Luận văn: Áp dụng PPDH tích cực cho Tiếng Anh 9 tại THCS Linh Đông

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu áp dụng phương pháp dạy học tích cực cho môn Tiếng Anh 9. Phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả.

Chuyên ngành

Giáo Dục Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2014

118
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khái Niệm Và Tầm Quan Trọng Của Dạy Học Tích Cực Môn Tiếng Anh 9

Dạy học tích cực là phương pháp giáo dục hiện đại tập trung vào việc kích thích sự năng động, sáng tạo và chủ động của học sinh. Trong bối cảnh đổi mới chương trình giáo dục quốc phòng, áp dụng phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa người học cho môn Tiếng Anh 9 là một yêu cầu cấp thiết. Tiếng Anh không chỉ là một môn học mà còn là công cụ giao tiếp quốc tế giúp học sinh tiếp cận kiến thức khoa học, kỹ thuật tiên tiến và hội nhập với cộng đồng quốc tế. Dạy học tích cực môn Tiếng Anh 9 giúp học sinh phát triển toàn diện, nâng cao khả năng thực hành ngôn ngữ và tạo môi trường học tập năng động, khuyến khích học sinh tham gia tích cực vào quá trình học tập.

1.1. Định Nghĩa Dạy Học Tích Cực

Dạy học tích cực là phương pháp giáo dục đặt người học làm trung tâm của quá trình học tập. Phương pháp này khuyến khích học sinh chủ động, tự giác và sáng tạo trong việc chiếm lĩnh kiến thức. Thay vì thụ động tiếp nhận thông tin từ giáo viên, học sinh sẽ tham gia tích cực vào các hoạt động học tập, giải quyết vấn đề, và xây dựng kiến thức của chính mình.

1.2. Tầm Quan Trọng Trong Giáo Dục Tiếng Anh

Mục tiêu giáo dục hiện đại là phát triển kỹ năng thực hànhtính tích cực học tập của học sinh. Dạy học tích cực môn Tiếng Anh 9 giúp học sinh không chỉ nắm vững kiến thức ngữ pháp mà còn phát triển khả năng giao tiếp thực tế, tự tin sử dụng tiếng Anh trong các tình huống hàng ngày. Điều này tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển tương lai của học sinh.

II. Cơ Sở Lý Luận Và Tâm Sinh Lý Của Dạy Học Tích Cực

Cơ sở lý luận của dạy học tích cực xuất phát từ những nghiên cứu trong lĩnh vực tâm lý học, giáo dục học và ngôn ngữ học. Quan điểm lấy người học làm trung tâm cho rằng học sinh không phải là những thể nhận động mà là những chủ thể tích cực trong quá trình học tập. Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh lớp 9 cho thấy họ cần các hoạt động hấp dẫn, thiết thực và liên quan đến đời sống thực. Phương pháp dạy học tích cực tận dụng đặc điểm này để tạo ra những bài học sinh động, có tính thực hành cao, giúp học sinh kích thích hứng thú học tập và nâng cao hiệu quả học tập môn Tiếng Anh 9.

2.1. Các Lý Thuyết Cơ Bản Về Dạy Học Tích Cực

Lý thuyết xây dựng kiến thức cho rằng học sinh tự xây dựng kiến thức thông qua các hoạt động học tập. Lý thuyết học tập hợp tác nhấn mạnh vai trò của tương tác giữa các học sinh trong quá trình học tập. Phương pháp dạy học tích cực kết hợp những lý thuyết này để tạo ra môi trường học tập năng động, hợp tác và sáng tạo.

2.2. Đặc Điểm Tâm Sinh Lý Của Học Sinh Lớp 9

Học sinh lớp 9 ở giai đoạn phát triển tuổi dậy thì, có nhu cầu tự khẳng địnhđược công nhận. Họ có khả năng tư duy trừu tượng tốt hơn nhưng vẫn cần những hoạt động cụ thể, sinh động. Dạy học tích cực môn Tiếng Anh 9 cần tính đến những đặc điểm này để thiết kế các hoạt động phù hợp với nhu cầu và khả năng của học sinh.

III. Các Phương Pháp Và Kỹ Thuật Dạy Học Tích Cực Môn Tiếng Anh 9

Để thực hiện dạy học tích cực môn Tiếng Anh 9, giáo viên có thể áp dụng nhiều phương pháp và kỹ thuật đổi mới. Phương pháp đóng vai giúp học sinh thực hành ngôn ngữ trong bối cảnh thực tế, phát triển kỹ năng giao tiếp. Phương pháp trò chơi ngôn ngữ tạo ra môi trường học tập vui vẻ, hấp dẫn, giúp học sinh chủ động tiếp thu kiến thức. Phương pháp học tập hợp tác khuyến khích học sinh làm việc nhóm, phát triển kỹ năng xã hội. Phương pháp dạy tiếng Anh qua bài hát kết hợp âm nhạc với ngôn ngữ, giúp học sinh ghi nhớ từ vựng và cấu trúc ngữ pháp một cách tự nhiên. Kỹ thuật bản đồ tư duyđộng não giúp học sinh tổ chức thông tinphát triển tư duy sáng tạo.

3.1. Phương Pháp Trò Chơi Ngôn Ngữ Và Đóng Vai

Trò chơi ngôn ngữ là các hoạt động vui vẻ, hấp dẫn giúp học sinh thực hành ngôn ngữ một cách tự nhiên. Phương pháp đóng vai cho phép học sinh vào vai các nhân vật trong các tình huống thực tế, giúp phát triển khả năng giao tiếp thực hành. Cả hai phương pháp này đều giúp học sinh giảm bớt áp lực, tăng hứng thú học tậpghi nhớ kiến thức lâu hơn.

3.2. Kỹ Thuật Bản Đồ Tư Duy Và Động Não

Kỹ thuật bản đồ tư duy giúp học sinh tổ chức thông tin một cách hệ thống và trực quan. Kỹ thuật động não là quá trình kích thích tư duy sáng tạo thông qua các hoạt động không có phán xét. Cả hai kỹ thuật này kích thích trí tưởng tượng, giúp học sinh phát triển tư duy sáng tạonâng cao khả năng giải quyết vấn đề.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Và Kết Quả Thực Nghiệm Sư Phạm

Luận văn thạc sĩ của Lê Thị Lệ Tâm đã tiến hành thực nghiệm sư phạm tại trường THCS Linh Đông, quận Thủ Đức, TP.HCM với lớp 9/6. Các kết quả của dạy học tích cực môn Tiếng Anh 9 cho thấy tính khả thi và hiệu quả rõ rệt. Học sinh có hứng thú học tập tăng lên đáng kể, tham gia tích cực vào các hoạt động học tập, kỹ năng giao tiếp được cải thiện. Phương pháp dạy học tích cực không chỉ nâng cao kết quả học tập mà còn phát triển năng lực toàn diện cho học sinh. Những kết quả này chứng minh rằng áp dụng dạy học tích cựcgiải pháp hiệu quả trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học hiện nay.

4.1. Quá Trình Thực Nghiệm Sư Phạm

Thực nghiệm sư phạm được tiến hành với phương pháp khoa học, bao gồm quan sát, thử nghiệm các phương pháp mới trên lớp, và đánh giá kết quả. Các giáo viên áp dụng trò chơi ngôn ngữ, đóng vai, thảo luận nhóm, ca hát, bản đồ tư duyđộng não trong quá trình giảng dạy. Quá trình này giúp xác định những phương pháp hiệu quả nhất cho dạy học tích cực môn Tiếng Anh 9.

4.2. Những Kết Quả Đạt Được

Kết quả thực nghiệm sư phạm cho thấy tính tích cực và chủ động của học sinh tăng đáng kể. Học sinh tham gia tích cực vào các hoạt động, tương tác nhiều hơn với bạn học và giáo viên. Kỹ năng ngôn ngữ thực hành được cải thiện rõ rệt, học sinh tự tin sử dụng tiếng Anh hơn. Động lực học tập được khơi dậy, học sinh không còn e ngại khi thực hành ngôn ngữ.

22/12/2025
Luận văn thạc sĩ áp dụng phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa người học cho môn tiếng anh 9 tại trường thcs linh đông quận thủ đức thành phố hồ chí minh

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm 3 chương: hương 1: ơ sở lý luận về dạy học theo hướng tích cực hóa người học. hương 2: Thực trạng dạy học môn tiếng Anh 9 tại trường TH S Linh Đông. hương 3: Áp dụng phương pháp và kỹ thuật dạy học theo hướng tích cực hóa người học cho môn tiếng Anh 9 tại trường TH S Linh Đông. 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DẠY HỌC THEO HƢỚNG TÍCH CỰC HÓA NGƢỜI HỌC 1.

Lịch sử vấn đề nghiên cứu: 1. Trên thế giới: Tư tưởng về tính tích cực của người học đã có từ lâu. Từ thời cổ đại, các nhà sư phạm lỗi lạc đã đề cập đến tầm quan trọng của vấn đề này và đã bàn đến nhiều biện pháp phát huy tính tích cực của người học. Socrates (469 – 339 TCN), người thầy vĩ đại của Hy Lạp cổ đại đã từng dạy các học trò của mình bằng cách luôn đặt các câu hỏi gợi mở nhằm giúp người học dần dần phát hiện ra chân lý [33, tr.

Ở Trung Hoa, Khổng Tử (551 – 479 T N) đòi hỏi người học phải tìm tòi, suy nghĩ, đào sâu trong quá trình học. Ông nói: “Không tức giận vì muốn biết thì không gợi mở cho, không bực tức vì không rõ được thì không bày vẽ cho. Vật có bốn gốc, bảo cho biết một góc mà không suy ra ba góc kia thì không dạy nữa” [32, tr. Montaigne (1533 – 1592) nhà quý tộc Pháp, người chuyên nghiên cứu lý luận, đặc biệt là về giáo dục đã đề ra phương pháp giáo dục “học qua hành”.

Ông cho rằng: “Muốn đạt được mục tiêu này, tốt nhất là bắt trò liên tục hành để học, học qua hành. Vậy vấn đề không phải là giảng dạy một cách giáo điều, thầy nói liên tục. Trái lại, chủ yếu bắt trò hoạt động, vận dụng khả năng phán đoán của mình [14, tr.Komensky (1592 – 1670), nhà giáo dục Tiệp Khắc đã đưa ra bí quyết về phương pháp giảng dạy: “Bí quyết của giáo dục là rèn luyện cho các em một tâm hồn dễ dàng, tích cực, tự do, ngăn cản được các điều mà các em muốn làm, ngược lại đẩy được các em làm những điều mà chúng không muốn”. Ông nêu rõ: “ hủ yếu dạy các em qua việc làm chứ không phải qua lời giảng”.

Trong tác phẩm “Lý luận 6 dạy học vĩ đại” của mình, ông đã nêu tính tự giác, tính tích cực với tư cách là một trong những nguyên tắc dạy học quan trọng và cơ bản nhất [11].Rousseau (1712 – 1778) là lý luận thiên tài của Pháp thời kỳ khai sáng, kịch liệt phê phán nhà trường đương thời lạm dụng lời nói, ông coi trọng sự phát triển tự nhiên, tự do, coi trọng tự giáo dục của trẻ, phản đối việc chèn ép cá tính của trẻ. Ông cho rằng muốn giáo dục con người tốt phải bằng hoạt động tiếp cận đối tượng với hoạt động, với thực tế. Ông nhận xét cách giảng dạy ba hoa sẽ tạo nên những con người ba hoa, đừng cho trẻ em khoa học mà phải để tự nó tìm tòi ra khoa học. Ông viết: “Không dạy các em môn khoa học mà chỉ khêu gợi tinh thần yêu chuộng khoa học và cấp cho các em phương pháp học khoa học, khi nào tinh thần yêu chuộng khoa học phát triển hơn nữa.

Đó là nguyên tắc căn bản của mỗi nền giáo dục tốt” [23, tr. Như vậy, với các tư tưởng giáo dục tiến bộ trên, chúng ta thấy giáo dục có ý nghĩa rất rộng, bao hàm phần lớn các lĩnh vực và khái niệm học tập tích cực như: học qua trải nghiệm, học thông qua giải quyết vấn đề,. Kế thừa ý tưởng giáo dục của các thời đại trước, trong thế kỷ XIX, XX các nhà giáo dục Đông – Tây đều tìm đến con đường phát huy tính tích cực học tập, chủ động, sáng tạo của người học. Nước Đức là một quốc gia điển hình chịu ảnh hưởng sâu rộng quan điểm sư phạm hiện đại của Pestalozzi “lấy học sinh làm trung tâm”, nhiều trường học được thiết lập và áp dụng phương pháp giáo dục mới.

Vào đầu thế kỷ XIX, nước Anh nhận định rằng phương pháp mới đối với họ có giá trị nhưng chưa có điều kiện thực hiện và phổ biến. Tại Mỹ, phương pháp sư phạm mới được giới thiệu Philadelphia. Tại Thụy Sĩ, một trung tâm giáo dục được thiết lập để giảng dạy theo phương pháp lấy học sinh làm trung tâm [33, tr.Piaget cho rằng: “dựa trên quan điểm cá nhân luôn hoạt động, không có hoạt động thì cá nhân không tồn tại trong môi trường tự nhiên và xã hội xung quanh mình. Chỉ có trong 7 hoạt động thì tính tích cực, tâm lý, ý thức của con người mới bộc lộ, nảy sinh, hình thành và phát triển” [20].Rubinstein khẳng định: “Bất kỳ hoạt động nào của con người cũng xuất phát từ chỗ nó là một cá nhân, như một chủ thể của hoạt động đó”.

Học là một hoạt động, một hành vi tích cực chứ không phải là chỉ tiếp nhận, có động cơ cá nhân chứ không phải có sự khác biệt cá nhân, do xã hội quy định chứ không phải nội sinh và phụ thuộc cao độ vào phương pháp. Muốn học sinh chuyển tri thức nhân loại thành kiến thức của bản thân thì người thầy phải tổ chức cho học sinh tích cực hoạt động [35]. Nghiên cứu của S.Franz về những biểu hiện thái độ học tập tích cực đã được công nhận và sử dụng rộng rãi đó là: 1/ trên lớp chú ý nghe giảng; 2/ học bài và làm bài đầy đủ; 3/ cố gắng vươn lên học được nhiều; 4/ không vội vàng phản ứng tiêu cực nếu có chỗ nào chưa hiểu hoặc không nhất trí với bài giảng; 5/ đảm bảo kỷ luật để học tốt; 6/ cố gắng đạt thành tích học tập tốt và nâng cao thành tích học tập của mình một cách trung thực; 7/ thích độc lập thực hiện nhiệm vụ học tập; 8/ hăng hái nhiệt tình trong giờ thảo luận và chữa bài tập; 9/ hoàn thành nhiệm vụ học tập một cách nghiêm túc; 10/ giữ gìn tài liệu học tập cẩn thận [27].Ôkôn trong cuốn “Những cơ sở của việc dạy học nêu vấn đề” cho rằng tính tích cực là lòng mong muốn hành động được nảy sinh một cách không chủ định và gây nên những biểu hiện bên ngoài hay bên trong của sự hoạt động. Chủ thể đã ý thức được mục đích hành động [34].Pôlia trong cuốn “Sáng tạo toán học”-1977, I.Kharlamôp trong cuốn “Phát huy tính tích cực học tập của học sinh như thế nào”-1978 đã cho rằng tính tích cực là trạng thái hoạt động của chủ thể [13], [18].

Trong cuốn “Dạy học nêu vấn đề” của I.Lecne, nhà giáo dục Xô Viết đã nói: “Mục đích của tập sách này là làm sáng rõ bản chất của PPDH gọi là dạy học nêu vấn đề, vạch rõ cơ sở của phương pháp đó, tác dụng của nó và phạm vi áp dụng nó” [14, tr. Đầu thế kỷ XIX trong tác phẩm của mình, nhà giáo dục Nga K.Usinxki, đã nhiều lần khẳng định tầm quan trọng của tính tích cực và độc lập trong quá trình 8 dạy học như là “cơ sở vững chắc cho mọi sự học tập có hiệu quả”. Các công trình nghiên cứu về tính tích cực của HS ngày càng được quan tâm và chú trọng nhiều hơn, gắn với tên tuổi của các nhà tâm lý học và giáo dục học như ristova, M. Tại Việt Nam: Ở Việt Nam, các tác giả như Trần Bá Hoành, Nguyễn Cảnh Toàn, Vũ Hồng Tiến xem tư tưởng dạy học theo hướng tích cực hóa người học là một chủ trương quan trọng của ngành giáo dục, được giới thiệu rộng khắp trên các báo và tạp chí chuyên ngành.

Tác giả Trần Bá Hoành với các bài “Dạy học lấy học sinh làm trung tâm” đăng trên tạp chí nghiên cứu giáo dục (NCGD) số 3/1996, bài “Phát triển trí sáng tạo của học sinh và vai trò của giáo viên” đăng trên tạp chí NCGD số 9/1996 nêu rõ thế nào là dạy học lấy HS làm trung tâm, thế nào là PPDH tích cực hóa người học, thế nào là phương pháp hợp tác. Tác giả cũng chỉ rõ đặc trưng tính và tính tích cực của HS trong các PPDH trên [15, tr. Ông Trần Hồng Quân (nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) trong bài “ ách mạng về phương pháp sẽ đem lại bộ mặt mới, sức sống mới cho giáo dục ở thời đại mới” đăng trên tạp chí NCGD số 1/1995 viết: “Muốn đào tạo được con người khi bước vào đời là con người tự chủ, năng động và sáng tạo thì phương pháp giáo dục cũng hướng vào việc khơi dậy, rèn luyện và phát triển khả năng nghĩ và làm một cách tự chủ, năng động và sáng tạo. Người học tích cực học bằng hành động của mình.

Người học tự tìm hiểu, phân tích, xử lý tình huống và giải quyết vấn đề, khám ra ra cái chưa biết. Nhiệm vụ của người thầy là chuẩn bị cho HS thật nhiều tình huống chứ không phải là nhồi nhét thật nhiều kiến thức vào đầu óc HS” [30, tr. Tác giả Nguyễn Kỳ trong bài “Biến quá trình dạy học thành quá trình tự học” đã đưa ra những cơ sở lý luận về PPDH theo hướng tích cực hóa người học. Tác giả cũng chỉ rõ quá trình tự học là quá trình tự nghiên cứu, tự thể hiện, tự kiểm tra, tự điều chỉnh dưới sự hướng dẫn, tổ chức, trọng tài của thầy.

Trong bài “Phương pháp giáo dục tích cực” đăng trên tạp chí NCGD số 7/1993 chỉ rõ: trẻ em là chủ thể học 9 tích cực bằng hành động của chính mình. Lớp học là cộng đồng các chủ thể thể [10, tr. Tác giả Nguyễn Ngọc Bảo với cuốn sách “Phát triển tính tích cực, tính tự lực của học sinh trong quá trình dạy học” đã đưa ra quan niệm học là hoạt động tích cực, tự lực và là trung tâm của quá trình dạy học và đã nêu lên các phương pháp tích cực hóa hoạt động học tập của HS [32, tr. Bên cạnh đó, các tác giả như Phạm Minh Hạc, Nguyễn Quang Uẩn, Trần Trọng Thùy, Hồ Ngọc Đại, Trần Hữu Luyến, Nguyễn Kế Hảo, Bùi Văn Huệ, Ngô Công Hoàn tiếp cận quan điểm duy vật biện chứng và hoạt động đều coi nhân cách là chủ thể có ý thức.

Tính tích cực là một thuộc tính của nhân cách. Tính tích cực của nhân cách bao gồm các thành tố tâm lý như nhu cầu, động cơ, hứng thú, niềm tin, lý tưởng. Các thành tố tâm lý này của tính tích cực luôn tác động qua lại lẫn nhau, được thể hiện ở những hoạt động muôn màu, muôn vẻ và đa dạng nhằm biến đổi, cải tạo thế giới xung quanh, cải tạo bản thân con người, cải tạo những đặc trưng tâm lý của mình [17].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ