mô hình một số trường dạy chương trình tích hợp một phần, tức là một nửa chương trình học được dạy bằng ngoại ngữ. Còn nằm giữa hai mô hình CLIL mềm và cứng, một số trường lại lựa chọn dạy theo mô - đun, tức là các môn học như khoa học hay nghệ thuật được dạy trong một số giờ nhất định bằng 7 ngoại ngữ.1 trình bày một ví dụ của ba mô hình CLIL có thể có: ngoại ngữ chủ đạo, môn chuyên chủ đạo và tích hợp một phần.1: Mô hình CLIL CLIL Dạng CLIL Thời gian Mô hình mềm Ngôn ngữ chủ 45 phút một Một số chủ đề môn chuyên đạo tuần được dạy suốt khóa học ngoại ngữ.
Môn chuyên chủ 15 giờ suốt một Chọn những phần của đạo (mô – đun) học kì chương trình môn chuyên đề để dạy bằng ngoại ngữ. Môn chuyên chủ Khoảng 50% Khoảng một nửa chương đạo (tích hợp chương trình trình học được dạy bằng một phần) học ngoại ngữ. Nội dung học có thể là những gì đã được dạy CLIL bằng ngôn ngữ thứ nhất hoặc cứng là một nội dung hoàn toàn mới. Bốn chữ C của CLIL CLIL được mô tả bao gồm 4 chữ C thành phần: Nội dung (Content), giao tiếp (Communication), tư duy (Cognition) và văn hóa (Culture) (Coyle, 2007, Coyle, Hood and Marsh, 2010) [8].
Chữ C thứ 4 đôi khi được hiểu là công dân (Citizenship) hay cộng đồng (Community). Bốn chữ C được liên kết chặt chẽ với nhau để biểu đạt mục tiêu và kết quả học tập thông qua việc tích hợp giữa nội dung, giao tiếp, tư duy và văn hóa. Nội dung (Content): Các môn học thường được dạy trong CLIL bao gồm toán học, tin học, văn học, giáo dục thể chất, địa lí, lịch sử, giáo dục công dân, âm nhạc và các môn khoa học. Một số chương trình CLIL phát triển sự liên môn giữa các môn học với nhau.
Ví dụ, đối với môn Toán, các 8 nội dung có thể được dạy là: hình học trực quan, hàm số và đồ thị, phương trình, hệ phương trình, … Giao tiếp (Communication): Người học cần phải sử dụng ngoại ngữ dành cho môn chuyên ngành ở cả dạng nói và dạng viết. CLIL nhắm đến việc tăng cường thời gian học sinh nói (student talking time) và giảm thời gian giáo viên nói (teacher talking time). Chúng ta cũng nên khuyến khích sự tự đánh giá và các phản hồi theo nhóm và của bạn học. Trong quá trình học tập, khi học sinh sử dụng ngoại ngữ để học nội dung tức là đã tích hợp kiến thức môn chuyên ngành và kĩ năng ngoại ngữ.
“Bằng cách sử dụng ngoại ngữ để học nội dung, việc giao tiếp trở nên có ý nghĩa vì ngoại ngữ là một công cụ để giao tiếp, không phải là mục đích cuối cùng” (Perez – Vidal, 2009). Ví dụ, trong lớp CLIL toán học, học sinh sử dụng ngoại ngữ để thảo luận theo nhóm các cách để cắt ghép hình chữ nhật từ hình thoi. Nhận thức (Cognition): CLIL thúc đẩy các kĩ năng tư duy hay kĩ năng nhận thức và điều này tạo ra sự thử thách đối với người học. Các kĩ năng tư duy của người học cần được phát triển để từ đó họ có thể học tốt các nội dung môn chuyên ngành.
Các kĩ năng đó bao gồm: kĩ năng lập luận, tư duy sáng tạo, tư duy phản biện và đánh giá. “Việc dạy học CLIL tốt được dẫn đường bởi tư duy” (Mehisto, Marsh, Frigols, 2008). Người học cũng cần dạy thứ ngôn ngữ họ cần để bộc lộ suy nghĩ và quan điểm. Ví dụ trong lớp CLIL toán học, học sinh sử dụng ngoại ngữ để phân tích sự khác nhau giữa các đại lượng tỉ lệ thuận và đại lượng tỉ lệ nghịch.
Văn hóa (Culture): Vai trò của văn hóa, hiểu chính mình và các nền văn hoá khác, là một phần quan trọng của CLIL. “Văn hóa là trung tâm của CLIL” (Coyle, 2007). Người học đôi lúc cần giao tiếp bằng ngoại ngữ với những người từ các nước có ngôn ngữ khác, cũng như có nền tảng về văn hóa và xã hội khác họ. Người học cũng có lúc cần đến kiến thức của các vùng miền hoặc đất nước khác.
Vì vậy, CLIL cho chúng ta cơ hội để giới thiệu một 9 loạt các bối cảnh văn hóa khác nhau. Người học cần được giáo dục thành những người có thái độ tích cực và ý thức được trách nhiệm của một người công dân toàn cầu cũng như tại khu vực mình đang sinh sống. Ví dụ, người học có thể tạo mối liên hệ với bạn bè khắp thế giới và tận dụng internet để trao đổi với họ về một dự án thiết kế của địa phương.