CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Nguồn nhân lực Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đã chỉ ra nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia LĐ. Quan niệm NNL và CLNNL phổ biến rộng rãi nhất hiện nay trên thế giới được tổ chức Liên Hợp Quốc nhận định là: NNL là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sang tạp của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước.
Trong phạm vi tổ chức: NNL bao gồm tất cả những cá nhân tham giá bất cứ hoạt động nào với bất cứ vai trò nào trong tổ chức. Nó được coi là nguồn tài nguyên quý báu của tốc hức. Trong quá trình hoạt động của mình mọi tổ chức đều tận dụng một cách tối đa khai thác tiềm năng thể lực của con người, trong đó việc khai thác tiềm năng về mặt trí lực của con người là rất quan trọng. Từ việc nghiên cứu các quan niệm trên, NNL là toàn bộ con người trong xã hội có thể cung cấp thể lực và trí lực cho xã hội.
Thể lực chỉ sức khoẻ của thân thể nó phụ thuộc vào sức vóc, tình trạng sức khoẻ của từng con người, mức sống, thu nhập, chế độ ăn, chế độ làm việc, nghỉ ngơi, chế độ y tế. Thể lực con người còn tuỳ thuộc vào tuổi tác, thời gian công tác, giới tính… Trí lực chỉ sức suy nghĩ, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếu cũng như quan điểm, lòng tin, nhân cách…của từng người.” Như vậy có thể thấy nguồn lực con người đóng vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp phát triển xã hội nói chung và phát triển doanh nghiệp nói riêng. Nó thể hiện ở một số phương diện sau: - NNL là động lực của sự phát triển Các nguồn lực khác như vốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất, vị trí địa lý…là những khách thể, chịu sự khai thác cải tạo của của con người. Con người với tất cả những năng lực, phẩm chất tích cực của mình, bao gồm trí tuệ, kinh nghiệm, kỹ năng, tính năng động, sáng tạo…tác động vào các nguồn lực khác và gắn kết chúng lai để tạo ra hoạt động lao động phục vụ cho nhu cầu của xã hội.
Như vậy để xã hội thực sự phát triển, doanh nghiệp lớn mạnh được thì động lực lớn nhất, quan trọng nhất đó chính là năng lực của con người. Chính vì vậy cần phải sử dụng và khai thác hợp lý sao cho nguồn nhân lực thực sự là động lực to lớn, hữu ích cho sự phát triển. - NNL là nhân tố chủ yếu tạo lợi nhuận cho doanh nghiệp 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nguồn nhân lực đảm bảo mọi nguồn sáng tạo trong tổ chức. Chỉ có con người mới sáng tạo ra các hàng hoá, dịch vụ và kiểm tra được quá trình sản xuất kinh doanh đó.
Mặc dù trang thiết bị, tài sản, nguồn tài chính là những nguồn tài nguyên mà các tổ chức đều cần phải có, nhưng trong đó tài nguyên nhân văn - con người lại đặc biệt quan trọng. Không có những con người làm việc hiệu quả thì tổ chức đókhông thể nào đạt tới mục tiêu. - NNL là nguồn lực mang tính chiến lược Trong điều kiện xã hội đang chuyển sang nền kinh tế tri thức, thì các nhân tố công nghệ, vốn, nguyên vật liệu đang giảm dần vai trò của nó. Bên cạnh đó, nhân tố tri thức của con người ngày càng chiến vị trí quan trọng: Nguồn nhân lực có tính năng động, sáng tạo và hoạt động trí óc của con người ngày càng trở nên quan trọng.
- NNL là nguồn lực vô tận Xã hội không ngừng tiến lên, doanh nghiệp ngày càng phát triển và nguồn lực con người là vô tận.Nếu biết khai thác nguồn lực này đúng cách sẽ tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội, thoả mãn nhu cầu ngày càng cao của con người.Như vậy có thể nói nguồn nhân lực là một nguồn lực có vai trò quan trọng quyết định tới sự phát triển của kinh tế xã hội. Đầu tư cho nguồn nhân lực là đầu tư mang lại hiệu quả lâu dài và bền vững nhất. Chất lượng nguồn nhân lực Chất lượng là một khái niệm được hiểu bởi nhiều quan điểm khác nhau. Tùy từng lĩnh vực sẽ có một cách hiểu phù hợp.
Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn ISO đã đưa ra khái niệm : Chất lượng là khả năng tập hợp của các đặc tính của một sản phẩm, hệ thống hay quá trình để đấp ứng các yêu cầu của khách hàng và của các bên có liên quan. Đối với CLNNL, do xuất phát từ nhiều cách tiếp cận khác nhau nên đến nay vẫn có nhiều cách hiểu khác nhau khi bàn về CLNNL. Theo bài viết của TS. Vũ Thị Phương Mai thì “CLNNL là mức độ đáp ứng về khả năng làm việc của người lao động với yêu cầu công việc của tổ chức và đảm bảo cho tổ chức thực hiện thắng lợi mực tiêu cũng như thỏa mãn cao nhất nhu cầu của ngươi lao động”, Tạp chí Tổ chức Nhà nước.
Mai Quốc Chánh, CLNNL có thể được hiểu như sau: “CLNNL là trạng thái nhất định của NNL thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành bên trong của nguồn nhân lực” [2, tr. Từ đó, có thể tổng kết lại như sau: “CLNNL là toàn bộ năng lực của lực lượng lao động được biểu hiện thông qua ba mặt: thể lực, trí lực, tinh thần. Ba mặt này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau cấu thành CLNNL”. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Nâng cao CLNNL có thể được hiểu là việc thực hiện một số hoạt động nào đó dẫn đến sự thay đổi CLNNL tăng lên so với CLNNL trước đó. Đó là những biểu hiện tăng lên về trí lực, thể lực và tâm lực của mỗi cá nhân. Nâng cao CLNNL DN là tổng thể các nội dung , cách thức, phương thức làm biến đổi các yếu tố cấu thành CLNNL theo hướng phát triển một cách hợp lý về quy mô và trình độ nhằm đáp ứng yêu cầu về mục tiêu phát triển của doanh nghiệp với hiệu quả ngày càng tăng lên. Từ đó có thể thấy nâng cao CLNNL là nâng cao năng lực làm việc, kỹ năng chuyên môn và thái độ trong công việc của nhân lực đang làm việc ở tại DN.
Một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng nguồn nhân lực 1. Trình độ văn hóa Trình độ văn hóa là khả năng về trí thức và kỹ năng để có thể tiếp thu những kiến thức cơ bản, thực hiện những việc đơn giản để duy trì sự sống. Trình độ văn hóa được cung cấp thông qua hệ thống giáo dục chính quy, không chính quy; qua quá trình học tập suốt đỡi mỗi cá nhân. Hay trình độ văn hóa còn được hiểu là sự hiểu biết của con người về những kiến thức phổ thông.
Trình độ văn hóa được đánh giá qua hệ thống các chỉ tiêu sau: - Tỷ lên dân số biết chữ - Số năm đi học trung bình của dân số tính từ 25 tuổi trở lên - Số người trong độ tuổi lao động có trình độ : THCS, THPT, Đại học và trên Đại học 1. Trình độ chuyên môn kỹ thuật Trình độ chuyên môn kỹ thuật là kiến thức và kỹ năng cần thiết để thực hiện yêu cầu công việc của vị trí đang đảm nhiệm. - Trình độ chuyên môn của người lao đông trong doanh nghiệp là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá CLNNL, bởi vì trình độ học vấn tạo ra những điều kiện và khả năng để tiếp thu và vận dụng một cách nhanh chóng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất kinh doanh; sáng tạo ra những sản phẩm mới góp phaagn thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp đó nói riêng và nền kinh tế nói chung. Thực tế cho thấy ở phần lớn các doanh nghiệp người lao động có trình độ chuyên môn cao thì doanh nghiệp đó phát triển nhanh.
Tuy nhiên cũng có những doanh nghiệp mặc dù người lao động có trình độ chuyên môn cao nhưng chưa tận dụng được hết tiềm năng nay, nên tốc độ phát triển cũng như năng suất lao động của họ chưa cao, đó là cơ chế quản lý, khai thác và sử dụng NNL chưa được tốt. Trình độ chuyên môn được đo bằng : +Tỷ lệ cán bộ không qua đào tạo +Tỷ lệ cán bộ trung cấp 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com +Tỷ lệ cán bộ cao đẳng, đại học +Tỷ lệ cán bộ trên đại học - Trình độ kỹ thuật thể hiện thông qua hiệu quả làm việc của người lao động. Nó được thể hiện thông qua các chỉ tiêu sau: +Số lượng lao động được đào tạo kỹ thuật và lao động phổ thông +Số lượng người có bằng kỹ thuật và không có bằng kỹ thuật +Trình độ tay nghề theo bậc thợ 1. Tình trạng sức khỏe và năng lực phẩm chất - Tình trạng sức khỏe Tình trạng sức khỏe của NNL hay thể lực bao gồm nhiều yếu tố cả về thể chất lẫn tình thần và phải đảm bảo được sự hài hóa bên trong và bên ngoài.
Chất lượng NNL được cấu thành bởi năng lực tinh thần và thể chất trong đó năng lực thể chất chiếm một vị trí vô cùng quan trọng. Thể lực là điều kiện quann trọng để phát triển các nhân tố ở trên. Tình trạng sức khỏe được phản ánh bằng một hế thống các chỉ tiêu cơ bản như: chiều cao, cân nặng, tuổi thọ, các chỉ tiêu về tinh hình bệnh tật, các chỉ tiêu về cơ sở vật chất và các điệu kiện bảo vệ và chăm sóc sức khỏe. - Năng lực phẩm chất CLNNL còn được thể hiện thông qua những yếu tố vô hình không thể định lượng được bằng những con số cụ thể.
Đó chính là yêu tố phẩm chất (đạo đực) của NNL. Phẩm chất là tổng hợp các nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh, đánh giá hành vi của con người đối với bản thân và trong quan hệ với người khác với xã hội. Năng lực phẩm chất có thể hiện qua một số yếu tố như: ý thức tổ chức kỷ luật, tự giác trong lao động, tinh thần trách nhiệm, tác phong làm việc khẩn trương, chính xác, có lương tâm nghề nghiệp, có tinh thần hợp tác… 1. Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực Bất kỳ hoạt động của một tổ chức nào cũng chịu ảnh hưởng bởi 2 nhóm nhân tố bên trong và bên ngoài.
Những nhân tố bên ngoài 1.