Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TRƯỜNG PHỔ THÔNG LIÊN CẤP TRONG CÁC DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN 1. Tổng quan các nghiên cứu 1. Các nghiên cứu ở trong nước về nhà trường, quản lý nhà trường Trong suốt chặng đường xây dựng và phát triển nền giáo dục xã hội chủ nghĩa trên 60 năm qua, các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học Việt Nam, đã đưa ra quan điểm và giải pháp phát triển giáo dục, nâng cao chất lượng giáo dục trong các nhà trường Phổ thông theo các hướng: - Hoàn thiện và tăng cường hiệu lực của luật pháp, chính sách, quy chế, cơ chế giáo dục và quản lý giáo dục. - Nâng cao năng lực cho đội ngũ CBQL, giáo viên trong việc đổi mới phương pháp giáo dục và dạy học.
- Tăng cường CSVC&TBDH theo hướng chuẩn hoá và hiện đại hoá. - Xây dựng mối quan hệ giữa giáo dục nhà trường với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội. - Mô hình trường chuẩn quốc gia theo từng giai đoạn phát triển KT-XH. - Áp dụng các thành quả của công nghệ thông tin và truyền thông vào quản lý giáo dục, vào hoạt động giáo dục và hoạt động dạy học.
Các thành quả nghiên cứu trên được thể hiện rất khoa học trong một số tác phẩm của một số nhà khoa học tiêu biểu dưới đây: - Phương pháp luận khoa học giáo dục, của Phạm Minh Hạc (tổng chủ biên), Viện khoa học Giáo dục, Hà Nội [24]. Quá trình sư phạm - Bản chất, cấu trúc và tính quy luật của Hà Thế Ngữ, 1986[46]. Giáo dục học (tập 1, 2) của Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt, 1987 [79]. Những khái niệm cơ bản về lý luận quản lý giáo dục của Nguyễn Ngọc Quang, 1989 [34].
Giáo dục học đại cương của Nguyễn Sinh Huy và Nguyễn Văn Lê, 1999 [37] và Tuyển tập Giáo dục học - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của cố giáo sư Hà Thế Ngữ, 2001[52]. - Ngoài các công trình trên, khi bàn luận về hiệu quả giáo dục và hiệu quả quản lý giáo dục đã có một số bài báo khoa học như: + Chất lượng và hiệu quả giáo dục của Lê Đức Phúc, 1997 [62], 12 + Bàn về chất lượng và hiệu quả giáo dục của Nguyễn Công Giáp, 1998 [28],. + Gần đây, năm 2003, tác giả Nguyễn Văn Châu đã có Luận án tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử sư phạm học với đề tài: “Giải pháp tăng cường hiệu quả quản lý hoạt động dạy học của hiệu trưởng trường trung học phổ thông”. Tại luận án này tác giả đã đề cập tới khái niệm hiệu quả quản lý, đưa ra một số quan điểm và phương thức đánh giá hiệu quả quản lý dạy học của hiệu trưởng trường phổ thông [14].
Cùng với công tác dạy và học ở các cơ sở giáo dục, nghiên cứu các mô hình giáo dục, hoạt động đánh giá chất lượng giáo dục (ĐGCLGD) cũng được các nhà nghiên cứu, các nhà QLGD quan tâm. Mục đích chính của ĐGCLGD là cải tiến chất lượng giáo dục, là công cụ giám sát quá trình dạy học, từ đó đưa ra các quyết sách về quản lý, dự báo kết quả dạy học để không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục. Hoạt động đánh giá của nhiều nước trên thế giới thường tập trung vào đánh giá kiến thức, kỹ năng, thái độ của học sinh và thường áp dụng cho các lớp ở cuối các cấp học trong phạm vi cả nước theo các chuẩn mực quy định. Các hoạt động đánh giá này rất phổ biến ở các nước Bắc Mỹ, Châu Âu, Australia.
Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, chất lượng nhà trường được nâng cao khi đội ngũ giáo viên của nhà trường có kỹ năng chuyên môn cao, được giảng dạy đúng chuyên môn mà họ được đào tạo, có kinh nghiệm, nhiệt tình và thường xuyên được bồi dưỡng nâng cao trình độ. Chất lượng của các hoạt động giáo dục được thể hiện trong quá trình giáo dục, phương pháp dạy và học, kiểm tra, đánh giá, sự phát triển của người học, sự thỏa mãn của cha mẹ và cộng đồng.Có thể khái quát các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục là: + Người học + Đội ngũ cán bộ, giáo viên + Chương trình giáo dục + Phương pháp dạy học + Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học + Môi trường dạy, học + Hệ thống đánh giá + Hệ thống quản lý giáo dục 13 + Hoạt động giáo dục phù hợp với văn hóa địa phương + Chính sách và đầu tư hợp lý Nhiều quốc gia thực hiện công tác ĐGCLGD để xác nhận và công nhận chất lượng dạy và học của các nhà trường. Tiêu biểu ở hình thức này là Hoa kỳ, Canada, Trung quốc, Nhật bản, Hàn quốc. Các hiệp hội KĐCLGD ở các nước này đã xây dựng các bộ tiêu chuẩn, tiêu chí để công nhận mức độ đạt được của các cơ sở giáo dục so với các chuẩn quy định.
Gần đây, nhiều nước nhấn mạnh đến lợi ích giáo dục nghề nghiệp cho người học. Các nước rất quan tâm đến việc lựa chọn các tiêu chí và bộ công cụ đơn giản để can thiệp dựa vào gia đình và cộng đồng. Ở Việt Nam, cũng đã có nhiều tác giả nghiên cứu và đề cập đến ĐGCLGD như Trần Khánh Đức với "Quản lý và kiểm định chất lượng đào tạo nhân lực theo ISO&TQM" [19], tác giả Nguyễn Hữu Châu với "Chất lượng giáo dục những vấn đề lí luận và thực tiễn" [11]; Một số công trình nghiên cứu về giáo dục phổ thông như: tác giả Nguyễn Kim Dung, “Đánh giá chất lượng và hiệu quả giáo dục của các trường chuyên cấp THPT tại thành phố Hồ Chí Minh”, Đề tài khoa học cấp thành phố.[31], Nguyễn Văn Lê - Hà Thế Truyền (2003), Kinh nghiệm giáo dục phổ thông và hướng nghiệp trên thế giới, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội.[38], Nguyễn Văn Lê - Hà Thế Truyền - Bùi Văn Quân (2003), Một số vấn đề về giáo dục phổ thông và hướng nghiệp, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội.[39] Tuy nhiên việc triển khai áp dụng và việc chỉ đạo thực hiện quản lý đánh giá chất lượng theo chuẩn, quy trình "Đánh giá chất lượng giáo dục trường phổ thông liên cấp" thực sự chưa được nghiên cứu. Tác giả Luận án sẽ coi đây là một nội dung cần nghiên cứu để hoàn thiện mô hình quản lý trường phổ thông liên cấp trong các doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam.
Một số nghiên cứu liên quan đến mô hình bao gồm:“Phát triển nhà trường trung học phổ thông ở Việt Nam theo quan điểm nhà trường hiệu quả”, tác giả Nguyễn Mạnh Cường: “Phát triển đội ngũ giáo viên trường trung học phổ thông theo quan điểm nhà trường hiệu quả”, tác giả Nguyễn Tiến Dũng: Quản lý trường THPT theo quan điểm nhà trường hiệu quả, Tác giả Phạm Tuấn Hùng Quản lý trường THPT ngoài công lập ở Việt Nam trong giai đoạn hiện 14 nay, tác giả Phạm văn Đại: nghiên cứu về quản lý trường phổ thông có yếu tố nước ngoài tại Hà Nội. Các luận án này đều nghiên cứu về trường trung học phổ thông tuy nhiên chỉ đề cập đến một khía cạnh của quản lý trường TH phổ thông, vì thế sẽ là cơ sở để tác giả nghiên cứu và tìm hiểu sâu sắc vấn đề này hơn nữa. Từ tổng quan nghiên cứu vấn đề ở trong nước cho thấy rằng, đã có nhiều công trình nghiên cứu về quản lý nhà trường phổ thông nói chung cũng như quản lý trường phổ thông ngoài công lập, nhưng chưa có một công trình nào đi sâu vào nghiên cứu về Quản lý trường phổ thông theo mô hình liên cấp trong doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam. Tác giả sẽ tiếp tục nghiên cứu vấn đề này một cách toàn diện và sâu sắc, sao cho phù hợp, hiệu quả và khả thi, từng bước nâng cao chất lượng giáo dục, hướng tới chuẩn quốc tế các trường phổ thông liên cấp trong các doanh nghiệp tư nhân.
Các nghiên cứu quốc tế về nhà trường, mô hình nhà trường Từ thập kỷ 70 của thế kỷ trước, vấn đề nghiên cứu về nhà trường, mô hình nhà trường đã xuất hiện và vấn đề này đã trở thành một trào lưu được các nhà khoa học ở nhiều quốc gia nghiên cứu. Tại Hợp chủng quốc Hoa Kỳ - Vào những năm 70 của Thế kỷ 20, tại Mỹ đã nghiên cứu những yếu tố nhằm cải cách tổ chức và quản lý nhà trường. Các nhà khoa học Mỹ đã đưa ra những đặc trưng của nhà trường hiệu quả là nhà trường thoả mãn một số tiêu chí sau: 1) Đội ngũ lãnh đạo nhà trường mạnh về năng lực quản lý; 2) Tập trung vào đào tạo để người học thành thạo các kỹ năng cơ bản; 3) Xây dựng được một môi trường học tập sạch sẽ và trật tự; 4) GV luôn có những yêu cầu cao đối với HS (mục tiêu); 5) Có sự đánh giá liên tục để nhận biết những tiến bộ của HS. - Đến thập kỷ 80, các kết quả nghiên cứu về nhà trường hiệu quả đã thay đổi.
Kết quả điển hình tại Mỹ về nhà trường hiệu quả là của Purkey và Smith (1983) với việc chỉ ra 9 đặc trưng mang tính tiêu chí liên quan đến tổ chức và 4 đặc trưng liên quan đến quá trình đào tạo của nhà trường hiệu quả: a) Chín đặc trưng về phương diện tổ chức quá trình hoạt động: 1) Quản lý dựa vào nhà trường; 15 2) Sự chỉ đạo giảng dạy; 3) Sự ổn định về đội ngũ GV; 4) Chương trình rõ ràng và có tổ chức; 5) Sự phát triển đội ngũ toàn trường; 6) Sự tham gia và ủng hộ của cha mẹ; 7) Sự thừa nhận của toàn trường về kết quả học tập; 8) Thời gian học tập tối đa; 9) Sự ủng hộ của cộng đồng. b) Bốn đặc trưng liên quan đến quá trình đào tạo: 1) Lập kế hoạch hợp tác và mối quan hệ đồng nghiệp; 2) Ý thức về cộng đồng; 3) Mục tiêu rõ ràng và những mong đợi cao; 4) Trật tự và kỷ luật. - Đứng ở phương diện cộng đồng tham gia giáo dục, nghiên cứu gần đây nhất ở Mỹ cho thấy sự tham gia của GV vào việc ra quyết định và sự tham gia của cha mẹ vào quản lý nhà trường có liên quan mạnh với kết quả học tập của HS (Witte và Walsh, 1990).