Luận văn: Vận dụng dạy học tích cực môn Tâm lý trẻ em tại CĐSP Kiên Giang

Luận văn thạc sĩ phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn vận dụng phương pháp dạy học tích cực môn Tâm lý trẻ em tại trường Cao đẳng Sư phạm Kiên Giang.

Chuyên ngành

Giáo dục học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2014

113
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và tầm quan trọng của dạy học tích cực môn Tâm lý trẻ em

Dạy học tích cực môn Tâm lý trẻ em là phương pháp giáo dục hiện đại nhằm nâng cao vai trò chủ động của người học trong quá trình tiếp nhận kiến thức. Phương pháp này không chỉ giúp học sinh hiểu rõ các khái niệm về tâm lý học trẻ em mà còn phát triển kỹ năng tư duy phản biện và ứng dụng thực tiễn. Tâm lý trẻ em là môn học quan trọng đối với các sinh viên ngành sư phạm mầm non, giúp họ hiểu sâu hơn về sự phát triển sinh lý, tâm lý và xã hội của trẻ nhỏ. Việc vận dụng phương pháp dạy học tích cực tạo ra môi trường học tập năng động, khuyến khích người học tham gia tích cực, đặt câu hỏi, thảo luận và áp dụng kiến thức vào tình huống thực tế. Điều này giúp nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên và chuẩn bị tốt hơn cho công việc giảng dạy và chăm sóc trẻ em trong tương lai.

1.1. Định nghĩa dạy học tích cực

Dạy học tích cực là phương pháp giáo dục tập trung vào người học, khuyến khích các sinh viên chủ động xây dựng kiến thức thông qua các hoạt động thực hành, thảo luận nhóm và giải quyết vấn đề. Trong môn Tâm lý trẻ em, phương pháp này giúp sinh viên sư phạm không chỉ nắm vững lý thuyết mà còn phát triển kỹ năng quan sát, phân tích hành vi trẻ em một cách khoa học và có hệ thống.

1.2. Tầm quan trọng trong đào tạo giáo viên mầm non

Việc áp dụng dạy học tích cực trong môn Tâm lý trẻ em ở các trường cao đẳng sư phạm giúp sinh viên phát triển năng lực chuyên môn, kỹ năng mềm và tinh thần trách nhiệm. Phương pháp này tạo điều kiện cho người học trải nghiệm trực tiếp các nguyên tắc phát triển của trẻ em, từ đó có thể áp dụng hiệu quả trong công tác giảng dạy và chăm sóc trẻ em.

II. Cơ sở lý luận của phương pháp dạy học tích cực

Phương pháp dạy học tích cực môn Tâm lý trẻ em được xây dựng trên nền tảng lý luận giáo dục hiện đại kết hợp với các nguyên lý phát triển tâm lý học của trẻ. Lý thuyết nhân văn của Rogers nhấn mạnh vai trò của người học trong xây dựng ý nghĩa cá nhân, trong khi lý thuyết xây dựng kiến thức của Piaget khẳng định trẻ em là những nhà nghiên cứu chủ động khám phá thế giới xung quanh. Các nhà khoa học giáo dục Việt Nam cũng đã công bố nhiều kết quả nghiên cứu về tích cực hóa người học và hiệu quả của phương pháp này trong nâng cao chất lượng đào tạo. Cơ sở pháp lý cũng bao gồm các chính sách giáo dục quốc gia nhằm cải cách phương pháp dạy học, chuyển từ dạy học thụ động sang dạy học tích cực, từ truyền thụ kiến thức sang phát triển năng lực người học.

2.1. Nền tảng lý thuyết giáo dục

Dạy học tích cực dựa trên các lý thuyết giáo dục tiến bộ như chủ nghĩa nhân văn, chủ nghĩa xây dựng kiến thức và học tập hợp tác. Những lý thuyết này nhấn mạnh người học không phải là những chiếc bình trống cần được đổ đầy kiến thức mà là những cá nhân chủ động tham gia vào quá trình học tập. Trong Tâm lý trẻ em, điều này đặc biệt quan trọng vì giúp sinh viên hiểu rõ hơn cách trẻ em học hỏi và phát triển.

2.2. Động lực và mục tiêu của phương pháp

Động lực chính của phương pháp dạy học tích cực là tạo ra một môi trường học tập có ý nghĩa, nơi người học cảm thấy được tôn trọng, khuyến khích và có cơ hội áp dụng kiến thức. Mục tiêu là phát triển toàn diện năng lực của sinh viên sư phạm, bao gồm kiến thức chuyên môn, kỹ năng thực hành, thái độ đối với nghề và khả năng giải quyết vấn đề trong công tác với trẻ em.

III. Các phương pháp dạy học tích cực áp dụng trong môn Tâm lý trẻ em

Để thực hiện dạy học tích cực môn Tâm lý trẻ em hiệu quả, giáo viên cần vận dụng các phương pháp dạy học đa dạng như học tập hợp tác, dự án tích hợp, thảo luận nhóm, phân tích tình huống thực tế và học qua thực hành. Phương pháp học tập hợp tác giúp sinh viên làm việc nhóm, phát triển kỹ năng giao tiếp và lĩnh hội từ kinh nghiệm của bạn học. Phương pháp dự án cho phép người học thiết kế, thực hiện và đánh giá các dự án nghiên cứu liên quan đến sự phát triển của trẻ em, như quan sát hành vi trẻ hay phân tích các trường hợp cụ thể. Phân tích tình huống giúp sinh viên áp dụng lý thuyết Tâm lý trẻ em vào giải quyết các vấn đề thực tế trong công tác giáo dục trẻ nhỏ. Phương pháp thảo luận khuyến khích trao đổi ý kiến, phát triển tư duy phản biện và hiểu sâu hơn các khái niệm phức tạp trong môn học.

3.1. Học tập hợp tác và dự án tích hợp

Học tập hợp tác trong môn Tâm lý trẻ em giúp sinh viên cùng nhau khám phá kiến thức, hỗ trợ lẫn nhau và xây dựng hiểu biết chung. Phương pháp dự án yêu cầu sinh viên thực hiện các nghiên cứu nhỏ về sự phát triển trẻ em, như phân tích các giai đoạn phát triển, quan sát hành vi hay tìm hiểu các bối cảnh học tập khác nhau. Điều này tạo cơ hội để người học vận dụng kiến thức một cách thực tế và có ý nghĩa.

3.2. Phân tích tình huống và học qua thực hành

Phân tích tình huống liên quan đến hành vi trẻ em giúp sinh viên phát triển khả năng suy luận và áp dụng lý thuyết vào thực tế. Học qua thực hành bao gồm các hoạt động như quan sát trẻ em thực tế, tham gia các buổi thực tập tại trường mầm non, và áp dụng các kỹ năng đã học vào công tác với trẻ. Những phương pháp này giúp xây dựng kinh nghiệm thực tiễn quý báu cho tương lai sự nghiệp.

IV. Kết quả và hiệu quả của dạy học tích cực trong thực tiễn

Những kết quả từ việc áp dụng phương pháp dạy học tích cực môn Tâm lý trẻ em tại các trường cao đẳng sư phạm cho thấy sự cải thiện đáng kể về chất lượng đào tạo. Sinh viên có mức độ tham gia tích cực cao hơn, kỹ năng tư duy phản biện và giải quyết vấn đề được phát triển tốt, và đặc biệt là kiến thức về trẻ em được ghi nhớ lâu dài hơn. Các sinh viên được đào tạo theo phương pháp dạy học tích cực thường thể hiện sự tự tin cao hơn trong công tác với trẻ em, có khả năng quan sát và phân tích hành vi trẻ tốt hơn. Sự tích cực hóa người học giúp họ phát triển tinh thần trách nhiệm, khả năng tự học suốt đời và sẵn sàng thích ứng với những thay đổi trong ngành giáo dục. Điều này không chỉ nâng cao chất lượng giáo viên mầm non mà còn góp phần cải thiện chất lượng giáo dục trẻ em ở cấp độ cơ sở.

4.1. Những thay đổi tích cực ở sinh viên

Sau khi trải qua quá trình dạy học tích cực, sinh viên thể hiện sự tích cực hóa rõ rệt trong việc tham gia lớp học, sẵn sàng đặt câu hỏi và thảo luận. Họ phát triển khả năng phân tích tình huống liên quan đến trẻ em, có thể nhận ra các vấn đề về phát triển tâm lý và đề xuất các giải pháp phù hợp. Kiến thức về Tâm lý trẻ em được áp dụng vào thực tế công tác giáo dục, làm cho việc giảng dạy trở nên hiệu quả hơn.

4.2. Ảnh hưởng đến công tác giáo dục trẻ em

Giáo viên mầm non được đào tạo theo phương pháp dạy học tích cực mang lại ảnh hưởng tích cực đến chất lượng giáo dục trẻ em. Họ hiểu sâu hơn về sự phát triển của trẻ em, có thể xây dựng môi trường học tập phù hợp với từng lứa tuổi, và vận dụng các kỹ năng quản lý lớp học hiệu quả. Điều này tạo điều kiện để trẻ em phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, cảm xúc và xã hội, đóng góp vào nâng cao chất lượng giáo dục mầm non nói riêng và giáo dục quốc gia nói chung.

22/12/2025
Luận văn thạc sĩ vận dụng phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa người học môn tâm lý trẻ em ở trường cao đẳng sư phạm kiên giang

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO HƯỚNG TÍCH CỰC HÓA VAI TRÒ NGƯỜI HỌC MÔN TÂM LÝ TRẺ EM 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Vận dụng PPDH theo hướng tích cực hóa vai trò người học là việc sử dụng tất cả các hình thức, phương pháp, phương tiện, kỹ thuật…nhằm phát huy tính tích cực hoạt động của người học trong quá trình dạy học. Đối với vấn đề này, nhiều nhà giáo dục trong và ngoài nước từ cổ chí kim rất quan tâm. Trên thế giới Từ thời cổ đại, Khổng Tử (551 – 479 TCN) là nhà triết học Phương Đông bàn về vấn đề tìm tòi, suy nghĩ của người học, ông là nhà giáo dục Trung Quốc cổ đại, phương pháp giáo dục của ông không những có giá trị cho xã hội Trung Hoa mà còn ảnh hưởng lớn đến các nước lân cận.

Phương châm nổi tiếng của ông là: “Cử nhất ngung, bất dĩ tam ngung phản, tắc bất phục giả” (Vật có bốn góc, ta giở cho một góc mà không biết tự giở ba góc còn lại, là người không thể giáo dục được) – Luận ngữ, hoặc “Bất phẫn, bất khải, bất phỉ, bất phát” (ai không tức giận vì sự hiểu biết kém cỏi của mình thì ta không gợi ý cho, ai không nỗ lực bộc bạch, giải bày, thì ta không giúp cho phát biểu được) [5, 41]. Socrates (469 – 399 TCN), là triết gia lớn, cũng là nhà giáo dục đáng kính của Hy Lạp. Ông đã đề ra phương pháp dạy học đối thoại giữa hai hoặc nhiều người để tìm ra sự thật: “Ông đặt câu hỏi để môn đệ, thính giả trả lời. Sau đó, ông nhận định về các câu trả lời này, vạch ra điều hay, điều dở” [12, 35].

Montaigne (1533-1592), nhà quý tộc Pháp nhân văn, chuyên nghiên cứu về phương pháp giáo dục qua hành động. Ông liên tục bắt học trò hành động để học, học qua hành động. Ông cho rằng: “Giáo dục là một sự tiếp nhận tích cực sáng tạo và hòa nhập qua thời gian, nhất là đối với trẻ em mà không phải là một sự ép buộc, cưỡng chế” [12, 133]. HVTH: Phan Thị Hằng 8 Tiếp theo là J.

Komensky (1592 – 1670) là một nhà tư tưởng Slovakia. Ông đã đưa ra bí quyết về phương pháp giáo dục là rèn luyện cho người học một tâm hồn tích cực, tự do, chủ yếu dạy cho người học qua việc làm, chứ không qua lời giảng. Ông đưa ra hệ thống các nguyên tắc dạy học mà ông gọi là nguyên tắc “vàng ngọc”, nguyên tắc này yêu cầu giáo viên phải cho học sinh sử dụng tất cả các giác quan vào việc tri giác tài liệu: nghe, nhìn, ngửi, nếm, sờ mó. Chỉ sau khi học sinh được tri giác dưới sự tổ chức và hướng dẫn của giáo viên, các em sẽ hiểu biết thế giới một cách dễ dàng hơn [13, 28].

Thế kỷ XVII, một thiên tài lý luận của Pháp ở thời kỳ khai sáng đó là J. Ông là cha đẻ của học thuyết “Lấy người học làm trung tâm” (Paedocentrism). Ông coi trọng sự phát triển tự nhiên, coi trọng tự giáo dục của trẻ, phản đối sự chèn ép cá tính trẻ. Năm 1762, với chủ trương tôn trọng quyền tự do và tự quyết của người học “Đừng bắt đứa trẻ làm điều gì mà nó không thích”, J.

Rousseu đã cho xuất bản hai tác phẩm nổi tiếng: “Khế ước xã hội” và “Bàn về giáo dục”, những tác phẩm này chứa đựng rất nhiều quan điểm giáo dục tiến bộ như: Giáo dục phù hợp với tự nhiên nghĩa là hoạt động giáo dục phải phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh và dựa vào sự phát triển tự nhiên của trẻ [13, 103 – 104]. Distervec (1790 – 1866) – Nhà giáo dục Đức, cũng đã nêu lên rằng: “Người giáo viên tồi là người cung cấp cho học sinh chân lý, còn người giáo viên giỏi là người dẫn dắt cho học sinh đi tìm chân lý”. Johann Heinrich Pestalozzi (1746 – 1872) với quan điểm dạy học “lấy người học làm trung tâm”. Ông cho rằng: “Vai trò của người Thầy là giảng giải, hướng dẫn, thúc đẩy các sinh hoạt, các bài thực hành, kiểm soát bài vở, theo dõi tiến bộ, để từ đó tìm hiểu khả năng học tập, tìm hiểu những khó khăn, tìm hiểu bản chất của mỗi học sinh và cuối cùng quyết định phương pháp giảng dạy, quyết định về việc thay đổi chương trình giảng dạy” [12, 188].

Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, một số cơ sở giáo dục đã được thành lập để thực hiện quan điểm giáo dục tích cực. Năm 1896, John Dewey (1859 – 1952), là HVTH: Phan Thị Hằng 9 nhà sư phạm nổi tiếng của Mỹ, ông đã thành lập “nhà trường tích cực” đầu tiên để phát triển cách tự học nhóm của học sinh. Đó là Trường Thực Nghiệm tại Đại học Chicago (University of Chicago Laboratory School) [10, 247 – 248]. John Dewey cho rằng: “trong quá trình giáo dục phải chú ý đến trẻ em, tổ chức dạy học phải xuất phát từ những hứng thú và kinh nghiệm thực tế của trẻ” [13, 140].

Kerschensteiner đã cố gắng thực hiện những nguyên tắc của nhà trường tích cực vào việc cải cách các trường Trung học và Tiểu học. Phương châm nổi tiếng của ông là: “Học sinh là mặt trời, xung quanh nó quy tụ mọi phương tiện giáo dục”. Bên cạnh đó, ông cũng cho rằng nếu sử dụng không đúng, đôi khi hình thức học tập nhóm có thể dẫn đến một hình thức đặc thù của sự ích kỷ, đó là “ích kỷ cộng đồng”. Sau một thời gian làm việc chung, nhóm đã trở thành một cá thể và lại vì quyền lợi, vì ganh đua, cá thể đó trở thành ích kỷ.

Ở Pháp, năm 1920 đã thành lập những nhà trường mới, chú trọng đến vấn đề phát triển năng lực và trí tuệ của trẻ, khuyến khích các hoạt động tự quản của học sinh. Các thông tư chỉ thị của Bộ giáo dục Pháp trong suốt những năm 79, 80 đều chỉ đạo áp dụng phương pháp dạy học tích cực cho các bậc học. Ở Mỹ, năm 1921 chương trình giảng dạy tích cực hóa người học đã được áp dụng tại trường Cao đẳng Antioch thuộc tiểu bang Ohio, nền giáo dục đặc biệt quan tâm đến sự phát triển tư duy sáng tạo của người học thể hiện qua khả năng tính toán và ra quyết định hợp lý. Từ đó, nền giáo dục Mỹ đã đạt được những thành công nhất định cho đến ngày nay [13, 166].

Ở Nga, Đảng Cộng Sản và chính quyền Xô Viết thành lập nhà trường Xã Hội Chủ Nghĩa (1917 – 1920) đã thay đổi nội dung, nguyên tắc giáo dục và ra sức đào tạo đội ngũ giáo viên. Từ đó, có nhiều nhà giáo dục đặc biệt quan tâm đến vấn đề phát huy tính tích cực của người học như: Aristova, L. Lecne…Họ đã nghiên cứu con đường dẫn đến sự chủ động, tích cực, độc lập và sáng tạo của học sinh [13, 150]. Giáo dục Nhật Bản vào những năm 1950 – 1960 đã phát triển cả về số lượng và chất lượng, chương trình giáo dục đã mang tính chất linh động và thực dụng HVTH: Phan Thị Hằng 10 nhằm giúp cho người học phát triển một cách tự nhiên, họ có thể lựa chọn chương trình giáo dục dựa vào sở thích và khả năng riêng của mình [13, 161].

Sơ kết: Tích cực hóa vai trò người học xuất hiện trên thế giới từ thời Cổ đại. Từ đó đến nay đã có rất nhiều nhà giáo dục, cơ sở giáo dục… kế thừa và phát triển, thực hiện tốt và mang lại hiệu quả cao trong quá trình giáo dục và đào tạo. Ở Việt Nam Giáo dục Việt Nam chỉ khởi sự và phát triển từ khi dành độc lập vào năm 939, sau 1000 năm Bắc thuộc, nền giáo dục nước ta chịu ảnh hưởng sâu rộng nền giáo dục Trung Hoa, đặc biệt giáo dục thời Trần phát triển mạnh và Khổng học chiếm vị trí độc tôn. Ở thời kỳ này, một người thầy nổi tiếng về tài giáo dục là Chu Văn An (1292 – 1370), ông rất đề cao sự tự giác và tích cực học tập của người học, môn đệ khắp nơi tìm đến thụ giáo ông và nhiều người đã thi đậu, làm quan lớn trong triều, một trong những môn đệ nổi tiếng nhất của ông là Lê Quát và Phạm Sư Mạnh [12, 416].

Năm 1483, vua Lê Thánh Tông (1460 – 1497) xây dựng lại chương trình giáo dục, nhưng phương pháp giảng dạy ở thời kỳ này vẫn là “thầy đọc trước, học trò nhắc lại, thầy giảng nghĩa, trò nhắc lại như con vẹt và nhiều khi không hiểu ý nghĩa gì, học trò về nhà học thuộc lòng để hôm sau đến trường đọc cho thầy nghe, học trò lười biếng không học bài thì bị thầy đánh đòn” [9, 419]. Vì thế, vấn đề dạy học tích cực chưa được đề cao nên ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng giáo dục trong giai đoạn này. Đến thời nhà Mạc, thời kỳ này có rất nhiều người thầy nổi tiếng, một trong số đó là Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585), người đời tôn ông là Trạng Trình, học trò của ông đến hàng nghìn người, có những người nổi tiếng trong quan trường cũng như trong giáo dục như: Lương Hữu Khánh, Phùng Khắc Khoan, Nguyễn Dữ…Quan điểm giáo dục của ông là: “giản dị, thực tế, trọng đạo đức, nhân nghĩa” [12, 425]. Giáo dục nhà Tây Sơn (1778 – 1802), dưới thời vua Quang Trung, đây là lần đầu tiên trong lịch sử giáo dục, học đường được thành lập từ trung ương đến làng HVTH: Phan Thị Hằng 11 xã, tư tưởng giáo dục của nhà vua là thứ tư tưởng thực dụng, người học phải học hỏi tìm tòi ý nghĩa sâu rộng của lý thuyết để áp dụng vào thực tiễn, họ không cần phải học thuộc lòng mà không thông hiểu ý nghĩa môn học [12, 428].

Giai đoạn 1954 – 1975, phương pháp giảng dạy đã có sự tiến bộ hơn so với trước, giáo viên tạo cơ hội cho học sinh đóng góp ý kiến, nhưng vì lớp học quá đông nên phương pháp giảng dạy này khó thực hiện [12, 453]. Năm 1960, tất cả các trường sư phạm đã đề ra khẩu hiệu: “Biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo”. Đến năm 1965, Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại ở Miền Bắc, cả nước tham gia vào công cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, việc cải tiến phương pháp dạy học trong nhà trường gặp nhiều khó khăn, nhưng những nhà giáo tâm huyết vẫn tạo điều kiện giúp học sinh tự học, học một cách chủ động và tích cực.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ