Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC TẠI DOANH NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về đào tạo và phát triển nhân lực của doanh nghiệp 1. Những khái niệm cơ bản 1. Khái niệm nguồn nhân lực Nguồn nhân lực là nguồn lực về con người.
Ở Việt Nam cũng như trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về nguồn nhân lực. Các tác giả đưa ra các quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực ở mỗi góc độ khác nhau. Nhìn chung, nguồn nhân lực được tập trung nghiên cứu dưới 2 góc độ: Góc độ vĩ mô (nhân lực của quốc gia) và góc độ vi mô (nhân lực của một doanh nghiệp, tổ chức, địa phương cụ thể). Dưới góc độ vĩ mô, nguồn nhân lực được hiểu là con người hay lực lượng lao động cơ bản nhất của xã hội nhằm đảm bảo tốc độ tăng trưởng của sản xuất và dịch vụ.
Với cách hiểu này, theo Tổ chức lao động Quốc tế cho rằng nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động. Theo Ngân hàng thế giới nhìn nhận rằng: Nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm trí lực, thể lực và các kỹ năng nghề nghiệp…của mỗi cá nhân. Theo Nguyễn Trung (2014) cho rằng, nguồn nhân lực bao gồm tất cả mọi người thuộc mọi tầng lớp xã hội và nghề nghiệp khác nhau, mọi địa vị xã hội từ thấp nhất đến cao nhất - kể từ người làm nghề lao động đơn giản nhất, nông dân, công nhân, người làm công việc chuyên môn, người làm khoa học, người làm nhiệm vụ quản lý, nhà kinh doanh, người chủ doanh nghiệp, giới nghệ sỹ, người hoạch định chính sách, quản lý đất nước. Tất cả đều nằm trong tổng thể của cộng đồng xã hội, từng người đều phải được đào tạo, phát triển và có điều kiện để tự phát triển.
Dưới góc độ vi mô, nguồn nhân lực có thể được hiểu là số lượng người lao động với các yếu tố về thể lực, trí lực, kinh nghiệm và các kỹ năng,… để Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn download by : skknchat@gmail.com 7 đảm bảo phát triển tổ chức và chính những người lao động đó. Trong giới hạn nghiên cứu của luận văn này, tác giả tập trung tìm hiểu lý luận về nguồn nhân lực trong giới hạn vi mô. Theo tác giả Lê Thị Mỹ Linh (trong luận án tiến sĩ, Trường Đại học kinh tế Quốc dân, năm 2009, trang 11): “Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó có sức khoẻ và trình độ khác nhau, họ có thể tạo thành một sức mạnh hoàn thành tốt mục tiêu của tổ chức nếu được động viên, khuyến khích phù hợp.” Theo Bùi Văn Nhơn (Trong sách quản lý và phát triển nguồn nhân lực xã hội, xuất bản năm 2006): “Nguồn nhân lực của doanh nghiệp là lực lượng lao động của từng doanh nghiệp, là số người có trong danh sách của doanh nghiệp, do doanh nghiệp trả lương” Theo Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân (Trong giáo trình quản trị doanh nghiệp năm 2010, trang 7) thì “Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực.” Tác giả Đỗ Minh Cương (2001, trang 19) cho rằng: “nguồn nhân lực được hiểu là nguồn tài nguyên nhân sự và các vấn đề nhân sự trong một tổ chức cụ thể; nghĩa là toàn bộ đội ngũ cán bộ, công nhân viên của tổ chức.” Từ những khái niệm trên, tác giả đề xuất sử dụng nguồn nhân lực của doanh nghiệp được khái niệm như sau: Nguồn nhân lực của doanh nghiệp đó là những người lao động, cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp với năng lực làm việc khác nhau (về trí tuệ, kinh nghiệm, kỹ năng…) hợp thành sức mạnh để thực hiện nhiệm vụ, kế hoạch của các đơn vị, doanh nghiệp nếu được đơn vị, doanh nghiệp đó có những chủ trương phát triển nhân viên phù hợp. Khái niệm về đào tạo nguồn nhân lực: Tại từ điển tiếng Việt, đào tạo được hiểu có thể là “Đào tạo là quá trình Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn download by : skknchat@gmail.com 8 tác động đến một con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo…một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công lao động nhất định góp phần của mình vào việc phát triển kinh tế xã hội duy trì và phát triển nền văn minh của loài người.
Tùy theo tính chất chuẩn bị cho cuộc sống và lao động, người ta phân biệt đào tạo chuyên môn và đào tạo nghề nghiệp. Hai loại này gắn bó và hỗ trợ lẫn nhau với những nội dung do đòi hỏi của sản xuất, của các quan hệ xã hội, của tình trạng khoa học, kỹ thuật - công nghệ và văn hóa đất nước. Có nhiều hình thức đào tạo: Đào tạo cấp tốc, đào tạo chính quy và không chính quy”. Theo giáo trình Quản Trị Nhân Lực, xuất bản năm 2004 của Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân cho rằng “Đào tạo là quá trình học tập làm cho người lao động có thể thực hiện được các chức năng nhiệm vụ có hiệu quả hơn trong công tác của họ” Với quan điểm này thì đào tạo cung cấp cho họ các tri thức bao gồm các thuyết lý và thực tế, đó là một quá trình học tập, thực hiện việc học và thực hành nhằm hỗ trợ cho người lao động có thể hoàn thành tốt nhất các chức năng và nhiệm vụ trong công việc được giao.
Ngoài những tri thức sẵn có, thêm vào đó trong doanh nghiệp được đào tạo thêm đó là bổ sung các kỹ năng còn thiếu và yếu nhằm hoàn chỉnh những kỹ năng còn thiếu để người lao động đáp ứng được các yêu cầu của công việc được giao. Theo Lê Thanh Hà (2009): “Đào tạo là một quy trình có hoạch định và có tổ chức nhằm tăng kết quả thực hiện Công việc”. Với cách hiểu này, việc đào tạo phải được xác định các mục tiêu rõ ràng, có sự phân công trách nhiệm và vai trò của những người đã được tham gia nhằm đáp ứng được nhu cầu của việc đào tạo. Đào tạo trong tổ chức có bốn dạng cơ bản: Đào tạo mới, đào tạo lại, đào tạo bổ sung và đào tạo nâng cao.
Từ những khái niệm, quan điểm trên đào tạo, được hiểu như sau: Đào Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn download by : skknchat@gmail.com 9 tạo NNL đó là những hoạt động học tập có tổ chức, được thực hiện trong những khoảng thời gian xác định, nhằm giúp cho người lao động nắm rõ hơn về chuyên môn, nghiệp vụ của mình ở công việc hiện tại, bổ sung, hoàn thiện các kỹ năng, kiến thức còn thiếu để thực hiện các công việc một cách tốt hơn trong tương lai. Định nghĩa về phát triển nguồn nhân lực Phát triển nguồn nhân lực có những cách định nghĩa dựa trên những phương diện khác nhau: “Phát triển nguồn nhân lực, với góc độ vĩ mô là quá trình tạo dựng lực lượng lao động năng động có kỹ năng và sử dụng chúng có hiệu quả, với góc độ vi mô là việc nâng cao kỹ năng, năng lực hành động và chất lượng cuộc sống nhằm nâng cao năng suất lao động và thu nhập”. Phát triển nguồn nhân lực "là những hoạt động nhằm nâng cao, khuyến khích người lao động đóng góp tốt hơn kiến thức và thể lực, đáp ứng tốt hơn cho nhu cầu sản xuất. Qua quá trình đào có được những kiến thức và tiếp thu kinh nghiệm và thể lực có được nhờ chế độ dinh dưỡng, rèn luyện thân thể và chăm sóc y tế” (Theo sách phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục và đào tạo xuất bản năm 2003 của Viện kinh tế và chính trị thế giới, Trang 16 và Trang17).
Với khái niệm trên, qua quá trình nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực của một quốc gia sẽ khuyến nghị được với Nhà nước những chính sách để phát triển nguồn nhân lực ở tầm tổng thể và vĩ mô liên quan tới giáo dục, đào tạo, y tế. Theo Bùi Văn Nhơn: "Phát triển nguồn nhân lực là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng cho nguồn nhân lực bao gồm trí tuệ, thể chất, và phẩm chất tâm lý xã hội nhằm đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn phát triển" (Bùi Văn Nhơn, 2006). Ở đây chất lượng nguồn nhân lực được cụ thể hơn như sau: “Thể lực của nguồn nhân lực đó là Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn download by : skknchat@gmail.com 10 sức khỏe của cơ thể và sức khỏe tinh thần” (Bùi Văn Nhơn, 2006). “Và trí lực của nguồn nhân lực đó là trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật và kỹ năng lao động thực hành của người lao động” (Bùi Văn Nhơn, 2006).
“Phẩm chất tâm lý xã hội đó chính là kỷ luật, tự giác, có tinh thần hợp tác và tác phong Công nghiệp, có tinh thần trách nhiệm cao…” (Bùi Văn Nhơn, 2006). Theo Bùi Văn Nhơn, 2006: “Chỉ tiêu tổng hợp: Tổ chức phát triển liên hợp quốc đã khuyến nghị và đưa ra chỉ số để đánh giá sự phát triển con người đó là HDI (HDI được tính từ 0,1- 1). Theo phương pháp này thì sự phát triển con người được xác định theo ba yếu tố cơ bản và tổng hợp nhất đó là: + Sức khỏe: Tuổi thọ bình quân của dân số; + Trình độ học vấn: Tỷ lệ dân số biết chữ, số năm đi học của một người; + Thu nhập: Tổng sản phẩm trong nước GDP/người” Theo Trần Xuân Cầu - Giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực, trường Đại học Kinh tế Quốc dân năm 2008: "Phát triển nguồn nhân lực là quá trình phát triển thể lực, trí lực, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức tay nghề, tính năng động xã hội và sức sáng tạo của con người; nền văn hoá; truyền thống lịch sử. Với cách tiếp cận phát triển từ góc độ xã hội, phát triển nguồn nhân lực là quá trình tăng lên về mặt số lượng (quy mô) nguồn nhân lực và nâng cao về mặt chất lượng nguồn nhân lực, tạo ra cơ cấu nguồn nhân lực ngày càng hợp lý.