mở đầu; triển khai, kết thúc; các câu, đoạn có mối liên kết với nhau để đảm bảo tính mạch lạc trong bài viết. - Về kĩ năng nói và nghe: + Kĩ năng nói gồm các yêu cầu về âm lượng, tốc độ, cách diễn đạt trình bày, thái độ, sự kết hợp các cử chỉ điệu bộ, phương tiện hỗ trợ khi nói,. + Kĩ năng nghe: gồm các yêu cầu về cách nghe, cách ghi chép, hỏi đáp, thái độ, sự kết hợp các cử chỉ, điệu bộ khi nghe, nghe qua các phương tiện kĩ thuật,. 14 + Kĩ năng nói và nghe có tính tương tác: gồm các yêu cầu về thái độ, sự tôn trọng nguyên tắc hội thoại và các quy định trong thảo luận, phỏng vấn.
Nhìn chung, nói hoặc nghe đều chú ý ba yêu cầu: nội dung, cách thức và thái độ nói, nghe. Yêu cầu về phương pháp dạy học Ngữ văn a) Phương pháp dạy đọc Mục đích chủ yếu của dạy đọc trong nhà trường phổ thông là giúp HS biết đọc và tự đọc được văn bản; thông qua đó bồi dưỡng, giáo dục phẩm chất, nhân cách HS. Đối tượng đọc gồm văn bản văn học, văn bản nghị luận và văn bản thông tin. Mỗi kiểu văn bản có những đặc điểm riêng, vì thế cần có cách dạy học đọc hiểu văn bản phù hợp.
Dạy học đọc hiểu văn bản nói chung: Yêu cầu HS đọc trực tiếp toàn bộ văn bản, chú ý quan sát các yếu tố hình thức của văn bản, từ đó có ấn tượng chung và tóm tắt được nội dung chính của văn bản; tổ chức cho HS tìm kiếm, phát hiện, phân tích, suy luận ý nghĩa các thông tin, thông điệp, quan điểm, thái độ, tư tưởng, tình cảm, cảm xúc,. được gửi gắm trong văn bản; hướng dẫn HS liên hệ, so sánh giữa các văn bản, kết nối văn bản, biết vận dụng, chuyển hóa những giá trị ấy thành niềm tin và hành vi ứng xử của cá nhân trong cuộc sống hằng ngày. Dạy học đọc hiểu văn bản văn học: Văn bản văn học cũng cũng cần tuân thủ cách đọc hiểu văn bản nói chung. Tuy nhiên, văn bản văn học có những đặc điểm riêng vì thế GV tổ chức cho HS tìm hiểu, giải mã văn bản theo một quy trình phù hợp với đặc trưng của văn bản nghệ thuật.
HS cần được hướng dẫn và luyện tập đọc tác phẩm văn học theo quy trình từ tri nhận văn bản ngôn từ đến khám phá thế giới hình tượng nghệ thuật và tìm kiếm, đúc kết nội dung ý nghĩa; ngoài ra học sinh được hướng dẫn kĩ năng tìm kiếm, phát hiện tính chỉnh thể, tính thống nhất về nội dung và hoàn chỉnh về hình thức của văn bản văn học. 15 Khi dạy đọc văn bản văn học, giáo viên cần quan tâm đến: Bám sát văn bản đọc hiểu, chú trọng những đặc trưng chung và riêng của thể loại văn bản văn học, gắn việc tổ chức hoạt động dạy học đọc hiểu với đổi mới đánh giá theo định hướng phát triển năng lực của học sinh. b) Phương pháp dạy học viết Mục đích của dạy viết là rèn luyện tư duy và cách viết, qua đó mà giáo dục phẩm chất và phát triển nhân cách HS. Vì thế khi dạy viết, GV chú trọng yêu cầu tạo ra ý tưởng một cách mạch lạc, sáng tạo và có sức thuyết phục.
GV tập trung vào yêu cầu hướng dẫn HS các bước tạo lập văn bản, thực hành viết theo các bước và đặc điểm của kiểu văn bản. Thông qua thực hành, GV hướng dẫn HS phân tích các văn bản ở phần đọc hiểu và văn bản bổ sung để nắm được đặc điểm của các kiểu văn bản, quy trình tạo lập văn bản; sử dụng các câu hỏi giúp HS xác định được mục đích và nội dung viết; giới thiệu các nguồn tư liệu, hướng dẫn cách tìm ý tưởng và phác thảo dàn ý, hướng dẫn HS viết văn bản; tự chỉnh sửa và trao đổi dựa trên các tiêu chí đánh giá bài viết. GV sử dụng những phương pháp như phân tích mẫu, đặt câu hỏi, nêu vấn đề, gợi mở,. để hướng dẫn HS hình thành dàn ý, lựa chọn cách triển khai, diễn đạt; tổ chức cho HS thực hành viết văn bản, có thể viết từng phần; mở bài, kết bài, một hoặc một số đoạn trong phần thân bài.
Tổ chức dạy viết đoạn và bài văn thường gồm các hoạt động chủ yếu như: nêu nhiệm vụ mà HS cần thực hiện; yêu cầu HS làm việc cá nhân, cặp đôi hoặc theo nhóm; tổ chức trình bày kết quả làm việc; thảo luận về các nhiệm vụ được giao và tự rút ra nội dung bài học; nhận xét, đánh giá,.; sau khi viết xong, HS cần có cơ hội nói, trình bày những gì đã viết. c) Phương pháp dạy học nói và nghe Mục đích của dạy nói và nghe nhằm giúp HS có khả năng diễn đạt, trình bày bằng ngôn ngữ nói một cách rõ ràng, tự tin; có khả năng hiểu đúng; 16 biết tôn trong người nói, người nghe; có thái độ phù hợp trong trao đổi, thảo luận. Dạy nói và nghe không chỉ phát triển năng lực giao tiếp mà còn giáo dục phẩm chất và nhân cách HS. Trong dạy nói, GV hướng dẫn cho HS quan sát, phân tích mẫu đồng thời hướng dẫn cách làm và tổ chức cho HS thực hành; hướng dẫn cách thức, quy trình chuẩn bị một bài thuyết trình và trình bày trước nhóm, tổ, lớp; cách thức và quy trình chuẩn bị một cuộc thảo luận, tranh luận và cách tham gia thảo luận, tranh luận.
Trong dạy nghe, GV hướng dẫn cho HS cách nắm bắt được nội dung nghe, cách hiểu và đánh giá quan điểm, ý định của người nói; cách kiểm tra những thông tin chưa rõ; có thái độ nghe tích cực và tôn trọng người nói, tôn trọng những ý kiến khác biệt; cách hợp tác, giải quyết vấn đề với thái độ tích cực. Đối với kĩ năng nói nghe tương tác, GV hướng dẫn HS biết lắng nghe và biết đặt câu hỏi để hiểu nội dung nghe, biết nói theo lượt lời trong hội thoại, biết dùng các phương tiện nghe nhìn khác để hỗ trợ cho lời trình bày miệng. Thực hành nghe nói là hoạt động chính, nhằm rèn kĩ năng nghe nói cho HS. Để tạo điều kiện cho mọi HS được thực hành nói, GV linh hoạt trong việc tổ chức các hoạt động học tập như: yêu cầu từng cặp HS nói cho nhau nghe hoặc HS trình bày bài nói trước nhóm, lớp; tổ chức cho HS thảo luận, tranh luận và có khả năng giải quyết vấn đề qua trao đổi, thảo luận; chia nhóm, lắng nghe nhận xét, rút kinh nghiệm dựa trên những hướng dẫn cụ thể về tiêu chí đánh giá mà GV cung cấp.3 Yêu cầu về phương pháp đánh giá môn Ngữ văn.
a) Mục tiêu đánh giá Đánh giá kết quả giáo dục trong môn Ngữ văn nhằm cung cấp thông tin chính xác, kịp thời; có giá trị về mức độ đáp ứng yêu cầu cần đạt về phẩm chất, năng lực và những tiến bộ của HS trong suốt quá trình học tập môn học, để hướng dẫn hoạt động học tập, điều chỉnh các hoạt động dạy học, quản lí và 17 phát triển chương trình, đảm bảo sự tiến bộ của từng HS và nâng cao chất lượng giáo dục. b) Căn cứ đánh giá Căn cứ đánh giá kết quả giáo dục trong môn Ngữ văn là các yêu cầu cần đạt về phẩm chất, năng lực đối với HS mỗi lớp học, cấp học đã quy định trong chương trình. c) Nội dung đánh giá Trong môn Ngữ văn, GV đánh giá phẩm chất, năng lực chung, năng lực đặc thù và sự tiến bộ của HS thông qua hoạt động đọc, viết, nói, nghe. Đánh giá hoạt động đọc: Tập trung vào yêu cầu HS hiểu nội dung, chủ đề của văn bản, quan điểm và ý định của người viết; xác định các đặc điểm thuộc về phương thức thể hiện, nhất là về mặt kiểu văn bản, thể loại và ngôn ngữ sử dụng; trả lời các câu hỏi theo những cấp độ tư duy khác nhau; lập luận, giải thích cho cách hiểu của mình; nhận xét, đánh giá về giá trị và sự tác động của văn bản đối với bản thân; thể hiện cảm xúc đối với những vấn đề được đặt ra trong văn bản; liên hệ, so sánh giữa các văn bản và giữa văn bản với đời sống.
Đánh giá hoạt động nói và nghe: Tập trung vào yêu cầu HS nói đúng chủ đề và mục tiêu; cần sự tự tin của người nói; biết chú ý đến người nghe; biết tranh luận và thuyết phục, phản biện; có kĩ thuật nói thích hợp; biết sử dụng các phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ và phương tiện công nghệ hỗ trợ. Đối với kĩ năng nghe, bài học `yêu cầu HS nắm bắt nội dung do người khác nói; nắm bắt và đánh giá được quan điểm, ý định của người nói; biết lắng nghe và tôn trọng ý kiến khác biệt. d) Cách thức đánh giá Đánh giá trong môn Ngữ văn thực hiện bằng hai hình thức: đánh giá thường xuyên và đánh giá định kì. 18 Đánh giá thường xuyên được GV thực hiện liên tục trong suốt quá trình dạy học.
Hình thức đánh giá bao gồm: GV đánh giá HS, HS đánh giá lẫn nhau, HS tự đánh giá. Để đánh giá thường xuyên, GV có thể dựa trên quan sát và ghi chép hằng ngày về HS, việc HS trả lời câu hỏi hoặc thuyết trình làm bài kiểm tra, việc phân tích và phản hồi văn học, viết thu hoạch, làm bài tập nghiên cứu, làm dự án sưu tầm tư liệu,. Đánh giá định kì được thực hiện ở thời điểm giữa hoặc cuối một giai đoạn học tập như cuối học kì hay cuối cấp học. Việc đánh giá định kì do cơ sở giáo dục tổ chức thực hiện để phục vụ công tác quản lí hoạt động dạy học, đảm bảo chất lượng giáo dục và phục vụ công tác phát triển chương trình, tài liệu học tập.
Dù đánh giá theo hình thức nào cũng đều phải bảo đảm nguyên tắc HS được bộc lộ, thể hiện phẩm chất, năng lực, tư duy hình tượng và tư duy logic, những suy nghĩ và tình cảm của HS và không vay mượn, sao chép đặc biệt khuyến khích các bài viết có cả cá tính và sáng tạo. HS cần được hướng dẫn tìm hiểu để có thể nắm vững mục tiêu, phương pháp và hệ thống các tiêu chí dùng để đánh giá các phẩm chất và năng lực. Những vấn đề về dạy học truyện KHVT lớp 7 theo Chương trình 2018 1. Các yêu cầu về năng lực và phẩm chất của người học a) Yêu cầu về năng lực Trong chương trình GDPT mới, đối với cấp THCS, yêu cầu cần đạt về năng lực ngôn ngữ và năng lực văn học khác nhau và mức độ sẽ tăng lên ở từng khối lớp.