ĐẶT VẤN ĐỀ Hiện nay, với sự phát triển một cách nhanh chóng của các ngành khoa học kỹ thuật thì nhu cầu được cập nhật, bổ sung kiến thức chuyên môn cùng các kỹ năng làm việc cho lực lượng lao động ngày càng trở nên quan trọng. Đặc biệt đối với lĩnh vực y tế là một ngành có những đặc thù riêng, nhiệm vụ của cán bộ y tế (CBYT) gắn liền với sức khỏe tính mạng con người. Do vậy, việc cập nhật liên tục những kiến thức, kỹ thuật mới, hạn chế tối thiểu những sai sót chuyên môn là nhiệm vụ bắt buộc với mọi CBYT (1). Tại các nước Châu Âu, nơi có nền y học phát triển, một cuộc khảo sát trên 18 quốc gia đã minh họa sự đa dạng của các hệ thống đạo tạo y khoa liên tục.
Hà Lan có một hệ thống tái chứng nhận theo luật định, nhưng một số quốc gia khác bao gồm cả Anh và Ireland CBYT được phân loại và xem xét để giới thiệu đào tạo lại bắt buộc hoặc tái cấp chứng nhận hành nghề. Các nước khác nhau có cách tính chu kỳ đào tạo khác nhau, cứ hai năm, ba năm hoặc năm năm, và số tín chỉ yêu cầu dao động từ 50 đến 100. Các nước khác đang xem xét giới thiệu một hệ thống dựa trên giờ, nhưng vẫn còn nhiều tranh luận về việc hệ thống tích lũy giờ hoạt động giáo dục là thước đo giá trị của hoạt động đó. Có sự công nhận lẫn nhau về đào tạo y khoa liên tục (CME) và phát triển nghề nghiệp liên tục (CPD) giữa các nước thuộc liên minh Châu Âu và các nước Bắc Mỹ trong đó có Hoa Kỳ (2), (3).
Tại Việt Nam, công tác đào tạo liên tục (ĐTLT) đã được Bộ Y tế triển khai thực hiện thí điểm từ những năm 1990, nhưng đến năm 2008 mới có văn bản chính thức (Thông tư số 07/2008/TT-BYT) (4). Năm 2013 lại thay thế văn bản trên bằng Thông tư 22/2013/TT-BYT hướng dẫn về công tác đào tạo liên tục đối với nhân viên ngành y tế (CBYT đã được cấp chứng chỉ hành nghề và đang hành nghề khám bệnh, chữa bệnh có nghĩa vụ tham gia đào tạo liên tục tối thiểu 48 tiết học trong 2 năm liên tiếp) (5). Ngoài ra, Luật khám, chữa bệnh cũng qui định người hành nghề y không cập nhật kiến thức y khoa trong 02 năm liên tiếp sẽ bị thu hồi chứng chỉ hành nghề (6). Theo Bộ Y tế đến nay Việt Nam tuy bước đầu đã hình thành hệ thống đào tạo liên tục nhưng chưa hoàn chỉnh.
Những chế độ, chính sách còn chưa 2 đầy đủ, thiếu đồng bộ khiến cho việc triển khai thực hiện ĐTLT gặp nhiều khó khăn. Chất lượng đội ngũ nhân lực y tế không phát triển kịp theo nhu cầu, làm ảnh hưởng đến công tác chuyên môn của ngành y tế (7). Bệnh viện Chợ Rẫy là bệnh viện tuyến cuối Hạng Đặc biệt trực thuộc Trung ương, mỗi ngày Bệnh viện Chợ Rẫy khám và điều trị cho trên 10 nghìn lượt người bệnh nội và ngoại trú. Chính vì vậy, các điều dưỡng (ĐD) đóng vai trò quan trọng trong việc chăm sóc người bệnh, hỗ trợ và nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, giúp người bệnh được chăm sóc tốt nhất trong quá trình khám, điều trị tại các cơ sở y tế.
Qua đó, nâng cao trình độ chuyên môn của ĐD thể hiện qua mức độ tự tin trong việc tiếp cận, thực hiện các kỹ thuật ĐD trên người bệnh và tư vấn, hỗ trợ cho người bệnh, thân nhân bệnh nhân trong quá trình khám, chữa bệnh (8), (9). Tuy nhiên công tác ĐTLT còn hạn chế về số lượng và chất lượng, chưa đồng bộ giữa mục tiêu và chương trình đào tạo, chưa đáp ứng nhu cầu thực tế. Để trả lời câu hỏi thực trạng ĐTLT của các ĐD khoa khám bệnh như thế nào? Những yếu tố nào ảnh hưởng đến ĐTLT của các ĐD khoa khám bệnh? Chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến Đào tạo liên tục cho Điều dưỡng khoa Khám bệnh, Bệnh viện Chợ Rẫy – Thành phố Hồ Chí Minh, giai đoạn 2019-2020” để nhằm đánh giá khách quan, tìm hiểu sâu về những vấn đề liên quan, cung cấp thông tin góp phần xây dựng kế hoạch và kiểm soát chất lượng đào tạo liên tục cho ĐD tại bệnh viện. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.
Mô tả thực trạng đào tạo liên tục của nhân viên Điều dưỡng khoa Khám bệnh - Bệnh viện Chợ Rẫy, giai đoạn 2019-2020. Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo liên tục của nhân viên Điều dưỡng khoa Khám bệnh - Bệnh viện Chợ Rẫy, giai đoạn 2019-2020. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm 1.
Nhân lực y tế Nguồn nhân lực y tế theo định nghĩa của Tổ chức y tế thế giới (WHO) đưa ra vào năm 2006 “Nhân lực y tế bao gồm tất cả những người tham gia chủ yếu vào các hoạt động nhằm nâng cao sức khỏe”(10). Đào tạo liên tục Theo Ủy ban kiểm định giáo dục y học liên tục của Hoa Kỳ, ĐTLT bao gồm các hoạt động giáo dục được cung cấp để duy trì, phát triển, hoặc nâng cao kiến thức, kỹ năng, tác nghiệp và hiệu suất làm việc của nhân viên y tế để cung cấp dịch vụ y tế cho người bệnh, cộng đồng hoặc nhằm tăng cường sự chuyên nghiệp. Nội dung của ĐTLT là tổng thể của kiến thức và kỹ năng được công nhận về lĩnh vực y học, những tiêu chuẩn về thực hành lâm sàng và cung cấp sức khỏe cho cộng đồng. Nghĩa rộng hơn của ĐTLT là bao gồm tất cả các hoạt động giáo dục thường xuyên nhằm hỗ trợ các nhân viên y tế để hành nghề một cách hiệu quả hơn (11).
Đào tạo y khoa liên tục (Continuing Medical Education được viết tắt là CME) được định nghĩa là “Hoạt động được xác định rõ ràng để phát triển chuyên môn của cán bộ y tế và dẫn đến việc cải thiện chăm sóc cho bệnh nhân. CME bao gồm tất cả các hoạt động học tập mà cán bộ y tế mong muốn thực hiện để có thể liên tục, thường xuyên nâng cao năng lực chuyên môn của mình…” (12). Đào tạo liên tục (ĐTLT): Là một khái niệm không phải mới tại Việt Nam, bản chất khái niệm này đã có trong Luật Khám bệnh, chữa bệnh và rất nhiều trong văn bản quản lý y tế cũng như những tài liệu hướng dẫn quản lý do Bộ Y tế soạn thảo và ban hành. Đào tạo liên tục là các khoá đào tạo ngắn hạn, bao gồm đào tạo bồi dưỡng để cập nhật, bổ sung kiến thức, kỹ thuật thuộc lĩnh vực chuyên môn đang công tác; đào tạo, đào tạo lại theo nhiệm vụ chỉ đạo tuyến, đào tạo chuyển giao kỹ thuật và các khoá đào tạo chuyên môn nghiệp vụ khác của ngành y tế mà không thuộc hệ thống bằng cấp quốc gia (4).
5 Cơ sở đào tạo liên tục: Là các Viện, bệnh viện có giường bệnh; viện nghiên cứu; các cơ sở giáo dục chuyên nghiệp/dạy nghề y tế; các cơ sở giáo dục khác có đào tạo mã ngành thuộc khối ngành khoa học sức khỏe; các trung tâm có đào tạo nhân lực y tế, được Bộ Y tế thẩm định và công nhận (5). Nhu cầu đào tạo: Là những gì người đó cần học để có thể đạt được những mục tiêu nhất định trong cuộc sống hay trong công việc. Thông thường, nhu cầu học thường xuất phát từ những mong muốn hay nguyện vọng của chính người học. Đôi khi người học không tự nhận thấy ngay được những nhu cầu đó mà cẩn phải có sự hỗ trợ, tư vấn của người làm công tác đào tạo để có thể thấy rõ (13).
Đánh giá nhu cầu đào tạo: Là một quá trình tìm hiểu rõ về người tham gia và năng lực của học trước khi đào tạo. Đánh giá nhu cầu cần đào tạo quan tâm đến nhu cầu cần phải học, không phải quan tâm đến việc thích hay không thích của người học. Đánh giá NCĐT giúp xác định sự chênh lệch giữa kỹ năng, kiến thức và thái độ mà người học đang có với kỹ năng, kiến thức và thái độ mà người học cần phải có (5). Điều dưỡng Từ thời xa xưa do chưa hiểu biết, con người tin vào thần linh, thượng đế, khi có bệnh họ mời pháp sư đến, vừa điều trị vừa cầu kinh.
Các đền miếu được xây dựng để thờ thánh thần và dần dần trở thành những trung tâm chăm sóc và điều trị bệnh nhân. Tại đây, các pháp sư điều trị bệnh và các nhóm nữ vừa giúp lễ vừa phụ giúp chăm sóc bệnh nhân từ đó hình thành mối liên kết Y khoa - điều dưỡng và Tôn giáo. Florence Nightingale (1820-1910) là người sáng lập ra ngành điều dưỡng. Năm 30 tuổi, bà đã trở thành người điều hành và tổ chức chăm sóc sức khoẻ cho những người nghèo khổ tại thủ đô nước Anh, sắp xếp hợp lý và đưa ra các tiêu chuẩn cho công tác chăm sóc, Florence Nightingale đã lập hội đồng quản lý ngân sách 50.000 bảng Anh để thành lập trường đào tạo Y tá đầu tiên trên thế giới ở nước Anh vào năm 1860.
Trường đào tạo Y tá Nightingale cùng với chương trình đào tạo một năm đã đặt nền tảng cho hệ thống đào tạo Y tá không chỉ ở Vương Quốc Anh mà còn ở nhiều nước khác trên thế giới. Để tưởng nhớ công lao của bà và khẳng định quyết tâm tiếp tục sự nghiệp mà Florence Nightingale đã dày công xây dựng. 6 Hội đồng điều dưỡng thế giới đã quyết định lấy ngày sinh của Bà Florence Nightingale (12/05) làm ngày Điều dưỡng quốc tế và Bà đã trở thành người mẹ tinh thần của ngành điều dưỡng thế giới (14). Ở miền Bắc, ngày 21 tháng 11 năm 1963, Bộ trưởng Bộ Y tế đã ra quyết định về chức vụ Y tá trưởng ở các cơ sở điều trị, bệnh viện, viện điều dưỡng, trại phong, bệnh xá từ 30 giường bệnh trở lên.
Năm 1970, Hội điều dưỡng miền Nam được thành lập, bà Lâm Thị Hạ là Chánh sự vụ Sở điều dưỡng đầu tiên kiêm Chủ tịch Hội. Năm 1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ thắng lợi, đất nước được hoà bình thống nhất, Bộ Y tế đã thống nhất chỉ đạo công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân trong cả nước. Từ đó nghề điều dưỡng bắt đầu có tiếng nói chung giữa hai miền Nam, Bắc. Cùng với vị trí, chức năng, nhiệm vụ của người y tá - điều dưỡng được thay đổi, tên gọi y tá ở miền Bắc và điều dưỡng ở miền Nam dần dần được thống nhất đúng với vị trí xứng đáng của họ, đó là điều dưỡng (14).