CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH CỦA •••• NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG 1. Hiệu quả hoạt động tài chính của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm hiệu quả hoạt động tài chính Hiệu quả là phép so sánh dùng để chỉ mối quan hệ giữa kết quả thực hiện các mục tiêu của chủ thể và chi phí mà chủ thể bỏ ra để có kết quả đó trong những điều kiện nhất định. Nếu ký hiệu: (1) K là kết quả nhận được theo hướng mục tiêu; (2) C là chi phí bỏ ra; (3) E là hiệu quả thì Công thức tính: Hiệu quả tuyệt đối: E=K-C Hiệu quả tương đối: E = K/C Theo Phạm Quang Sáng (2011), hiệu quả tài chính còn được gọi là hiệu quả sản xuất - kinh doanh là hiệu quả kinh tế xét trong phạm vi một đơn vị kinh doanh.
Hiệu quả tài chính phản ánh mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế mà đơn vị kinh doanh nhận được và chi phí mà đơn vị kinh doanh phải bỏ ra để có được lợi ích kinh tế đó. Hiệu quả tài chính là khả năng biến đổi các yếu tố đầu vào thành các đầu ra hay khả năng sinh lời tốt nhất. Hiệu quả tài chính là kết quả, một hệ quả của việc sử dụng các yếu tố đầu vào một cách hiệu quả nhằm tối đa hóa giá trị của đơn vị kinh doanh. Hiệu quả tài chính thường được các nhà đầu tư quan tâm, một ngân hàng có hiệu quả tài chính cao thì sẽ có điều kiện tăng trưởng.
Nghiên cứu hiệu quả tài chính nhằm đánh giá sự tăng trưởng tài sản của ngân hàng so với tổng tài sản mà ngân hàng có, đó là khả năng sinh lời của các nguồn vốn đầu tư. Tuy nhiên các con số tài chính rốt cuộc cũng chỉ đại diện cho bảng điểm mà chúng ta quan tâm nhưng chúng không giúp chúng ta hiểu được làm thế nào để tính điểm. Vậy hiệu quả tài chính của ngân hàng được tính toán từ các thước đo nào? 6 1. Một số chỉ tiêu cơ bản đánh giá hiệu quả hoạt động tài chính 1.
Nhóm chỉ tiêu định lượng Hiệu quả tài chính được đo lường thông qua nhiều thước đo khác nhau, mà trong khuôn khổ nghiên cứu này, với đối tượng nghiên cứu là một chi nhánh ngân hàng thì tác giả sử dụng các thước đo phổ biến sau đây. ❖ Chỉ tiêu lợi nhuận Thứ nhất, hiệu quả tài chính đo lường thông qua chỉ tiêu lợi nhuận. Có thể nói, đối với bản thân một ngân hàng thì hiệu quả tài chính của ngân hàng là sự ổn định và phát triển về số lượng và chất lượng trong hoạt động. Xét về mặt số lượng, hiệu quả tài chính được phản ánh thông qua việc mở rộng mạng lưới, tăng cường số lượng chi nhánh, phòng giao dịch.
Xét về mặt chất lượng, hiệu quả tài chính được thể hiện thông qua sự gia tăng của quy mô tổng tài sản, gia tăng lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro. Trong đó, chỉ tiêu lợi nhuận nổi lên là một yếu tố thu hút nhiều sự quan tâm của các bên liên quan khi đánh giá hiệu quả tài chính của ngân hàng nói chung và chi nhánh ngân hàng nói riêng. Rose (2004), một ngân hàng xét về bản chất cũng là một doanh nghiệp mà mục tiêu theo đuổi chính yếu vẫn là tối đa hóa lợi nhuận, nhưng khác ở chỗ là ngân hàng tối đa hóa lợi nhuận với mức rủi ro có thể chấp nhận được. Điều này có nghĩa là các ngân hàng thương mại đều hoạt động trước hết vì mục tiêu lợi nhuận.
Do đó, chỉ tiêu lợi nhuận là một chỉ tiêu tiên quyết khi xem xét hiệu quả tài chính của ngân hàng nói chung và chi nhánh ngân hàng nói riêng. Lúc này, chỉ tiêu lợi nhuận có thể được hiểu là chỉ tiêu đo lường hiệu quả tuyệt đối và được xác định thông qua công thức sau đây: Lợi nhuận = Hiệu quả tuyệt đối = Tổng các khoản mục thu - Tổng các khoản mục chi phí Theo Peter S. Rose (2004), tổng các khoản thu ngân hàng nhận được và tổng các khoản chi phí phát sinh trong kỳ được trình bày trên báo cáo thu nhập của một ngân 7 hàng. Trong đó, các khoản thu từ hoạt động chủ yếu được tạo ra từ các tài sản, còn các khoản chi phí hoạt động hầu hết được tạo ra từ các khoản nợ trên bảng cân đối kế toán của ngân hàng.
Các nguồn thu chính thường bao gồm thu lãi từ tài sản sinh lời (chủ yếu từ các khoản cho vay), chứng khoán, tiền gửi tại các ngân hàng khác và các tài sản sinh lời khác. Các khoản chi phí phát sinh thường bao gồm trả lãi cho người gửi tiền, lãi trả cho những khoản vay, chi phí cho vốn tự có, tiền lương và phúc lợi trả cho nhân viên, chi phí hoạt động liên quan đến tài sản vật chất của ngân hàng, phân bổ dự phòng tổn thất tín dụng, thuế và những chi phí khác. Trong khuôn khổ nghiên cứu này, chỉ tiêu lợi nhuận là thước đo hiệu quả tài chính hữu hiệu khi xem xét giữa chi nhánh ngân hàng có cùng quy mô hoạt động vì chỉ tiêu này là một con số tuyệt đối cho thấy chính xác, cụ thể về hiệu quả tài chính của chi nhánh ngân hàng. ❖ Chỉ tiêu tỷ lệ chi phí trên thu nhập Thứ hai, hiệu quả tài chính đo lường thông qua chỉ tiêu tỷ lệ chi phí trên thu nhập.
Như đã trình bày trước đó, chỉ tiêu lợi nhuận nổi lên như là một yếu tố thu hút sự quan tâm của các bên liên quan khi đánh giá hiệu quả tài chính của ngân hàng. Tuy nhiên, nhược điểm của chỉ tiêu này là không xem xét đến sự khác nhau về quy mô. Thông thường, các ngân hàng có quy mô lớn hơn thường có khả năng tạo ra giá trị lợi nhuận cao hơn so với các ngân hàng có quy mô nhỏ. Ngoài ra, chỉ tiêu lợi nhuận có thể không cho thấy được khả năng tiết kiệm nguồn lực đầu vào, tối đa hóa các khoản thu và tối thiểu hóa các chi phí của ngân hàng.
Do đó, chỉ tiêu tỷ lệ chi phí trên thu nhập sẽ giúp khắc phục được nhược điểm này. Chỉ tiêu tỷ lệ chi phí trên thu nhập có thể được hiểu là chỉ tiêu đo lường hiệu quả tương đối và được xác định thông qua công thức sau đây: Tỷ lệ chi phí trên thu nhập = Hiệu quả tương đối = Tổng các khoản mục chi phí / Tổng các khoản mục thu Trong khuôn khổ nghiên cứu này, chỉ tiêu tỷ lệ chi phí trên thu nhập vừa giúp khắc phục được hạn chế của chỉ tiêu lợi nhuận, vừa là chỉ tiêu thích hợp giúp đánh giá 8 hiệu quả tài chính của các chi nhánh ngân hàng với nhau. Bởi vì, các ngân hàng nói chung và chi nhánh ngân hàng nói riêng đều hoạt động vì mục tiêu trước hết là lợi nhuận dưới áp lực phải hạ thấp các khoản mục chi phí, tăng cường các khoản mục thu. Đồng thời, các chi nhánh ngân hàng cũng hoạt động trong điều kiện cạnh tranh với các chi nhánh của ngân hàng khác và các chi nhánh của chính ngân hàng mẹ trong toàn hàng.
❖ Chỉ tiêu phản ánh cơ cấu thu nhập Chỉ tiêu phản ánh cơ cấu thu nhập cho biết tỷ trọng của từng khoản thu nhập trong tổng nguồn thu của ngân hàng, qua đó giúp kiểm soát được từng khoản mục ảnh hưởng đến thu nhập của ngân hàng. Nguồn thu chính của ngân hàng là thu lãi từ các tài sản sinh lời, chủ yếu là từ các khoản cho vay (L), chứng khoán (S), tiền gửi hưởng lãi tại các ngân hàng khác (C), và các tài sản sinh lời khác (M). Sử dụng r là tỷ lệ thu nhập trung bình của các tài sản, ta có công thức tính toán thu nhập của ngân hàng liên quan đến chỉ tiêu phản ánh cơ cấu thu nhập như sau: Tổng thu nhập = (L*rL + S*rS + C*rC + M*rM ) Công thức này cho phép các nhà quản trị ngân hàng xem xét đến các phương pháp nhằm tăng thu nhập cho ngân hàng như sau: tăng thu nhập trung bình đối với mỗi tài sản hoặc phân phối lại danh mục tài sản sinh lời hướng vào các tài sản mang lại tỷ lệ sinh lời trung bình cao. Tất nhiên rằng nhà quản lý ngân hàng không thể kiểm soát toàn bộ các khoản mục thu ảnh hưởng đến thu nhập, vì những nguồn thu từ những tài sản khác nhau đều được xác định bởi yếu tố cung cầu khác nhau.
Xét về dài hạn, dưới áp lực cạnh tranh trên thị trường tài chính, sự hài lòng của khách hàng sẽ là nhân tố chính ảnh hưởng đến nguồn thu của ngân hàng. Tuy nhiên, quyết định của các nhà quản trị ngân hàng trong việc xác định cơ cấu cụ thể của thu nhập vẫn là yếu tố quyết định đến hiệu quả tài chính của ngân hàng trong mỗi thời kỳ. ❖ Chỉ tiêu phản ánh cơ cấu chi phí 9 Chỉ tiêu phản ánh cơ cấu chi phí cho biết tỷ trọng của từng khoản mục chi phí trong tổng chi phí của ngân hàng, qua đó giúp kiểm soát được từng khoản mục ảnh hưởng đến chi phí của ngân hàng. Sử dụng i là chi phí trả lãi cho các khoản mục tiền gửi, ta có công thức tính toán chi phí của ngân hàng liên quan đến chỉ tiêu phản ánh cơ cấu chi phí như sau: Tổng chi phí = (D*iD + NDB*iNDB + EC*iEC + SWB + O + PLL + ME + T ) Công thức này cho phép các nhà quản trị ngân hàng xem xét đến các phương pháp nhằm kiểm soát tổng chi phí của ngân hàng như sau: giảm chi phí lãi hay chi phí ngoài lãi đối với các khoản tiền gửi, khoản vay phi tiền gửi, và vốn chủ sở hữu, chuyển dịch nguồn vốn của ngân hàng sang các khoản tiền gửi và vốn vay có chi phí thấp hơn, tìm cách giảm bớt các chi phí cho nhân viên, cho hoạt động hàng ngày, cho dự phòng tổn thất tín dụng và cho các hoạt động khác, giảm bớt các khoản tiền thuế phải nộp thông qua các biện pháp quản lý thuế.
Rõ ràng rằng nhà quản lý ngân hàng không thể cùng lúc kiểm soát toàn bộ các khoản mục chi phí ảnh hưởng đến tổng chi phí. Tuy nhiên, quyết định của các nhà quản trị ngân hàng trong việc xác định cơ cấu cụ thể của chi phí vẫn là yếu tố quyết định đến hiệu quả tài chính của ngân hàng trong mỗi thời kỳ. ❖ Chỉ tiêu tỷ lệ thu nhập lãi cận biên Theo Peter S.