Đặt vấn đề Hiện nay vấn đề môi trường và quản lý tài nguyên đã và đang được Nhà nước, xã hội và cộng đồng quan tâm. Ô nhiễm môi trường sinh thái do các hoạt động sản xuất và sinh hoạt của con người gây ra đang là một vấn đề nóng bỏng, gây bức xúc trong dư luận xã hội cả nước hiện nay. Vấn đề này ngày càng trầm trọng, đe doạ trực tiếp sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững, sự tồn tại, phát triển của các thế hệ hiện tại và tương lai. Đối tượng gây ô nhiễm môi trường chủ yếu là hoạt động sản xuất của nhà máy trong các khu công nghiệp, hoạt động làng nghề và hoạt động sinh hoạt tại các đô thị lớn.
Đặc biệt ô nhiễm môi trường không khí là vấn đề bức xúc nhất hiện nay cần được ưu tiên giải quyết hàng đầu. Không khí là nguồn tài nguyên vô cùng quan trọng đối với con người và sinh vật sống. Nếu không có nguồn tài nguyên này thì trên Trái đất không thể tồn tại được sự sống. Lượng không khí cần thiết cho nhu cầu con người được ghi nhận như sau: Nghỉ ngơi: 10600 lít/ngày hay 26,0 lbs/ngày; lao động nhẹ: 40400 lít/ngày hay 98,5 lb /ngày; lao động nặng: 6200 lít/ngày hay 152,0 lbs/ngày.
Như vậy, nếu hiện nay dân số toàn cầu là 4 tỷ người thì mỗi ngày sẽ phải cần 360 tỷ lbs không khí. [24] Cùng với sự phát triển chung của thế giới, nền kinh tế Việt Nam cũng đang có những bước chuyển mình mạnh mẽ, quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đang diễn ra hết sức khẩn trương, bộ mặt xã hội có nhiều chuyển biến tích cực. Nền kinh tế xã hội càng phát triển, điều kiện kinh tế của người dân được nâng cao do đó nhu cầu về nhà ở cũng như các cơ sợ hạ tầng khác theo đó ngày càng tăng, song song với tình hình đó là sự phát triển không ngừng h 2 của ngành công nghiệp vật liệu xây dựng như sản xuất gạch, gạch men, xi măng, khai thác đá…Do đó các nhà máy sản xuất và các khu mỏ khai thác vật liệu liên tục được mở ra nhằm đáp ứng nguồn cung vật liệu xây dựng cho thị trường. Bên cạnh những cơ sở sản xuất vật liệu đáp ứng được các tiêu chuẩn và quy kỹ thuật môi trường được nhà nước đưa ra thì vẫn còn nhiều cơ sở nhỏ lẽ, sản xuất manh mún không có các biện pháp bảo vệ môi trường hợp lý và chưa được quản lý chặt chẽ, hệ quả là kéo theo hàng loạt các vấn đề ô nhiễm và nhiều sức ép cho môi trường đặc biệt là môi trường không khí đây là môi trường rất nhạy cảm với sự thay đổi từ các thành phần tác động bên ngoài và có sự tác động qua lại lẫn nhau.
Ví dụ như việc các hóa chất độc hại, khói bụi từ ống khói các nhà máy bị phát tán vào môi trường làm ôn nhiễm không khí [1]. Xuất phát từ thực trạng chung về yêu cầu chất lượng môi trường khu vực xung quanh các cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng và đánh giá sự ảnh hưởng của chúng đến điều kiện môi trường sinh hoạt của người của người dân vùng lân cận. Bên cạnh đó bảo vệ môi trường là trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân. Được sự đồng ý, nhất trí của Ban Giám Hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Môi Trường dưới sự hướng dẫn của cô giáo ThS.
Hoàng Thị Lan Anh - Giảng viên khoa Môi trường, trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, em đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá ảnh hưởng từ hoạt động sản xuất của nhà máy cạch Tuynel Phú Lộc tới môi trường không khí”. Mục tiêu của đề tài Nắm bắt được tình hình sản xuất của nhà máy, ảnh hưởng của nhà máy đến môi trường từ đó đề xuất biện pháp xử lý ô nhiễm, nâng cao chất lượng môi trường khu vực và thu thập số liệu phục vụ báo cáo khóa luận tốt nghiệp. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học - Vận dụng những kiến thức đã được học từ trường lớp vào trong nghiên cứu khoa học thực tiễn.
- Trau dồi kiến thức, kinh nghiệm và kĩ năng thực tiễn cho sinh viên, giúp sinh viên làm quen với môi trường làm việc mới. - Nâng cao kiến thức kỹ năng và rút ra những kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này. Ý nghĩa trong thực tiễn - Đánh giá vấn đề thực tế và hiện trạng môi trường không khí tại khu vực nhà máy gạch tuynel Phú Lộc, xóm Cổng Đồn, xã Cổ Lũng, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. - Từ việc đánh giá hiện trạng môi trường không khí đề xuất một số giải pháp phù hợp nhằm đáp ứng yêu cầu chất lượng về các tiêu chuẩn, quy chuẩn kĩ thuật về môi trường.
- Nâng cao kiến thức và trách nhiệm về việc bảo vệ môi trường. h 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2. Các khái niệm về môi trường - Môi trường: Là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật. [2] - Thành phần môi trường: Là yếu tố vật chất tạo thành môi trường gồm đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật và các hình thái vật chất khác.
[2] - Hoạt động bảo vệ môi trường: Là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ môi trường trong lành. [2] - Phát triển bền vững: Là phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường. [2] - Ô nhiễm môi trường: Là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật. [2] - Ô nhiễm không khí: Là sự thay đổi lớn trong thành phần của không khí hoặc có sự xuất hiện của các chất khí lạ làm cho không khí không sạch, có sự tỏa mùi, có mùi khó chịu, làm giảm tầm nhìn xa.
[2] - Sự cố môi trường: Là sự cố xảy ra trong quá trình hoạt động của con người hoặc biến đổi của tự nhiên, gây ô nhiễm, suy thoái hoặc biến đổi môi trường nghiêm trọng. [2] h 5 - Quy chuẩn kỹ thuật môi trường: Là mức giới hạn của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, hàm lượng của các chất gây ô nhiễm có trong chất thải, các yêu cầu kỹ thuật và quản lý được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành dưới dạng văn bản bắt buộc áp dụng để bảo vệ môi trường. [2] - Tiêu chuẩn môi trường: Là mức giới hạn của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, hàm lượng của các chất gây ô nhiễm có trong chất thải, các yêu cầu kỹ thuật và quản lý được các cơ quan nhà nước và các tổ chức công bố dưới dạng văn bản tự nguyện áp dụng để bảo vệ môi trường. [2] - Các tác nhân gây ô nhiễm môi trường: Tác nhân hóa học, tác nhân vật lý, tác nhân sinh học.
[2] - Chất gây ô nhiễm: Là các chất hóa học, các yếu tố vật lý và sinh học khi xuất hiện trong môi trường cao hơn ngưỡng cho phép làm cho môi trường bị ô nhiễm. [2] - Nguồn gốc gây ô nhiễm môi trường: Nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc nhân tạo. [2] - Quan trắc môi trường: Là quá trình theo dõi có hệ thống về thành phần môi trường, các yếu tố tác động lên môi trường nhằm cung cấp thông tin đánh giá hiện trạng, diễn biến chất lượng môi trường và các tác động xấu đối với môi trường. Tác nhân gây ô nhiễm môi trường không khí Thuật ngữ - tác nhân gây ô nhiễm môi trường không khí được sử dụng để chỉ các phần từ bị thải vào môi trường không khí do kết quả hoạt động của con người, gây tác hại cho sức khỏe, tổn thất cho thực bì, các hệ sinh thái khác nhau.
- Dẫn xuất của Cacbon + Cacbon dioxxit (CO2): CO2 với hàm lượng 0,03% trong khí quyển là nguyên liệu cho quá trình quang hợp để sản xuất năng suất sinh học sơ cấp ở cây xanh. [15] h 6 + Cacbon monoxit (CO): CO được hình thành do việc đốt cháy không hết nhiên liệu hóa thạch như than, dầu và một số chất hữu cơ khác. [15] - Dẫn xuất của Lưu huỳnh + Lưu huỳnh dioxit (SO2): SO2 sinh ra do núi lửa phun và do oxi hóa lưu huỳnh khi đốt cháy các nhiên liệu như than, dầu, sản phẩm của dầu, quặng sunfua. [15] + Hydro sunfua (H2S): H2S phát sinh chủ yếu từ các nguồn tự nhiên, đặc biệt sinh ra từ quá trình yếm khí tại các vùng cạn ven biển và các thủy vực tự nhiên.
[15] - Dẫn xuất của Nitơ + Nitơ dioxit (NO2): NO2 là chất khí màu nâu đỏ và có vị hăng, phát tán từ 0,5 – 4 ppb. 0,2 ppb thì không khí bị ô nhiễm, được tạo ra bởi sự oxi hóa Nitơ ở nhiệt độ cao. [15] + Nitơ oxit (N2O): N2O là chất khí không màu, không độc. Dùng trong y tế như một chất gây tê nhẹ.
[15] + Nitơ monoxit (NO): Là chất khí không màu, không mùi, không vị, phát thải khoảng 0,2 – 2 ppb thì không khí bị ô nhiễm. [15] - Bụi: Dựa vào kích thước hạt bụi, người ta chia bụi thành bụi toàn phần (TSP) có đường kính khí động học dưới 50µm và bụi PM10 có đường kính khí động học dưới 10 µm. - Ozôn (O3): Là một chất độc có khả năng gây ăn mòn và là một chất gây ô nhiễm có mùi hăng mạnh. O3 sinh ra từ phản ứng quang hóa và các hợp chất hữu cơ bay hơi dưới tác động của ánh sáng mặt trời hoặc tạo thành từ O2 do phóng tĩnh điện.
[15] - Các hợp chất hữu cơ bay hơi (VOCs): Các hợp chất hữu cơ bay hơi gồm nhiều hóa chất hữu cơ trong đó quan trọng nhất là benzen, toluene, xylene…[15] h 7 - Chì (Pb): Khói xả từ động cơ của các phương tiện tham gia giao thông có chứa một hàm lượng chì nhất định.