Tổng quan luận án

Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam, doanh nghiệp giữ vai trò là chủ thể trực tiếp tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, kiến tạo của cải vật chất và giá trị tinh thần cho xã hội. Để duy trì sự tồn tại và phát triển bền vững, việc xác lập nền tảng văn hóa doanh nghiệp trở thành yêu cầu khách quan. Trong các nhân tố cấu thành và chi phối văn hóa doanh nghiệp, ý thức pháp luật giữ vị trí điều chỉnh nền tảng, định hướng chuẩn mực hành vi và xác lập trách nhiệm xã hội của các chủ thể kinh doanh.

Thực tiễn tái cấu trúc doanh nghiệp tại Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu cho thấy tính văn hóa trong kinh doanh chưa cao, bắt nguồn từ nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật còn hạn chế. Những biểu hiện tiêu cực như tâm lý kinh doanh tự phát, tư tưởng chụp giật, lách luật, trốn thuế, vi phạm luật lao động, hủy hoại môi trường, sản xuất hàng giả, cạnh tranh không lành mạnh và các sai phạm kinh tế nghiêm trọng (điển hình tại các vụ việc như Vinashin, Vinalines, sai phạm tại Ngân hàng Á Châu - ACB liên quan đến Nguyễn Đức Kiên và Lý Xuân Hải) đã phản ánh sự suy giảm văn hóa doanh nghiệp do thiếu hụt ý thức pháp luật. Đa số doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa định hình bản sắc văn hóa riêng biệt và chưa xây dựng được thang giá trị văn hóa doanh nghiệp chuẩn mực. Trong khi đó, các công trình nghiên cứu lý luận trực diện về mối quan hệ giữa ý thức pháp luật và văn hóa doanh nghiệp dưới góc độ triết học chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử còn thiếu vắng.

Mục đích nghiên cứu của luận án là phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của ý thức pháp luật trong việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp, từ đó đề xuất hệ thống quan điểm và giải pháp nhằm phát huy vai trò của ý thức pháp luật đối với việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay.

Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Làm rõ khái niệm văn hóa doanh nghiệp, xây dựng văn hóa doanh nghiệp, ý thức pháp luật và vai trò của ý thức pháp luật trong việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp.
  2. Khảo sát và đánh giá thực trạng vai trò của ý thức pháp luật trong việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay.
  3. Đề xuất quan điểm và giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò của ý thức pháp luật trong việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp ở nước ta hiện nay.

Đối tượng nghiên cứu của công trình là vai trò của ý thức pháp luật trong việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp Việt Nam hiện nay. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào thực trạng các doanh nghiệp Việt Nam (bao gồm doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và doanh nghiệp tư nhân), được xem xét qua số liệu khảo sát thực tế và kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đó trong giai đoạn đổi mới kinh tế đến năm 2014.


Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tiến hành tổng quan các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước theo 3 nhóm hướng nghiên cứu chính:

Nhóm nghiên cứu về ý thức pháp luật:

  • Nghiên cứu nội hàm khái niệm và cấu trúc ý thức pháp luật: Tác giả Tạ Như Khuê (1974) phân tích cấu trúc ý thức pháp luật gồm nhận thức pháp lý và tình cảm pháp lý; Tân Chi (1975) phân tích ý thức pháp luật như điều kiện tiên quyết xây dựng pháp chế xã hội chủ nghĩa; Hoàng Thị Kim Quế (2003) và Nguyễn Thúy Vân (2000) làm rõ logic hình thành, các mâu thuẫn và đặc điểm của ý thức pháp luật Việt Nam.
  • Nghiên cứu cơ cấu và chức năng của ý thức pháp luật: Đào Duy Tấn (2000, 2003) phân tích hệ tư tưởng pháp luật, tâm lý pháp luật cùng 3 chức năng (nhận thức, mô hình hóa, điều chỉnh hành vi); Nguyễn Minh Đoan (2006, 2011, 2013) phân loại ý thức pháp luật theo các góc độ (thông thường, lý luận, nghề nghiệp, cá nhân, nhóm, xã hội) và làm rõ vai trò điều chỉnh lối sống theo pháp luật; Đào Trí Úc (1993, 2006) phân tích mối quan hệ giữa thị trường, pháp luật và lối sống theo pháp luật.
  • Nghiên cứu ý thức pháp luật theo chủ thể đặc thù: Lê Đình Khiên (1996) nghiên cứu cán bộ quản lý hành chính; Hồ Việt Hiệp (2001, 2004) nghiên cứu nhân tố chủ quan và ý thức pháp luật của nhân dân đồng bằng sông Cửu Long; Ngọ Văn Nhân (2008) nghiên cứu tác động của dư luận xã hội đến ý thức pháp luật cán bộ cấp cơ sở; Trần Công Lý (2009) nghiên cứu giáo dục ý thức pháp luật cho cán bộ, công chức; Lê Xuân Huy (2010) nghiên cứu ý thức pháp luật với việc thực hiện dân chủ nông thôn.

Nhóm nghiên cứu về văn hóa doanh nghiệp:

  • Nghiên cứu quốc tế: Các công trình của Georges de Sainte Marie, Edgar H. Schein (1992) với mô hình cấu trúc 3 cấp độ văn hóa tổ chức, Fons Trompenaars, Charles Hampden-Turner (mô hình văn hóa gia đình, tháp Eiffel, tên lửa dẫn đường, lò ấp trứng), Stephen Paul Robbins, Andrew Brown, James Austin (2006).
  • Nghiên cứu tại Việt Nam: Nguyễn Thị Doan và Đỗ Minh Cương (1999, 2001, 2009, 2010) đặt nền móng về triết lý kinh doanh và văn hóa kinh doanh; Trần Quốc Dân (2003, 2005, 2008) phân tích tinh thần doanh nghiệp, sức hấp dẫn và mối quan hệ giữa doanh nghiệp, doanh nhân với văn hóa; Đào Duy Quát (2007), Nguyễn Mạnh Quân (2008), Nguyễn Thị Linh (2009); các giáo trình chuyên khảo của Đỗ Thị Phi Hoài (2009), Trần Thị Vân Hoa (2009), Trần Nhoãn (2009), Dương Thị Liễu (2009), Bùi Xuân Phong (2009), Nguyễn Duy Chinh và Phạm Văn Quây (2009); Phùng Xuân Nhạ (2011) khảo sát thực trạng văn hóa doanh nghiệp tại Việt Nam; Hoàng Văn Hải (2012) nghiên cứu tinh thần doanh nghiệp Việt Nam; Nguyễn Thị Ngọc Anh (2010) phân biệt văn hóa kinh doanh và văn hóa doanh nghiệp; Lê Doãn Tá (2010), Lê Lựu.

Nhóm nghiên cứu về mối quan hệ giữa ý thức pháp luật với đời sống văn hóa và văn hóa doanh nghiệp:

  • Các nghiên cứu của Vũ Khiêu và Thành Duy (2000) về sự thống nhất biện chứng giữa đức trị và pháp trị; Lê Đức Tiết (2005) về văn hóa pháp lý; Đỗ Minh Cương (2006) về văn hóa tư pháp; Bùi Giang Nam (2007) về văn hóa chính trị; Trịnh Đức Thảo (2008) về văn hóa công sở; Nguyễn Thị Hồi (2008), Hoàng Thị Hạnh (2011), Lê Thanh Thập, Thái Vĩnh Thắng, Lê Quốc Hùng; Đỗ Hữu Hải (2010) tiếp cận văn hóa doanh nghiệp dưới góc độ quy tắc và chuẩn mực vận hành.

Khoảng trống nghiên cứu: Các công trình trước đây chủ yếu nghiên cứu tách rời giữa ý thức pháp luật (thuộc phạm vi luật học, triết học pháp quyền) hoặc văn hóa doanh nghiệp (thuộc phạm vi quản trị kinh doanh, văn hóa học). Mối quan hệ biện chứng giữa ý thức pháp luật và văn hóa doanh nghiệp mới chỉ được đề cập gián tiếp hoặc rời rạc. Chưa có công trình nào giải quyết toàn diện vai trò của ý thức pháp luật trong việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp dưới góc độ triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử tại Việt Nam.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án được triển khai trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam (đặc biệt là Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII năm 1993 về văn hóa) và hệ thống pháp luật của Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Về mặt khái niệm và khung phân tích:

  • Khái niệm văn hóa: Luận án tiếp thu định nghĩa của Trần Ngọc Thêm (xem xét văn hóa là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy trong hoạt động thực tiễn) và quan điểm của Czinkota về hệ thống cách ứng xử đặc trưng.
  • Khái niệm văn hóa doanh nghiệp: Kế thừa định nghĩa của Trần Thị Vân Hoa, xác định văn hóa doanh nghiệp là toàn bộ các giá trị văn hóa được gây dựng trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, trở thành các giá trị, quan niệm, tập quán ăn sâu vào hoạt động của doanh nghiệp, chi phối tình cảm, nếp suy nghĩ và hành vi của mọi thành viên nhằm thực hiện các mục đích đề ra.
  • Khung nội dung xây dựng văn hóa doanh nghiệp: Bao gồm 4 thành phần xoay quanh 3 nhân tố (chủ thể doanh nghiệp, các mối quan hệ bên trong - bên ngoài, sản phẩm doanh nghiệp tạo ra): (1) Xây dựng chủ thể doanh nghiệp có văn hóa; (2) Xây dựng môi trường doanh nghiệp văn hóa; (3) Sáng tạo các sản phẩm mang ý nghĩa văn hóa; (4) Xây dựng triết lý kinh doanh và hệ giá trị cốt lõi hướng tới Chân - Thiện - Mỹ.
  • Khái niệm và cấu trúc ý thức pháp luật: Xác định ý thức pháp luật là một hình thái ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội từ góc độ pháp luật. Cấu trúc gồm: Hệ tư tưởng pháp luật (hạt nhân là tri thức pháp luật) và Tâm lý pháp luật (gồm tình cảm, cảm xúc, sự tự đánh giá cá nhân, tâm trạng, niềm tin và ý chí pháp luật).

Về phương pháp nghiên cứu:

  • Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử kết hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể: trừu tượng hóa khoa học, logic kết hợp lịch sử, phân tích và tổng hợp.
  • Phương pháp điều tra xã hội học: Sử dụng công cụ "Phiếu trưng cầu ý kiến" và phỏng vấn sâu đối với chủ doanh nghiệp, người lao động và khách hàng. Dữ liệu khảo sát được xử lý và phân tích thống kê thông qua phần mềm SPSS nhằm đo lường trình độ hiểu biết pháp luật, ý thức chấp hành và lối sống theo pháp luật của các nhóm chủ thể trong doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp tư nhân.
  • Phương pháp tiếp cận liên ngành (văn hóa học, kinh tế học, luật học) kết hợp phương pháp tiếp cận triết học đặc thù để đánh giá văn hóa doanh nghiệp và văn hóa doanh nhân thông qua hành vi thực tiễn trong đời sống xã hội.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Chương 1 hệ thống hóa và phân loại các công trình khoa học trong nước và quốc tế liên quan đến đề tài theo 3 nhóm nội dung lớn: nghiên cứu về ý thức pháp luật; nghiên cứu về văn hóa doanh nghiệp; nghiên cứu về mối quan hệ giữa ý thức pháp luật với đời sống văn hóa và văn hóa doanh nghiệp. Tác giả đánh giá những thành tựu lý luận đã đạt được của các học giả đi trước về khái niệm, cấu trúc, chức năng của ý thức pháp luật và văn hóa tổ chức, đồng thời chỉ ra khoảng trống lý luận về việc xem xét ý thức pháp luật như một nhân tố nền tảng cấu thành và thúc đẩy văn hóa doanh nghiệp, khẳng định tính tất yếu của việc thực hiện đề tài luận án.

Chương 2: Vai trò của ý thức pháp luật trong việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp - Một số vấn đề lý luận

Chương này làm rõ hệ thống khái niệm, đặc trưng và cơ chế tác động của ý thức pháp luật đối với văn hóa doanh nghiệp. Tác giả phân tích cấu trúc ý thức pháp luật (hệ tư tưởng pháp luật và tâm lý pháp luật) và xác định 3 đặc trưng cơ bản của ý thức pháp luật trong hoạt động doanh nghiệp: tính bắt buộc chung, tính chủ quan của chủ thể kinh doanh, và khía cạnh bảo thủ, lạc hậu do tàn dư tâm lý tiểu nông, lệ làng.

Luận án luận giải 4 biểu hiện chủ yếu về vai trò của ý thức pháp luật trong xây dựng văn hóa doanh nghiệp:

  1. Xây dựng văn hóa pháp luật cho các chủ thể doanh nghiệp: Ý thức pháp luật chuyển hóa tri thức pháp luật thành trí tuệ và đạo đức kinh doanh của doanh nhân, đồng thời định hình kỷ luật lao động và lối sống tuân thủ pháp luật cho người lao động.
  2. Xây dựng môi trường kinh doanh và điều chỉnh các mối quan hệ cơ bản: Thiết lập chuẩn mực ứng xử nội bộ (dân chủ, công bằng, minh bạch) và quan hệ bên ngoài (trách nhiệm xã hội, bảo vệ môi trường, tôn trọng khách hàng và đối tác).
  3. Thúc đẩy sáng tạo sản phẩm mang ý nghĩa văn hóa: Định hướng quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm bảo đảm an toàn, chất lượng, loại trừ hàng giả và phế phẩm gây hại.
  4. Tham gia xây dựng triết lý kinh doanh và các giá trị văn hóa: Đảm bảo triết lý kinh doanh phát triển bền vững và hệ giá trị cốt lõi hài hòa giữa lợi nhuận kinh tế và mục tiêu tiến bộ xã hội theo chuẩn mực Chân - Thiện - Mỹ.

Tác giả khái quát cơ chế tác động thông qua 3 trạng thái:

Trạng thái ý thức pháp luật Tri thức pháp luật Tình cảm, niềm tin pháp luật Hành vi và kết quả xây dựng VHDN
Trạng thái 1 Có tri thức đầy đủ Tích cực, tự giác Xác lập hành vi chuẩn mực $\rightarrow$ Xây dựng thành công VHDN
Trạng thái 2 Có tri thức Tiêu cực, không tích cực Không chuyển hóa thành hành vi $\rightarrow$ Không xây dựng được VHDN
Trạng thái 3 Không có tri thức Tiêu cực, lệch lạc Vi phạm pháp luật $\rightarrow$ Triệt tiêu các giá trị VHDN

Chương 3: Vai trò của ý thức pháp luật trong việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay - Thực trạng và những vấn đề đặt ra

Chương 3 trình bày kết quả khảo sát thực tế và phân tích thực trạng vai trò của ý thức pháp luật đối với văn hóa doanh nghiệp tại Việt Nam trên 4 phương diện: văn hóa pháp luật của chủ thể, môi trường kinh doanh, chất lượng sản phẩm, và hệ giá trị - triết lý kinh doanh trong các loại hình doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp tư nhân.

Từ thực trạng khảo sát, luận án chỉ ra 3 nhóm vấn đề cơ bản đang đặt ra:

  1. Một bộ phận chủ thể doanh nghiệp chưa nhận thức đầy đủ: Nhiều chủ doanh nghiệp và người lao động coi việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp là hoạt động mang tính phong trào, hình thức hoặc xa xỉ, chưa thấy được mối quan hệ bản chất giữa tuân thủ pháp luật và văn hóa kinh doanh.
  2. Ý thức pháp luật chưa phát huy đầy đủ vai trò tích cực: Tình trạng lách luật, trốn tránh trách nhiệm xã hội, vi phạm hợp đồng lao động, gian lận thương mại và hủy hoại môi trường sinh thái vẫn diễn ra phổ biến.
  3. Thể chế kinh tế thị trường còn thiếu và yếu: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật còn chồng chéo, thiếu đồng bộ; vai trò định hướng, thanh tra, kiểm tra và hỗ trợ của Nhà nước trong việc thúc đẩy văn hóa doanh nghiệp còn mờ nhạt.

Chương 4: Quan điểm và giải pháp nhằm phát huy vai trò của ý thức pháp luật trong việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay

Chương 4 xác lập 2 quan điểm định hướng và 3 nhóm giải pháp thực tiễn:

Quan điểm chỉ đạo:

  • Phát huy vai trò của ý thức pháp luật trong việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp phải gắn liền với quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và lành mạnh hóa đời sống xã hội.
  • Phát huy vai trò của ý thức pháp luật là trách nhiệm của toàn xã hội, trong đó bản thân doanh nghiệp giữ vai trò chủ thể trực tiếp và phải được tiến hành thường xuyên, liên tục.

Hệ thống giải pháp:

  • Nhóm giải pháp 1: Nâng cao nhận thức của chủ thể doanh nghiệp và toàn xã hội. Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục pháp luật kinh doanh; đào tạo văn hóa doanh nhân gắn với trách nhiệm xã hội; phát huy vai trò của các tổ chức hiệp hội doanh nghiệp.
  • Nhóm giải pháp 2: Đổi mới, hoàn thiện hệ thống pháp luật. Xây dựng khung pháp lý đồng bộ, minh bạch, bảo vệ quyền sở hữu và quyền tự do kinh doanh; hoàn thiện các chế định về lao động, môi trường, sở hữu trí tuệ và cạnh tranh lành mạnh nhằm tạo điều kiện cho văn hóa doanh nghiệp phát triển.
  • Nhóm giải pháp 3: Xử lý nghiêm minh vi phạm và khuyến khích doanh nghiệp tuân thủ pháp luật. Tăng cường thanh tra, kiểm soát thị trường; áp dụng chế tài nghiêm khắc đối với các hành vi vi phạm pháp luật kinh doanh; đồng thời thiết lập cơ chế tôn vinh, khen thưởng và hỗ trợ các doanh nghiệp gương mẫu thực hiện tốt pháp luật và xây dựng bản sắc văn hóa doanh nghiệp tiến bộ.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận khoa học:

  • Luận án đã làm rõ cấu trúc nội dung xây dựng văn hóa doanh nghiệp dưới góc độ triết học mácxít, phân tích mối quan hệ tương tác giữa 4 thành phần nội dung xoay quanh 3 nhân tố chủ thể, quan hệ và sản phẩm.
  • Luận chứng bản chất của ý thức pháp luật với tính cách là nhân tố tiền đề, điều kiện tối thiểu và động lực định hình các chuẩn mực văn hóa doanh nghiệp hướng tới hệ giá trị Chân - Thiện - Mỹ.
  • Khái quát hóa các mô hình và trạng thái vận động của ý thức pháp luật trong quá trình chuyển hóa từ tri thức pháp lý sang hành vi và chuẩn mực văn hóa của doanh nhân và người lao động.

Về mặt thực tiễn:

  • Phản ánh bức tranh thực trạng về trình độ hiểu biết, thái độ và hành vi chấp hành pháp luật của các chủ thể kinh doanh tại Việt Nam thông qua phương pháp điều tra xã hội học và xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS.
  • Chỉ rõ những nguyên nhân cốt lõi dẫn đến tình trạng suy thoái chuẩn mực kinh doanh và những bất cập về mặt thể chế quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp.
  • Đề xuất hệ thống 3 nhóm giải pháp đồng bộ kết hợp giữa nâng cao nhận thức, hoàn thiện thể chế pháp luật và tăng cường thực thi, chế tài pháp lý nhằm phát triển văn hóa doanh nghiệp bền vững.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Phạm vi khảo sát thực nghiệm bị giới hạn trong khuôn khổ một số lượng doanh nghiệp nhất định thuộc 3 loại hình (doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp tư nhân) tại một số địa bàn, chưa thể bao quát toàn bộ các vùng kinh tế trọng điểm và các ngành nghề kinh doanh đặc thù trên cả nước.
  • Nguồn dữ liệu thứ cấp và các công trình tham khảo kế thừa phản ánh bối cảnh kinh tế - xã hội và khung khổ pháp lý tại thời điểm nghiên cứu (năm 2014 trở về trước).

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Tiếp tục mở rộng phạm vi điều tra thực nghiệm đối với các mô hình doanh nghiệp mới phát sinh trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng.
  • Đi sâu nghiên cứu sự tác động của các luật chuyên ngành mới sửa đổi bổ sung đến việc định hình chuẩn mực văn hóa doanh nghiệp và văn hóa số trong bối cảnh phát triển mới.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên: Phục vụ công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu các chuyên đề về Triết học xã hội, Chủ nghĩa duy vật lịch sử, Xã hội học pháp luật, Văn hóa học, Quản trị kinh doanh và Đạo đức kinh doanh. Đặc biệt, Chương 2 cung cấp khung lý luận về cấu trúc văn hóa doanh nghiệp và ý thức pháp luật.
  • Các nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý nhà nước: Cung cấp luận cứ thực tiễn tại Chương 3 và hệ giải pháp tại Chương 4 để hoàn thiện hệ thống thể chế kinh tế thị trường, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước và xây dựng các tiêu chí đánh giá văn hóa doanh nghiệp cấp quốc gia.
  • Lãnh đạo doanh nghiệp và các hiệp hội nghề nghiệp: Là tài liệu tham khảo về phương pháp quản trị bằng giá trị, định hướng xây dựng triết lý kinh doanh, chuẩn hóa quy tắc ứng xử nội bộ và thực hiện trách nhiệm xã hội dựa trên nền tảng pháp luật.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định cấu trúc của ý thức pháp luật gồm những yếu tố nào?
Luận án xác định ý thức pháp luật gồm 2 bộ phận cấu thành chính: Hệ tư tưởng pháp luật (trong đó tri thức pháp luật là hạt nhân lý luận định hướng) và Tâm lý pháp luật (bao gồm tình cảm pháp luật, cảm xúc pháp luật, sự tự đánh giá cá nhân, tâm trạng, niềm tin và ý chí pháp luật).

2. Bốn nội dung xây dựng văn hóa doanh nghiệp được luận án phân tích là gì?
Bốn nội dung xây dựng văn hóa doanh nghiệp xoay quanh 3 nhân tố (chủ thể, mối quan hệ, sản phẩm) gồm: (1) Xây dựng các chủ thể doanh nghiệp có văn hóa; (2) Xây dựng môi trường doanh nghiệp văn hóa; (3) Sáng tạo các sản phẩm mang ý nghĩa văn hóa; (4) Xây dựng triết lý kinh doanh và hệ giá trị cốt lõi phù hợp chuẩn mực văn hóa xã hội.

3. Mối quan hệ giữa ý thức pháp luật và việc xây dựng văn hóa pháp luật của chủ thể doanh nghiệp được lý giải ra sao?
Ý thức pháp luật là bộ phận cấu thành và là nhân tố quyết định trình độ văn hóa pháp luật của doanh nghiệp. Tri thức pháp luật bổ sung vào trí tuệ và đạo đức của doanh nhân, thôi thúc hành vi tuân thủ chuẩn mực; đồng thời hình thành lối sống tự giác chấp hành pháp luật và kỷ luật lao động cho người lao động.

4. Luận án sử dụng những công cụ, kỹ thuật nghiên cứu thực tế nào để thu thập và xử lý dữ liệu?
Luận án sử dụng phương pháp điều tra xã hội học thông qua công cụ "Phiếu trưng cầu ý kiến" và phỏng vấn sâu đối với chủ doanh nghiệp, người lao động và khách hàng tại các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp tư nhân; số liệu điều tra được nhập và phân tích bằng phần mềm thống kê SPSS.

5. Luận án đề xuất mấy nhóm giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò của ý thức pháp luật trong xây dựng văn hóa doanh nghiệp?
Luận án đề xuất 3 nhóm giải pháp cơ bản: (1) Nâng cao nhận thức của các chủ thể doanh nghiệp và toàn xã hội; (2) Đổi mới, hoàn thiện hệ thống pháp luật tạo khung khổ pháp lý cho doanh nghiệp; (3) Xử lý nghiêm minh vi phạm kết hợp khuyến khích, tôn vinh các doanh nghiệp tuân thủ pháp luật và theo đuổi giá trị văn hóa.


Kết luận

Luận án tiến sĩ triết học của tác giả Lê Hoàng Nam đã giải quyết toàn diện vấn đề vai trò của ý thức pháp luật trong việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp ở Việt Nam về cả mặt lý luận và thực tiễn. Tác phẩm làm rõ cơ chế chuyển hóa từ tri thức và tâm lý pháp luật sang hành vi ứng xử văn hóa, chỉ ra các nguyên nhân dẫn đến hạn chế trong văn hóa kinh doanh từ sự thiếu hụt ý thức tuân thủ pháp luật. Trên cơ sở đó, luận án xác lập hệ thống giải pháp đồng bộ về nhận thức, thể chế pháp lý và thực thi nhằm xây dựng nền văn hóa doanh nghiệp Việt Nam phát triển bền vững trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.