Luận văn đại học thương mại nâng cao hiệu quả sử dụng lao động tại công ty tnhh du lịch và dịch vụ di sản việt nam hà nộ

Chuyên khảo phân tích Luận văn đại học thương mại cải thiện kết quả sử dụng lao động tại công ty tnhh du lịch và dịch vụ, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên

Trường đại học

Trường Đại học Thương Mại

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2015

51
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG LAO ĐỘNG TẠI DOANH NGHIỆP LỮ HÀNH

1.1. Khái luận về bố trí và sử dụng nhân lực tại doanh nghiệp lữ hành

1.1.1. Khái niệm, chức năng và phân loại doanh nghiệp lữ hành

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG LAO ĐỘNG TẠI CÔNG TY TNHH DU LỊCH VÀ DỊCH VỤ DI SẢN VIỆT NAM

3. CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG LAO ĐỘNG TẠI CÔNG TY TNHH DU LỊCH VÀ DỊCH VỤ DI SẢN VIỆT NAM

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về nâng cao hiệu quả sử dụng lao động tại Công ty TNHH Du lịch và Dịch vụ Di sản Việt Nam

Công ty TNHH Du lịch và Dịch vụ Di sản Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng lao động. Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt, việc tối ưu hóa hiệu suất lao động trở thành yếu tố sống còn. Nghiên cứu này sẽ phân tích các yếu tố ảnh hưởng và đề xuất giải pháp cụ thể nhằm cải thiện tình hình hiện tại.

1.1. Tình hình hiện tại về hiệu quả sử dụng lao động

Hiện tại, Công ty TNHH Du lịch và Dịch vụ Di sản Việt Nam đang gặp khó khăn trong việc quản lý và sử dụng nguồn nhân lực. Năng suất lao động chưa đạt yêu cầu, dẫn đến chi phí cao và hiệu quả kinh doanh thấp.

1.2. Tầm quan trọng của việc nâng cao hiệu quả lao động

Nâng cao hiệu quả sử dụng lao động không chỉ giúp tiết kiệm chi phí mà còn tăng cường sự hài lòng của nhân viên. Điều này góp phần tạo ra môi trường làm việc tích cực và khuyến khích sự sáng tạo trong công việc.

II. Các thách thức trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng lao động

Công ty TNHH Du lịch và Dịch vụ Di sản Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng lao động. Những thách thức này bao gồm việc quản lý nguồn nhân lực, đào tạo nhân viên và cải thiện môi trường làm việc.

2.1. Quản lý nguồn nhân lực hiệu quả

Việc quản lý nguồn nhân lực tại công ty còn nhiều hạn chế. Định mức lao động chưa được xác định rõ ràng, dẫn đến tình trạng lãng phí thời gian và tài nguyên.

2.2. Đào tạo và phát triển nhân viên

Chương trình đào tạo nhân viên chưa được triển khai đồng bộ, ảnh hưởng đến năng lực làm việc của đội ngũ nhân viên. Cần có các khóa đào tạo phù hợp để nâng cao kỹ năng và kiến thức cho nhân viên.

III. Phương pháp nâng cao hiệu quả sử dụng lao động tại công ty

Để nâng cao hiệu quả sử dụng lao động, Công ty TNHH Du lịch và Dịch vụ Di sản Việt Nam cần áp dụng một số phương pháp cụ thể. Những phương pháp này bao gồm cải thiện quy trình làm việc, tăng cường đào tạo và phát triển nhân viên.

3.1. Cải thiện quy trình làm việc

Cần thiết lập các quy trình làm việc rõ ràng và hiệu quả hơn. Việc này giúp giảm thiểu thời gian lãng phí và tăng cường sự phối hợp giữa các bộ phận.

3.2. Tăng cường đào tạo và phát triển nhân viên

Công ty cần xây dựng các chương trình đào tạo phù hợp với nhu cầu thực tế. Đào tạo không chỉ giúp nâng cao kỹ năng mà còn tạo động lực cho nhân viên.

IV. Ứng dụng công nghệ trong quản lý lao động

Công nghệ có thể đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng lao động. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhân sự sẽ giúp công ty tối ưu hóa quy trình làm việc.

4.1. Sử dụng phần mềm quản lý nhân sự

Phần mềm quản lý nhân sự giúp theo dõi hiệu suất làm việc của nhân viên, từ đó đưa ra các quyết định hợp lý về phân công công việc và đào tạo.

4.2. Tăng cường giao tiếp nội bộ

Công nghệ cũng giúp cải thiện giao tiếp nội bộ giữa các bộ phận. Việc sử dụng các công cụ giao tiếp trực tuyến sẽ giúp nhân viên dễ dàng trao đổi thông tin và ý tưởng.

V. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc nâng cao hiệu quả sử dụng lao động tại Công ty TNHH Du lịch và Dịch vụ Di sản Việt Nam có thể đạt được thông qua các giải pháp cụ thể. Những giải pháp này đã được thử nghiệm và cho thấy kết quả tích cực.

5.1. Đánh giá hiệu quả sau khi áp dụng giải pháp

Sau khi áp dụng các giải pháp, công ty đã ghi nhận sự cải thiện rõ rệt trong năng suất lao động. Nhân viên cảm thấy hài lòng hơn với công việc của mình.

5.2. Những bài học rút ra từ thực tiễn

Các bài học từ thực tiễn cho thấy rằng việc nâng cao hiệu quả sử dụng lao động không chỉ phụ thuộc vào các giải pháp kỹ thuật mà còn cần sự quan tâm từ ban lãnh đạo và sự tham gia của toàn thể nhân viên.

VI. Kết luận và triển vọng tương lai

Việc nâng cao hiệu quả sử dụng lao động tại Công ty TNHH Du lịch và Dịch vụ Di sản Việt Nam là một quá trình liên tục. Công ty cần tiếp tục cải tiến và áp dụng các giải pháp mới để duy trì và phát triển bền vững.

6.1. Tương lai của công ty trong việc nâng cao hiệu quả lao động

Công ty sẽ tiếp tục đầu tư vào công nghệ và đào tạo nhân viên để nâng cao năng suất lao động. Điều này sẽ giúp công ty duy trì vị thế cạnh tranh trên thị trường.

6.2. Khuyến nghị cho các doanh nghiệp khác

Các doanh nghiệp khác cũng nên học hỏi từ kinh nghiệm của Công ty TNHH Du lịch và Dịch vụ Di sản Việt Nam trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng lao động. Việc này sẽ giúp họ tối ưu hóa quy trình làm việc và tăng cường sự hài lòng của nhân viên.

26/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG LAO ĐỘNG TẠI DOANH NGHIỆP LỮ HÀNH 1. Khái luận về bố trí và sử dụng nhân lực tại doanh nghiệp lữ hành 1. Khái niệm, chức năng và phân loại doanh nghiệp lữ hành 1. Khái niệm doanh nghiệp lữ hành Doanh nghiệp lữ hành (DNLH) là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích lợi nhuận thông qua việc tổ chức xây dựng, bán và tổ chức thực hiện các chương trình du lịch (CTDL) cho khách du lịch.

Ngoài ra, DNLH còn có thể tiến hành các hoạt động trung gian bán sản phẩm của các nhà cung cấp dịch vụ du lịch hoặc thực hiện các hoạt động kinh doanh tổng hợp khác, đảm bảo phục vụ các nhu cầu của khách du lịch từ khâu đầu tiên đến khâu cuối cùng [5, tr. Chức năng của doanh nghiệp lữ hành Doanh nghiệp lữ hành hoạt động với ba chức năng chính đó là: Chức năng cung cấp thông tin, chức năng sản xuất và chức năng tổ chức thực hiện. * Chức năng cung cấp thông tin Đối với đối tượng là người tiêu dùng du lịch, các thông tin mà doanh nghiêp lữ hành cần cung cấp là: Thông tin về điểm đến du lịch như các địa danh du lịch nổi tiếng tại điểm đến, đặc điểm thời tiết, văn hóa, chính trị, tôn giáo tại điểm đến, tiền tệ, luật pháp của quốc gia đến du lịch, hệ thống các dịch vụ ăn, ở, đi lại, y tế, viễn thông…; Thông tin về sản phẩm du lịch mà DNLH cung cấp cho người tiêu dùng như lịch trình cụ thể, giá cả, những dịch vụ bao gồm và không bao gồm trong giá, điều kiện thanh toán, điều kiện hủy bỏ chương trình…; Thông tin về các vấn đề khác như du học, tư vấn làm visa, hộ chiếu,… Doanh nghiệp lữ hành có thể thực hiện chức năng này thông qua nhiều kênh khác nhau như tư vấn trực tiếp tại văn phòng công ty, tư vấn qua điện thoại, gửi mail, chat yahoo, facebook, qua các website của công ty hoặc qua các chiến dịch marketing và truyền thông và chủ yếu là các thông tin thứ cấp. Đối với đối tượng là các nhà cung cấp các sản phẩm du lịch, doanh nghiệp lữ hành có chức năng cung cấp những thông tin liên quan đến người tiêu dùng du lịch như: Mục đích, động cơ của chuyến đi của một hay một nhóm khách hàng, quỹ thời gian rảnh rỗi dành cho du lịch, khả năng thanh toán của người tiêu dùng du lịch, kinh nghiệm du lịch, sở thích, thị hiếu của người tiêu dùng du lịch cũng như những yêu cầu đặc biệt của họ.

Những thông tin mà DNLH cung cấp tới các nhà cung cấp sản phẩm du lịch đều là những thông tin sơ cấp mà họ có được từ quá trình tư vấn những khách hàng của họ. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 * Chức năng sản xuất Để thực hiện chức năng sản xuất, DNLH phải tiến hành các công việc tổ chức nghiên cứu thị trường và tổ chức sản xuất. Tổ chức nghiên cứu thị trường bao gồm các hoạt động nghiên cứu cả thị trường cung và cầu du lịch. Nội dung nghiên cứu cầu du lịch bao gồm các hoạt động nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng nói chung đến khả năng và điều kiện đi du lịch của dân cư, xác định thị trường khách và các nhóm khách hàng mục tiêu, quyết định loại CTDL cung cấp nhằm đáp ứng nhu cầu của từng loại khách hàng.

Các doanh nghiệp có thể nghiên cứu cầu du lịch thông qua các tài liệu có sẵn của các cơ quan nghiên cứu và cơ quan quản lý về du lịch hoặc tự mình thu thập các dữ liệu sơ cấp qua các cuộc nghiên cứu do doanh nghiệp tiến hành. Nội dung nghiên cứu cung du lịch là tìm hiểu về tài nguyên du lịch, khả năng tiếp cận các điểm du lịch, khả năng đón tiếp của các điểm đến du lịch và các đối thủ cạnh tranh trực tiếp và gián tiếp của doanh nghiệp. Thông qua các chuyến đi khảo sát thực địa kết hợp với việc nghiên cứu các tài liệu có sẵn hoặc các tài liệu có được từ các cơ quan quản lý du lịch địa phương. Tổ chức sản xuất bao gồm việc sắp đặt trước các dịch vụ hoặc liên kết các dịch vụ đơn lẻ với nhau thành một chương trình du lịch trọn gói, đây là sản phẩm chính của các DNLH.

Việc xây dựng lên một chương trình du lịch trọn gói như vậy, các DNLH phải tiến hành các hoạt động cần thiết để phát triển chương trình cũng như các yếu tố cấu thành chương trình lại với nhau, sau đó xác định nên chi phí và giá bán các CTDL hợp lý, vừa mang lại lợi nhuận cho công ty, vừa phù hợp với khả năng chi tiêu, sở thích của tập khách hàng của doanh nghiệp. Vì vậy, để có được một CTDL tốt nhất, DNLH phải thực hiện chức năng sản xuất trên cơ sở ghép nối các dịch vụ của nhà cung cấp đơn lẻ thành các chương trình trọn gói và tổng hợp. * Chức năng tổ chức thực hiện Đây chính là chức năng cuối cùng trong quá trình kinh doanh lữ hành. Sau khi ký hợp đồng, DNLH sẽ tiến hành các hoạt động như vận chuyển khách du lịch tới điểm đến, hướng dẫn tham quan, cung cấp cho khách hàng những thông tin về điểm đến mà khách hàng quan tâm, chuẩn bị bữa ăn, chỗ ngủ cho khách hàng đồng thời giám sát dịch vụ của các nhà cung cấp và giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình tổ chức thực hiện các CTDL.

Trong quá trình đó, đại diện của DNLH có thể thu thập ý kiến khách hàng về những vấn đề cốt lõi trong quá trình tổ chức thực hiện nhằm tìm hiểu thêm về sở thích, thị hiếu cũng như yêu cầu của khách hàng, phát hiện những mặt doanh nghiệp lữ hành còn hạn chế để có những hành động điều chỉnh cho phù hợp và tiến tới tổ chức thực hiện một chương trình du lịch ngày càng tốt hơn. Phân loại doanh nghiệp lữ hành LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 * Theo Luật Du lịch: DNLH được phân làm 2 loại: DNLH nội địa và DNLH quốc tế: - DNLH nội địa: Là doanh nghiệp có trách nhiệm xây dựng, quảng cáo, bán và tổ chức thực hiện các CTDL nội địa cho khách nội địa và nhận ủy thác của DNLH quốc tế để thực hiện các CTDL. Theo luật Du lịch thì DNLH nội địa không được phép kinh doanh lữ hành quốc tế. - DNLH quốc tế có 2 loại: DNLH quốc tế Inbound và Outbound + DNLH quốc tế Inbound: Là doanh nghiệp lữ hành có trách nhiệm xây dựng, quảng cáo, bán và tổ chức thực hiện các CTDL nội địa cho khách du lịch quốc tế vào tham quan tại Việt Nam và cho khách du lịch nội địa.

+ DNLH quốc tế Outbound: Là doanh nghiệp lữ hành có trách nhiệm xây dựng, quảng cáo, bán và tổ chức thực hiện các CTDL nội địa cho khách du lịch là người Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam đi tham quan nước ngoài và cho khách du lịch nội địa. * Theo quy mô: DNLH được phân thành: DNLH vừa và nhỏ, DNLH lớn. - DNLH vừa và nhỏ: Theo khoản 1 điều 3 Nghị định số 56/2009/NĐ-CP, DNLH vừa và nhỏ là những doanh nghiệp có tổng nguồn vốn từ 50 tỷ đồng trở xuống và có số lao động từ 100 người trở xuống. Hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam thuộc dạng này.

Nó có vị trí quan trọng trong hoạt động của ngành. Nhìn chung nó thích hợp với trình độ quản lý và môi trường kinh doanh ở nhiều điểm du lịch và vùng lãnh thổ. - DNLH lớn: Theo khoản 1 điều 3 Nghị định số 56/2009/NĐ-CP, DNLH lớn là những doanh nghiệp có tổng nguồn vốn trên 50 tỷ đồng và có số lao động trên 100 người được coi là doanh nghiệp lớn. Đây là các tổng công ty, các tập đoàn, chúng bao gồm nhiều thành viên hoạt động trong phạm vi một thành phố và có quan hệ với các đối tác ở ngoài thành phố, tỉnh và nước ngoài.

Theo xu hướng toàn cầu hoá hiện nay cũng như nhu cầu phát triển du lịch trong nước, khu vực và thế giới thì loại hình doanh nghiệp có quy mô lớn sẽ được phát triển. * Theo hình thức sở hữu: DNLH được phân thành các loại: Doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp cổ phần, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Ngoài ra, việc phân loại DNLH còn có thể căn cứ vào một số tiêu thức khác như: Phân loại theo sản phẩm chủ yếu của DNLH, theo phạm vi hoạt động của DNLH, theo quan hệ của công ty lữ hành với khách du lịch,… 1. Khái niệm, đặc điểm và phân loại lao động tại doanh nghiệp lữ hành 1.

Khái niệm lao động tại DNLH LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Lao động trong doanh nghiệp lữ hành là một bộ phận lao động xã hội cần thiết được phân công để thực hiện việc sản xuất và cung ứng các chương trình du lịch và các dịch vụ du lịch khác cho khách du lịch. Đặc điểm lao động tại DNLH Lao động tại các DNLH là một bộ phận của lao động xã hội nên nó mang mọi đặc điểm chung của lao động xã hội. Tuy nhiên, nó còn mang một số đặc trưng riêng của ngành. - Lao động tại DNLH có tính chất lao động dịch vụ.

Lao động tại DNLH chủ yếu là những nhân viên trực tiếp phục vụ khách. Các sản phẩm du lịch của DNLH là các sản phẩm dưới dạng dịch vụ không phải là sản phẩm được thiết kế từ trước và không có tính lặp lại, được tạo ra nhằm thoả mãn nhu cầu thiết yếu cũng như nhu cầu đặc trưng của khách du lịch. Để đánh giá chất lượng phục vụ của lao động là tốt hay không tốt còn phụ thuộc vào cảm nhận của người tiêu dùng. Do đó cần đánh giá chất lượng phục vụ của lao động dựa trên số khách hàng hài lòng.

- Lao động tại DNLH có tính đa dạng và chuyên môn hoá cao. Sự đa dạng về giới tính, độ tuổi và kỹ năng, tính chuyên môn hoá theo chức năng hoặc theo các bộ phận. Trong DNLH có nhiều bộ phận mỗi bộ phận có chức năng, nhiệm vụ khác nhau, cho nên khi tuyển dụng nhân viên phải tuyển những nhân viên theo chuyên nghành và được đào tạo chuyên sâu. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc thay thế lẫn nhau giữa các nhân viên trong các bộ phận.

- Lao động tại DNLH có tính chất phức tạp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ