CHƯƠNG I. TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1. Vai trò và tầm quan trọng của tiêm trong quá trình điều trị 1. Vai trò và tầm quan trọng của tiêm Tiêm là kỹ thuật đưa thuốc hoặc hóa chất vào cơ thể nhàm mục đích chẩn đoán, điều trị và phòng bệnh.
Trong điều trị tiêm có vai trò quan trọng trong chừa bệnh tại các cơ sở y tế, đặc biệt là trong những trường hợp cấp cứu người bệnh nặng. Trong lĩnh vực phòng bệnh, tiêm chủng đã tác động mạnh đến việc giảm tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong đối với các bệnh truyền nhiễm dự phòng được bàng vắc xin. Trong lĩnh vực chấn đoán, việc tiêm hóa chất vào cơ thế người bệnh được áp dụng trong các trường hợp phức tạp, không thể chẩn đoán được bằng những phương pháp thăm khám và xét nghiệm thông thường. Định nghĩa tiêm an toàn: Tiêm an toàn là mũi tiêm sử dụng phương tiện vô khuẩn, phù hợp với mục đích, không gây hại cho người được tiêm, không gây nguy cơ phơi nhiễm cho người thực hiện tiêm và không gây chất thải nguy hại cho người khác.
Hay nói cách khác, tiêm an toàn là mũi tiêm “An toàn cho người bệnh, an toàn cho cán bộ y tế, và an toàn cho cộng đồng"’ [35]. Tình hình tiêm truyền và tiêm an toàn trên thế giói Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), tiêm là thủ thuật phổ biến nhất. Tại các nước đang phát triển, hàng năm có khoảng 16 tỷ mũi tiêm, trong đó có tới 95% mũi tiêm được thực hiện với mục đích điều trị, 3% mũi tiêm là tiêm chủng, 1% mũi tiêm nhàm mục đích kế hoạch hóa gia đình, 1 % mũi tiêm được sử dụng trong truyền máu và các chế phẩm của máu [40]. Những ưu điểm cùa tiêm đã được công nhận từ lâu, tuy nhiên mặt trái của mũi tiêm là những vấn đề cần bàn tới, đặc biệt là những mũi tiêm được thực hiện một cách không an toàn có thể gây nên những hậu quả nghiêm trọng với cả người nhận mũi tiêm, 5 người tiêm và cộng đồng.
Hậu quả đổi với người nhận mũi tiêm không an toàn chủ yếu là những bệnh lây truyền qua đường máu như Viêm gan B (HBV), Viêm gan c (HCV), HIV và các bệnh nguy hiềm khác, cùng với các tai biến sảy ra trong và sau khi tiêm như: áp xe, teo cơ tại vị trí tiêm, sốc phán vệ, liệt thần kinh [40]. Đối với nhân viên y tế, mũi tiêm không an toàn có thê dẫn đến những hậu quả khó lường mà chủ yếu là các bệnh lây qua đường máu như HBV, HCV, HIV. Một mắt xích quan trọng của quá trình lây bệnh từ người bệnh sang nhân viên y tế qua đường máu là các tai nạn do vật sắc nhọn. Theo WHO đổi tượng bị tai nạn nghề nghiệp do kim đâm vào tay cao nhất là điều dưỡng là những người trực tiếp thực hiện các mũi tiêm, tiếp đến là các bác sỹ, kỹ thuật viên xét nghiệm, hộ lý và các nhân viên khác.
Nếu nguy cơ mắc bệnh tỷ lệ thuận với tai nạn do kim đâm vào tay thì điều dưỡng là đối tượng y tế đáng được quan tâm nhất khi đề cập tới chủ đề tiêm an toàn [40]. Mũi tiêm không an toàn không chỉ gây tổn hại tới cán bộ y tế và người bệnh mà còn có thể gây tổn hại đến những người sống trong cộng đồng. Mặc dù tỷ lệ thương tổn cho cộng đồng hiện nay chưa được thống kê đầy đủ và hệ thống như những tổn thương cho người bệnh và cán bộ y tế nhưng những bàng chứng từ thực tế cho thấy, những nguy hại cho cộng đồng thường xảy ra khi những dụng cụ sau tiêm không được xử lý an toàn, khi cộng đồng nhặt và sử dụng lại bơm kim tiêm đã sử dụng, những tổn thương có thể xảy ra, hoặc khi thiêu đốt không an toàn có thể gây ra những nguy hại cho môi trường và ảnh hưởng trực tiếp đến cộng đồng [42], [45]. Trong số rất nhiều bệnh lây truyền qua đường máu thì HIV, HBV và HCV được biết đến như là 3 trong số những bệnh liên quan nhiều đến tiêm không an toàn [45].
HBV: là bệnh lây truyền cao, hiện đã ở mức tương đổi phổ biến, HBV gây ra những hậu quả lâu dài cho sức khỏe. Tiêm không an toàn là nguyên nhân hàng đầu gây lây nhiễm bệnh Viêm gan B, với số lượng cao ở các nước đang phát triển, hàng năm có tới 21,7 triệu người bị nhiễm HBV do tiêm không an toàn, chiếm tới 33% số ca mắc mới nhiễm HBV trên toàn thế giới [40]. 6 HCV: là bệnh lây nhiễm nguy hiểm, tiêm không an toàn cũng là nguyên nhân chủ yếu của những trường hợp nhiễm HCV tại các nước đang phát triên. Hàng năm số lượng này lên tới 2.5 triệu ca nhiễm HCV chiếm tới 42% những trường hợp nhiễm HCV mới.
Đã có những bằng chứng kết luận ràng HCV đã đạt tới mức cao nhất do tiêm không an toàn gây nên [40]. HIV: theo WHO ước tính tiêm không an toàn gây nên khoảng 250 nghìn trường hợp nhiễm HIV mới mỗi năm chiếm khoảng 5% các ca nhiễm mới. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra những trường hợp nhiễm HIV do tiêm không an toàn xảy ra chủ yểu ở vùng Nam Á và châu Phi. Ờ vùng Nam Á tỳ lệ này lên tới 9% các ca nhiễm HIV mới [40].
Hội thảo đầu tiên về nghiên cứu thực hành tiêm được tổ chức tại Geneva, Thụy Sĩ từ ngày 2-5/5/1990. Bà Pascale Brudon Jakobowicz chuyên gia đề án thuốc thiết yếu "ACTION PROGRAM ON DRUG ESSENTIAL" là đại diện của WHO tại Việt Nam trong giai đoạn đó, khi đề cập tới vấn đề lạm dụng tiêm diễn ra ở các nước đang phát triển đã nhấn mạnh ràng: theo quan điểm y tế. tiêm thuốc mà không có đủ kiến thức y học và các quy trình vô khuẩn sẽ dẫn đến nguy cơ lan truyền các bệnh rất nghiêm trọng như: HIV/AIDS và Viêm gan B, Viêm gan c. Hơn nữa, nhiều mũi tiêm không cần thiết về phương diện y học là một mối nguy cơ đang tiềm ẩn.
về phương diện kinh tế, tiêm không phải là điều mong đợi đối với nhiều gia đình nghèo với nguồn tài chính rất eo hẹp thì đồng tiền phải được sử dụng có hiệu quả hơn. Tiêm không an toàn gây ra những hậu quả nghiêm trọng như vậy là những điều đã được chứng minh. Tuy nhiên một trong những điếm rất đáng chú ý của vẩn đề tiêm an toàn là khả năng phòng tránh không để xảy ra mất an toàn. Theo nhận định của trung tâm kiểm soát bệnh tật của Hoa Kỳ (CDC) và WHO thì có tới 80% các rủi ro do kim tiêm có thể phòng ngừa được bằng các biện pháp hết sức đơn giản như: sử dụng dụng cụ vô khuẩn, thực hiện đúng quy trình kỹ thuật tiêm.
Việc mất an toàn trong tiêm có thể được giảm nhẹ đi rất nhiều khi ta hiểu rõ những hành vi tiêm không an toàn, nguyên nhân của các hành vi đỏ và các biện pháp khống chế, giảm nhẹ và tiến tới loại trừ chúng ra khỏi đời sống [42], 7 Một số tổ chức lớn trên thế giới như WHO- UNICEF- UNFPA đã phối hợp và thành lập mạng lưới tiêm an toàn toàn cầu (Safety Injection Global Network) được viết tất là SIGN vào năm 1999. Hàng năm SIGN tổ chức hội nghị thường niên, mục đích của SIGN là đưa ra những khuyến cáo nhàm giảm tần xuất tiêm và mũi tiêm được thực hiện an toàn. Mặt khác SIGN đã đưa ra định nghĩa tiêm an toàn là mũi tiêm không làm tổn hại đến người được tiêm, người tiêm và cộng đồng. Tại hội nghị thường niên cùa SIGN được tổ chức từ ngày 13-15 tháng 10 năm 2008 tại Moscow Liên Bang Nga, trong bài phát biểu của mình, Tiến sỹ Steffen Groth- Giám đốc trung tâm kỹ thuật chăm sóc sức khỏe thiết yếu đã nêu một số con số rất đáng báo động: theo ước tính mới nhất của một nghiên cứu về gánh nặng bệnh tật toàn cầu, tiêm không an toàn có liên quan tới 21 triệu trường hợp nhiễm Virus Viêm gan B, 2 triệu trường hợp Viêm gan c, và 260.000 trường hợp nhiễm HỈV (nghiên cứu vào năm 2003).
Đồng thời ông nhấn mạnh: trong những can thiệp nhằm đạt được mũi tiêm an toàn và thích hợp thì việc tác động vào hành vi tiêm thường hiệu quả hơn là tác động làm giảm mũi tiêm không cần thiết. Bên cạnh việc tuyên truyền cho nhân viên y tế và người bệnh để giảm mũi tiêm thì việc kết hợp thực hiện những can thiệp làm tăng sự an toàn cho mũi tiêm thông qua việc cung cấp phương tiện TAT và giáo dục cho người thực hiện mũi tiêm những biện pháp an toàn là điều cần thiết. Tổ chức Y tế Thế giới đã thực hiện nhiều nghiên cứu xác định mối liên quan giữa tiêm truyền không an toàn và sự lây truyền các bệnh qua đường máu như: Viêm gan Virus B. Viêm gan Virus c, HIV cùng đó nhiều nghiên cứu về tiêm truyền và vai trò, ảnh hưởng của lực lượng điều dưỡng, nhũng người trực tiếp cung cấp phần lớn các dịch vụ y tế đến người bệnh, đội ngũ chính thức thực hiện kỹ thuật tiêm truyền cho người bệnh hàng ngày.
Một NC ở Thổ Nhĩ Kỳ về thực hành tiêm tĩnh mạch bằng KT đặt lưu kim luồn tĩnh mạch tại 3 bệnh viện chuyên khoa Nhi từ tháng 3 đến tháng 12 năm 2004 trên 40 điều dường, kết quả cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về thực hành của điều dưỡng ở các thời điểm trước, trong, và sau can thiệp. Căn cứ theo kết quả giám sát trực 8 tiếp các động tác trong quy trinh đặt lưu kim luồn tĩnh mạch NC đưa ra kết luận đê đảm bảo an toàn cho NB, các động tác trong thực hành KT tiêm truyền của điều dưỡng phải được đào tạo, đồng thời được kiểm soát chặt chẽ và thường xuyên [41], Nghiên cứu tại khoa Nhi thuộc bệnh viện Nữ Hoàng Elizabeth Trung Ương được thực hiện vào tháng 10-11 năm 2008 với nội dung đánh giá phương pháp giảng dạy cho một khóa học về KT tiêm bắp với việc quan sát 223 mũi tiêm bắp.