Tổng quan luận án
Đề tài luận án tiến sĩ: "Từ ngữ Công giáo trong các bản kinh nguyện của các Giáo phận Dòng tại Việt Nam" thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ Việt Nam, định vị trực tiếp trong phân môn Từ vựng học.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Ngôn ngữ và tôn giáo là hai hiện tượng xã hội có mối quan hệ tương tác hữu cơ. Tôn giáo sử dụng ngôn ngữ làm công cụ truyền bá và giải thích giáo thuyết; ngược lại, việc chuyển tải nội dung tôn giáo góp phần bảo tồn, làm phong phú và thúc đẩy sự phát triển của ngôn ngữ. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2009, Phật giáo và Công giáo là hai tôn giáo có số lượng tín đồ lớn tại Việt Nam. Nếu Phật giáo du nhập qua ngả Nam Tông và Bắc Tông mang đậm sắc thái văn hóa Á Đông, thì Công giáo khởi phát từ Trung Á, phát triển mạnh tại châu Âu trước khi truyền vào Việt Nam từ đầu thế kỷ XVI, trở thành một kênh giao lưu tiếp xúc văn hóa và ngôn ngữ phương Tây. Quá trình truyền giáo của Công giáo có đóng góp quan trọng trong việc hình thành và phát triển chữ Quốc ngữ.
Mặc dù lớp từ ngữ Công giáo là một bộ phận của từ vựng tiếng Việt, nhưng lĩnh vực ngôn ngữ tôn giáo tại Việt Nam chưa được nghiên cứu thỏa đáng, đặc biệt là diện mạo từ ngữ Công giáo. Các công trình trước đây chủ yếu dừng lại ở dạng bài viết ngắn, từ điển giải thích hoặc khảo sát gián tiếp qua lịch sử chữ viết. Để làm rõ diện mạo ngôn ngữ của cộng đồng này, luận án lựa chọn khảo sát lớp từ ngữ trong kinh nguyện – văn bản giữ vị trí trung tâm trong sinh hoạt đức tin thường nhật, vừa hàm chứa nội dung Kinh Thánh, Giáo lý, Giáo luật, vừa phản ánh các đơn vị từ ngữ lịch sử lẫn đương đại.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác lập là: Chưa có công trình ngôn ngữ học nào khảo sát toàn diện, có hệ thống về con đường hình thành, đặc điểm cấu trúc, ngữ nghĩa và sự vận động trong đời sống tiếng Việt của lớp từ ngữ Công giáo trong các bản kinh nguyện của các Giáo phận Dòng (các giáo phận từng thuộc sự coi sóc của dòng Đa Minh từ năm 1757, gồm Hải Phòng, Bùi Chu, Bắc Ninh, Thái Bình, Lạng Sơn).
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là xác định và làm rõ hệ thống từ ngữ Công giáo trong các bản kinh nguyện của các Giáo phận Dòng tại Việt Nam, cụ thể gồm 3 mục tiêu:
- Tìm hiểu con đường hình thành các từ ngữ Công giáo nghiên cứu, từ đó góp phần xác lập con đường hình thành lớp từ ngữ Công giáo nói chung tại Việt Nam.
- Mô tả các đặc điểm ngôn ngữ học của các từ ngữ Công giáo trong các bản kinh nguyện của các Giáo phận Dòng tại Việt Nam.
- Tìm hiểu khả năng hội nhập vào tiếng Việt toàn dân của lớp từ ngữ Công giáo tại Việt Nam thông qua việc nghiên cứu hoạt động của các từ ngữ Công giáo trong các bản kinh nguyện của các Giáo phận Dòng tại Việt Nam trong một số tác phẩm văn học Việt Nam.
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án bao gồm 5 nhiệm vụ:
- Nhiệm vụ 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu từ ngữ Công giáo trong và ngoài nước nói chung, tình hình nghiên cứu từ ngữ Công giáo trong kinh nguyện, nhất là trong kinh nguyện của các Giáo phận Dòng tại Việt Nam nói riêng.
- Nhiệm vụ 2: Xác lập cơ sở lý luận cho luận án, gồm những vấn đề như: Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tôn giáo, từ ngữ và các đặc điểm về từ ngữ vay mượn.
- Nhiệm vụ 3: Khảo sát các đơn vị ngôn ngữ trong các bản kinh nguyện của các Giáo phận Dòng tại Việt Nam và xác định các đơn vị từ vựng Công giáo.
- Nhiệm vụ 4: Phân loại và mô tả các đặc điểm ngôn ngữ của các đơn vị từ ngữ Công giáo trong các bản kinh nguyện của các Giáo phận Dòng tại Việt Nam.
- Nhiệm vụ 5: Tìm hiểu khả năng hoạt động của lớp từ ngữ Công giáo trong các bản kinh nguyện của các Giáo phận Dòng tại Việt Nam trong một số sáng tác văn học dân gian và một số tác phẩm văn chương Việt Nam.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các từ ngữ Công giáo trong các bản kinh nguyện của các Giáo phận Dòng tại Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu: Khảo sát các từ ngữ dưới góc độ Từ vựng học truyền thống trên các bình diện: con đường hình thành và tiếp nhận (sự vay mượn từ ngữ gốc Ấn-Âu, quy trình biến đổi), đặc điểm cấu trúc (từ đơn, từ ghép, tổ hợp định danh), đặc điểm ngữ nghĩa (đặc trưng định danh, phạm trù ngữ nghĩa) và phạm vi hoạt động của lớp từ ngữ này trong đời sống tiếng Việt (qua tục ngữ, ca dao và văn học viết).
| Tiêu chí |
Nội dung xác định trong luận án |
| Chuyên ngành |
Ngôn ngữ Việt Nam (Từ vựng học) |
| Đối tượng |
1.123 đơn vị từ ngữ Công giáo thu thập từ các bản kinh nguyện |
| Phạm vi không gian |
Địa bàn các Giáo phận Dòng: Hải Phòng, Bùi Chu, Bắc Ninh, Thái Bình, Lạng Sơn |
| Phạm vi thời gian ngữ liệu |
Từ năm 1865 (bản in mộc bản cổ nhất) đến năm 2010 (bản kinh hiện đại) |
| Cứ liệu đối chiếu đời sống |
Tục ngữ, ca dao và 12 tác phẩm văn chương từ trước 1945 đến thời kỳ Đổi mới |
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tổng quan có hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tôn giáo nói chung, từ ngữ Công giáo nói riêng theo 3 hướng tiếp cận chính:
Các nghiên cứu quốc tế
- Dưới góc độ Từ vựng học truyền thống: Việc giải thích từ ngữ Công giáo xuất hiện sớm từ thời Giáo hội sơ khai do tính chất đa ngôn ngữ (tiếng Hy Lạp, tiếng Aram, tiếng La Tinh). Tác phẩm cổ nhất ghi nhận và giải thích từ ngữ Công giáo là "Thư gửi người Magnesie" của Giám mục Ignace thành Antioche (thế kỷ II), ghi nhận các thuật ngữ như Christophores (Kitô hữu), Christomathie (Giáo lý), Christianisme (Kitô giáo). Các trước tác của Giáo phụ Ephrem xứ Syria (306–307), Giám mục Hilario thành Poitiers (315–367, tác phẩm De Trinitate), Giám mục Augustino (Confessio, City of God). Sang thế kỷ XX, Jeroen Darquennes (2011) tổng kết việc nghiên cứu từ ngữ tôn giáo; Otto Jesperson (1912, Sự tăng trưởng và cấu trúc của tiếng Anh) khảo sát nguồn gốc từ ngữ Kitô giáo gốc La Tinh, Hy Lạp, Pháp trong tiếng Anh; Ayers (English words from Latin and Greek elements) thống kê từ vựng Công giáo trong tiếng Anh hiện đại; Chu Văn Tuấn (Nghiên cứu những vấn đề cơ bản Nhân loại học ngôn ngữ) phân loại từ ngữ Công giáo gốc La Tinh khi vào tiếng Anh thành hai nhóm: giữ nguyên nghĩa (temple, altar, monastery, preach) và chuyển đổi nghĩa (dogma, heresy, infallibility).
- Dưới góc độ Ngôn ngữ học nhân học (Nhân học ngôn ngữ): Bắt nguồn từ Franz Boas, Edward Sapir, Benjamin Lee Whorf, Claude Lévi-Strauss (1908), Emile Benveniste (theo Lý Tùng Hiếu). Robert Mc Crum (1986, The Story of English) đánh giá tác động của tiếng La Tinh thánh sự trong 500 năm đầu truyền giáo đối với việc chuyển đổi tiếng Anh cổ thành tiếng Anh hiện đại, bổ sung hơn 400 từ ngữ còn tồn tại và tạo năng lực diễn đạt tư duy trừu tượng. Chu Văn Tuấn (2000) xây dựng sơ đồ nghiên cứu nhân học ngôn ngữ đối với từ ngữ tôn giáo gồm: mối liên hệ ngôn ngữ – tôn giáo, ảnh hưởng của tôn giáo lên ngôn ngữ, tìm nguồn gốc văn hóa của từ ngữ.
- Dưới góc độ Ngôn ngữ học xã hội: Einar Haugen (1953, The Norwegian language in America) nghiên cứu biến đổi tiếng Na Uy do tác động của Kitô giáo tại Mỹ; Joshua A. Fishman (1966) nghiên cứu vai trò của tôn giáo trong chuyển biến ngôn ngữ nhập cư; W. Stewart (1968) định vị chức năng tôn giáo là 1 trong 10 chức năng ngôn ngữ học xã hội; David Crystal (1966), William Samarin (1976), Charles Ferguson (1982); John F. Simpson (2001) đề xuất lược đồ 6 bình diện nghiên cứu ngôn ngữ và tôn giáo; B. Spolsky (2004, 2006, Language Policy, Language Management) đề xuất 4 chiều kích tương tác giữa ngôn ngữ, tôn giáo và chính sách ngôn ngữ.
Các nghiên cứu trong nước
- Từ điển học và từ vựng - ngữ nghĩa: Các từ điển tiếng Việt như Đại Nam quấc âm tự vị (Huỳnh Tịnh Paulus Của), Việt Nam tự điển (Hội Khai Trí Tiến Đức), Tân từ điển Việt Nam (Thanh Nghị), Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê) đều thu thập và chú giải các mục từ Công giáo (phép Rửa tội, lễ Rửa chơn, Amen, Thánh giá). Các từ điển song ngữ, đa ngữ lịch sử: Từ điển Việt-Bồ-La (Alexandre de Rhodes, 1651), Từ điển An Nam - La Tinh (Taberd, 1833), Tiểu từ điển Việt - Pháp (J. Génibrel, 1906), Từ điển Việt–Hoa–Pháp (Gustave Hue, 1937). Các công trình chuyên biệt: Điển ngữ thần học Thánh Kinh (Giáo hoàng Học viện thánh Pio X Đà Lạt, 1976), Từ điển Công giáo Anh-Việt (Nguyễn Đình Diễn, 2002), Điển ngữ Đức Tin Công giáo (Hồng Phúc, 2009), Từ điển Công giáo phổ thông (Đặng Xuân Thành chủ biên), Tìm hiểu từ vựng Công giáo (Huỳnh Trụ, 2012), Từ điển Công giáo (Hội đồng Giám mục Việt Nam, 2011, 2016).
- Khảo cứu chuyên khảo và bài nghiên cứu: Nữ tu Minh Thùy khảo sát từ cổ qua Từ điển Việt-Bồ-La; Diễn đàn của Nguyễn Kim Binh thu nhận 171 từ cổ trong kinh sách Giáo phận Quy Nhơn; Chuyên mục Từ ngữ Công giáo trên báo Công giáo và Dân tộc; bài viết của Nguyễn Cung Thông, Nguyễn Long Thao, Phan Văn Phước, Hoàng Xuân Việt (2006), An Chi (2005–2006), Vũ Văn Khương (2001, 2005, 2006).
- Nghiên cứu gián tiếp qua lịch sử chữ Nôm, Quốc ngữ và tiếng Việt thế kỷ XVII: Nguyễn Thị Tú Mai (2012), Lã Minh Hằng (2013), Đỗ Quang Chính, Nguyễn Quốc Dũng (2009), Nguyễn Văn Ngoạn (2012), Nguyễn Hai Tính. Các công trình này cung cấp cứ liệu về các từ ngữ cổ như lâm bô (luyện ngục), sinh thì (chết), Đức Chúa Chi Thu (Đức Chúa Giê-su), các dạng phiên âm cổ như Phê-lỗ (Phê-rô), Bảo-lộc (Phao-lô), câu luật / câu tốt / câu rút (thánh giá).
- Nghiên cứu hội nhập văn hóa - ngôn ngữ: Lê Đình Bảng (2007) khảo sát kinh cầu hồn trong mối liên hệ với đạo hiếu; Lê Đức Hạnh, Phạm Huy Thông nghiên cứu ảnh hưởng qua lại giữa Công giáo và văn hóa Việt Nam.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Tổng quan cho thấy các công trình đi trước chưa có sự khảo sát mang tính hệ thống đối với lớp từ ngữ trong các bản kinh nguyện của các Giáo phận Dòng tại Việt Nam theo trục lịch đại và đồng đại. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách thu thập, phân loại, mô tả cấu trúc - ngữ nghĩa và xác lập con đường hình thành, cơ chế Việt hóa của 1.123 đơn vị từ ngữ Công giáo trong 9 bản kinh nguyện giai đoạn 1865–2010.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết
- Quan niệm về mối quan hệ hữu cơ giữa ngôn ngữ và tôn giáo: Tôn giáo định hình các văn bản thánh và thúc đẩy tiêu chuẩn hóa ngôn ngữ (như bản dịch Kinh Thánh của Ulfilas sang tiếng Gothic thế kỷ IV; Martin Luther dịch Kinh Thánh sang tiếng Đức; bản dịch Kinh Thánh tiếng Anh năm 1611; công trình của Alexandre de Rhodes với chữ Quốc ngữ năm 1651).
- Định vị lớp từ vựng Công giáo trong từ vựng tiếng Việt:
- Theo nguồn gốc: Phân chia thành từ thuần Việt và từ ngoại lai (lớp gốc Hán và lớp gốc Ấn-Âu gồm tiếng La Tinh, Hy Lạp, Do Thái, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Pháp du nhập từ thế kỷ XVI qua truyền giáo và thương mại).
- Theo phạm vi sử dụng: Luận án định vị lớp từ ngữ Công giáo trong kinh nguyện là một lớp biệt ngữ xã hội, nằm song song với biệt ngữ Phật giáo, biệt ngữ Cao Đài, từ địa phương, thuật ngữ khoa học kỹ thuật và từ vựng toàn dân (kế thừa phân loại của Đỗ Hữu Châu, 1981).
- Quan niệm về con đường hình thành và phát triển từ vựng tiếng Việt: Áp dụng lý thuyết của Nguyễn Thiện Giáp (1998) và Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (1997) về hai con đường chính: vay mượn từ ngữ ngoại lai và tự tạo từ ngữ mới bằng chất liệu bản ngữ (ghép, rút gọn, nói gộp, biến dạng, phát triển nghĩa mới, chuyển đổi từ loại, loại suy, hòa đúc, căn ke ngữ nghĩa).
- Tiếp xúc ngôn ngữ và vay mượn: Dựa trên 4 phương thức vay mượn từ vựng: dịch nghĩa (canke ngữ nghĩa), phiên âm, chuyển tự, và mượn nguyên dạng của nguyên ngữ.
- Quan niệm về từ, ngữ và tổ hợp định danh: Kế thừa quan niệm của Nguyễn Văn Tu (1976), Nguyễn Tài Cẩn, Cao Xuân Hạo, Nguyễn Thiện Giáp về từ đơn, từ phức, từ ghép; và lý thuyết về cụm từ cố định định danh của Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (1997) để xác lập khái niệm tổ hợp định danh Công giáo (Thánh tổng lãnh thiên thần, Lễ Phục sinh, Vô nhiễm nguyên tội, Đồng công cứu chuộc).
- Nghĩa của từ và lý thuyết định danh: Sử dụng quan niệm của Đỗ Việt Hùng (2013) về nghĩa hạt nhân và nghĩa liên hội; các con đường chuyển nghĩa (mở rộng, thu hẹp, ẩn dụ, hoán dụ); lý thuyết định danh ngôn ngữ học của Nguyễn Đức Tồn (2002) và Nguyễn Thiện Giáp (2016).
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính phân tích văn bản và kỹ thuật thống kê phân loại:
- Phương pháp khảo sát văn bản: Thu thập, trích xuất các đơn vị từ ngữ Công giáo từ 9 bản kinh nguyện và 12 tác phẩm văn học.
- Phương pháp miêu tả ngôn ngữ học: Triển khai qua 5 thủ pháp chuyên biệt:
- Thủ pháp phân tích chức năng: Xác định nghĩa của đơn vị từ vựng trong văn cảnh tôn giáo cụ thể.
- Thủ pháp phân tích cấu trúc: Phân tích hình thái, mô hình cấu tạo của từ đơn, từ ghép, tổ hợp định danh.
- Thủ pháp phân tích thành tố nghĩa: Khảo sát các nét nghĩa, phân chia trường nghĩa và phạm trù ngữ nghĩa.
- Thủ pháp thống kê và phân loại: Phân loại các đơn vị theo tiêu chí ngôn ngữ học và xác lập tỷ lệ phần trăm phân bố.
- Thủ pháp phân tích quy chiếu: Kết nối các biểu thức định danh khác nhau cùng chỉ một thực thể tôn giáo.
Nguồn tư liệu và ngữ liệu nghiên cứu
Ngữ liệu khảo sát trung tâm gồm 9 bản kinh nguyện của các Giáo phận Dòng qua các thời kỳ:
| Ký hiệu |
Tên bản kinh |
Năm xuất bản |
Nơi xuất bản / Đơn vị ấn hành |
Số trang |
Số lượng từ ngữ thu thập |
| I |
Bản kinh tụng đọc toàn niên |
1865 (tái bản 2007) |
Mộc bản cổ, LM Nguyễn Hưng phục nguyên |
413 |
240 |
| II |
Toàn Niên Kinh Nguyện Địa Phận Dòng Thánh Đaminh |
1953 |
Nhà Thiện bản Đaminh, Hà Nội |
442 |
380 |
| III |
Toàn Niên Kinh Nguyện |
1956 |
Giáo phận Bùi Chu |
451 |
379 |
| IV |
Sách Kinh Địa Phận Hải Phòng |
1958 |
Hòn Gai |
335 |
354 |
| V |
Sách Kinh Địa Phận Hải Phòng, Bùi Chu, Thái Bình |
1970 |
Mẫu Tâm thư quán, Gia Định |
384 |
421 |
| VI |
Sách Kinh Giáo Phận Bùi Chu |
1983 |
Tòa Giám mục Bùi Chu |
200 |
166 |
| VII |
Kinh Bản Công Giáo Giáo Phận Bắc Ninh |
1992 |
Tòa Giám mục Bắc Ninh (GP số 54/CXB) |
279 |
578 |
| VIII |
Toàn Niên Kinh Nguyện Giáo Phận Hải Phòng |
2010 |
Tòa Giám mục Hải Phòng |
308 |
423 |
| IX |
Sách Kinh |
Không năm |
Giáo phận Lạng Sơn – Cao Bằng (Lưu hành nội bộ) |
32 |
198 |
| Tổng |
Khảo sát hệ thống qua 9 bản kinh |
1865–2010 |
Các Giáo phận Dòng Đa Minh |
— |
1.123 đơn vị |
Ngữ liệu đối chiếu trong đời sống tiếng Việt (Chương 4) gồm tục ngữ, ca dao và 12 tác phẩm văn chương:
| STT |
Tên tác phẩm |
Tác giả |
Ký hiệu viết tắt |
| 1 |
Dì Hảo |
Nam Cao |
DH |
| 2 |
Đời thừa |
Nam Cao |
ĐT |
| 3 |
Nỗi truân chuyên của khách má hồng |
Nam Cao |
NTC |
| 4 |
Tư cách mõ |
Nam Cao |
TCM |
| 5 |
Bỉ vỏ |
Nguyên Hồng |
BV |
| 6 |
Một tuổi thơ văn |
Nguyên Hồng |
MTTV |
| 7 |
Những ngày thơ ấu |
Nguyên Hồng |
NNTA |
| 8 |
Cha và con và… |
Nguyễn Khải |
CVC |
| 9 |
Đi tìm cái tôi đã mất |
Nguyễn Khải |
ĐTCT |
| 10 |
Nằm vạ |
Nguyễn Khải |
NV |
| 11 |
Thời gian của người |
Nguyễn Khải |
TGCN |
| 12 |
Xung đột |
Nguyễn Khải |
XĐ |
Nội dung chính theo từng chương
Danh mục bảng biểu thống kê trong toàn bộ luận án gồm các bảng dữ liệu sau:
- Bảng 2.1 (Trang 65): Tỉ lệ các tương đương dịch từ ngữ Công giáo La Tinh – Việt.
- Bảng 3.1 (Trang 76): Tỉ lệ từ ngữ theo cấu tạo.
- Bảng 3.2 (Trang 79): Số lượng từ đơn một âm tiết và từ đơn đa âm tiết.
- Bảng 3.3 (Trang 80): Từ loại của từ đơn Công giáo trong các bản kinh nguyện của các Giáo phận Dòng tại Việt Nam.
- Bảng 3.4 / 3.5 (Trang 81): Phân loại từ đơn Công giáo trong các bản kinh nguyện của các Giáo phận Dòng tại Việt Nam dưới góc độ nguồn gốc thành phần cấu tạo.
- Bảng 3.5 / 3.6 (Trang 82): Đặc điểm chung của các từ ghép Công giáo trong các bản kinh nguyện của các Giáo phận Dòng tại Việt Nam.
- Bảng 3.6 (Trang 104): Số lượng và tỉ lệ từ ngữ Công giáo theo phạm trù ngữ nghĩa.
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài nghiên cứu
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý thuyết và bối cảnh lịch sử của đối tượng nghiên cứu:
- Trình bày lịch sử hình thành Công giáo tại Việt Nam từ mốc năm 1533 (Khâm định Việt sử thông giám cương mục ghi nhận thời Lê Trang Tông), các đoàn truyền giáo Đa Minh (1550 tại Hà Tiên, 1583 tại Quảng Yên), Dòng Tên (1615 tại Đàng Trong với Buzomi, Pina, Bori, De Rhodes).
- Phân định lịch sử hình thành Giáo phận Dòng: Năm 1659 lập hai giáo phận Đàng Ngoài và Đàng Trong; năm 1679 chia Đàng Ngoài thành Đông Đàng Ngoài và Tây Đàng Ngoài; năm 1693 trao Đông Đàng Ngoài cho Dòng Đa Minh phụ trách. Các giáo phận phân tách từ đây hình thành nên khối Giáo phận Dòng gồm Hải Phòng, Bùi Chu, Bắc Ninh, Thái Bình, Lạng Sơn.
- Phân tích mối quan hệ giữa Công giáo và văn hóa Việt Nam: Vai trò của các thừa sai trong việc sáng chế chữ Quốc ngữ (tiêu biểu là hai ấn phẩm năm 1651 của Alexandre de Rhodes: Phép giảng tám ngày và Tự điển Việt-Bồ-La); sự tương tác giữa tư duy Công giáo với văn học (Nguyễn Văn Quán với Thầy Zaro Phiền, thơ Hàn Mặc Tử trong Xuân Như ý, Thượng thanh khí), và sự thâm nhập vào tục ngữ, ca dao.
- Định vị từ ngữ Công giáo là một lớp biệt ngữ xã hội trong hệ thống từ vựng tiếng Việt.
Chương 2: Con đường hình thành từ ngữ Công giáo trong các bản kinh nguyện của các Giáo phận Dòng tại Việt Nam
Trên cơ sở khảo sát 1.123 đơn vị từ ngữ thu thập được từ 9 bản kinh nguyện, chương 2 phân tích cơ chế tạo sinh và nguồn gốc hình thành từ ngữ:
| Con đường hình thành |
Tỷ lệ phân bố |
Nguồn gốc và phương thức thực hiện |
| Con đường vay mượn |
Khoảng 78% |
Vay mượn từ/qua tiếng La Tinh, Do Thái, Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Pháp (ít chịu ảnh hưởng trực tiếp từ tiếng Hán so với từ vựng chung). Phương thức tiếp nhận: Phiên âm, dịch nghĩa (canke ngữ nghĩa La Tinh – Việt theo Bảng 2.1), chuyển tự và mượn nguyên dạng. |
| Con đường tự tạo từ ngữ mới |
Khoảng 22% |
Sử dụng chất liệu tiếng Việt theo 2 cách: (1) Dùng hình thức mới để diễn đạt nghĩa mới; (2) Dùng hình thức ngữ âm/từ vựng có sẵn trong tiếng Việt nhưng cấp cho nét nghĩa tôn giáo mới (thu hẹp, mở rộng hoặc chuyển nghĩa). |
Chương 3: Đặc điểm cấu trúc và ngữ nghĩa của các từ ngữ Công giáo trong các bản kinh nguyện của các Giáo phận Dòng tại Việt Nam
Chương 3 tập trung phân tích hình thái cấu trúc và hệ thống ngữ nghĩa của 1.123 đơn vị từ ngữ:
- Đặc điểm cấu trúc:
- Từ đơn: Khảo sát số lượng từ đơn một âm tiết và đa âm tiết (Bảng 3.2, trang 79); phân loại từ loại (danh từ, động từ, tính từ... theo Bảng 3.3, trang 80); phân loại nguồn gốc thành phần cấu tạo (Bảng 3.4/3.5, trang 81).
- Từ ghép: Miêu tả các mô hình cấu tạo từ ghép đẳng lập, chính phụ của từ ngữ Công giáo (Bảng 3.5/3.6, trang 82).
- Tổ hợp định danh: Miêu tả các cụm từ cố định định danh đóng vai trò gọi tên các thực thể, nghi thức, mầu nhiệm tôn giáo đặc thù (Bí tích Thánh Tẩy, Thánh Tông đồ, Giáo phận Dòng...).
- Tỷ lệ tổng hợp về cấu tạo từ ngữ được trình bày tại Bảng 3.1 (trang 76).
- Đặc điểm ngữ nghĩa:
- Xác lập các đặc trưng bản thể, chức năng làm cơ sở định danh của từ ngữ Công giáo.
- Phân loại 1.123 đơn vị từ ngữ vào các phạm trù ngữ nghĩa chuyên biệt (trình bày chi tiết về số lượng và tỷ lệ tại Bảng 3.6, trang 104).
Chương 4: Từ ngữ Công giáo trong đời sống tiếng Việt
Chương 4 khảo sát sự vận động và mức độ hội nhập của lớp từ ngữ kinh nguyện vào tiếng Việt toàn dân:
- Các tác động Việt hóa lớp từ ngữ vay mượn:
- Về ngữ âm và chữ viết: Cải tổ cấu trúc ngữ âm ngoại lai để thích nghi với ngữ âm tiếng Việt đơn lập, có thanh điệu; điều chỉnh cách ghi âm qua các thời kỳ lịch sử.
- Về ngữ nghĩa: Sự thu hẹp, mở rộng hoặc chuyển đổi trường nghĩa của từ vay mượn dưới tác động của hệ thống ngữ nghĩa tiếng Việt.
- Sự tham gia vào tiếng Việt toàn dân:
- Trong tục ngữ, ca dao: Khảo sát các câu ca dao gắn liền với lịch phụng vụ và đời sống nông nghiệp ("Lễ Rosa thì tra hạt bí / Lễ Các Thánh thì đánh bí ra", "Lễ Các Thánh gánh mạ đi gieo / Lễ Sinh nhật giật mạ đi cấy").
- Trong văn học viết: Phân tích quá trình "phi biệt ngữ hóa" của từ ngữ Công giáo trong ngữ cảnh giao tiếp đời thường qua 12 tác phẩm của Nam Cao, Nguyên Hồng, Nguyễn Khải, trải dài từ trước Cách mạng tháng Tám đến thời kỳ Đổi mới.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt khoa học và lý luận
- Xác lập sự tồn tại của lớp biệt ngữ Công giáo: Thông qua việc nghiên cứu các đơn vị từ ngữ mang ý nghĩa hệ thống trong cộng đồng Công giáo tại Việt Nam, luận án xác định và định vị khoa học sự tồn tại của lớp biệt ngữ Công giáo trong hệ thống từ vựng tiếng Việt, phân biệt rõ với biệt ngữ của các tôn giáo khác (như Phật giáo, Cao Đài, Tin Lành).
- Làm rõ cơ chế tạo sinh và con đường hình thành: Luận án chỉ ra hai con đường hình thành chính (vay mượn chiếm ~78% và tự tạo chiếm ~22%), miêu tả chi tiết các mô hình cấu trúc (từ đơn, từ ghép, tổ hợp định danh) và đặc điểm ngữ nghĩa của từ ngữ Công giáo trong các bản kinh nguyện của các Giáo phận Dòng nói riêng và tiếng Việt nói chung.
- Làm rõ quy luật Việt hóa từ ngữ ngoại lai gốc Ấn-Âu: Phân tích các phương thức phiên âm, dịch nghĩa (canke), chuyển nghĩa của lớp từ mượn gốc La Tinh, Do Thái, Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Pháp du nhập vào tiếng Việt từ thế kỷ XVI.
- Đánh giá mối tương quan ngôn ngữ - văn hóa: Chứng minh khả năng "phi biệt ngữ hóa" và sự hội nhập của từ ngữ Công giáo vào tiếng Việt toàn dân thông qua cứ liệu văn học dân gian và văn học viết.
- Đóng góp tư liệu chuyên ngành: Bổ sung một nghiên cứu cụ thể cho phân môn Từ vựng học thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ Việt Nam.
Ý nghĩa thực tiễn và giải pháp đề xuất
- Cung cấp nguồn tư liệu và kết quả miêu tả ngôn ngữ học phục vụ công tác nghiên cứu tôn giáo học, văn hóa học và ngôn ngữ học lịch sử.
- Hướng tới việc hình thành một tập ngữ vựng/từ điển giải nghĩa từ ngữ Công giáo, giúp chuẩn hóa từ ngữ tôn giáo, phục vụ nhu cầu tìm hiểu văn hóa xã hội và hỗ trợ tín hữu hiểu chính xác nội hàm ngôn ngữ kinh nguyện để thực hành tôn giáo chiều sâu, phù hợp với chính sách tôn giáo tại Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án
- Phạm vi thể loại văn bản: Luận án tập trung vào thể loại bản kinh nguyện của cộng đồng Công giáo, chưa bao quát toàn bộ các mảng tư liệu ngôn ngữ tôn giáo khác như ngôn ngữ Thánh Kinh, Thần học, Phụng vụ, Giáo luật hay Triết học Công giáo.
- Phạm vi địa bàn khảo sát: Ngữ liệu kinh nguyện giới hạn trong phạm vi các Giáo phận Dòng (Hải Phòng, Bùi Chu, Bắc Ninh, Thái Bình, Lạng Sơn); chưa mở rộng khảo sát so sánh với các bản kinh của các giáo phận thuộc Giáo phận Triều (Tây Đàng Ngoài trước đây) hay các giáo phận miền Trung và miền Nam.
- Phạm vi ngữ liệu văn học: Ngữ liệu văn học viết khảo sát ở Chương 4 giới hạn ở 12 tác phẩm của 3 tác giả (Nam Cao, Nguyên Hồng, Nguyễn Khải).
Hướng nghiên cứu tiếp
- Mở rộng phạm vi khảo sát sang các văn bản Phụng vụ, Thần học và các bản dịch Thánh Kinh tiếng Việt qua các thời kỳ lịch sử.
- Mở rộng nghiên cứu đối chiếu từ ngữ kinh nguyện giữa các giáo phận trên toàn quốc để phục vụ công tác chuẩn hóa thuật ngữ Công giáo tiếng Việt.
- Khảo sát sự thâm nhập của từ ngữ Công giáo trong các thể loại báo chí, truyền thông và văn học đương đại.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo cho các đối tượng và lĩnh vực sau:
- Nghiên cứu sinh, học viên, giảng viên ngành Ngôn ngữ học: Cung cấp khung phân tích và mô hình miêu tả từ vựng học đối với một lớp biệt ngữ xã hội; là tài liệu cho các học phần Từ vựng học tiếng Việt, Ngôn ngữ học tiếp xúc và Ngôn ngữ học xã hội.
- Nhà nghiên cứu Tôn giáo học và Văn hóa học: Cung cấp dữ liệu lịch sử về quá trình tiếp xúc văn hóa Đông – Tây thể hiện qua ngôn ngữ; mối liên hệ giữa các dòng tu (dòng Đa Minh) với sự hình thành không gian văn hóa Công giáo đồng bằng Bắc Bộ.
- Các nhà biên soạn từ điển và nhà nghiên cứu văn bản: Cung cấp cứ liệu 1.123 đơn vị từ ngữ, giải nghĩa từ cổ, phục vụ công tác biên tập từ điển tiếng Việt toàn dân và từ điển chuyên ngành Công giáo.
- Tổ chức tôn giáo và cộng đồng tín hữu: Cung cấp căn cứ ngôn ngữ học để chuẩn hóa văn bản kinh nguyện và giải thích nghĩa chính xác cho các khái niệm đức tin.
Câu hỏi thường gặp
1. Nguồn ngữ liệu kinh nguyện chính được khảo sát trong luận án gồm những bản kinh nào?
Luận án khảo sát 9 bản kinh nguyện của các Giáo phận Dòng trong giai đoạn từ 1865 đến 2010:
- Bản kinh tụng đọc toàn niên (1865, tái bản 2007)
- Toàn Niên Kinh Nguyện Địa Phận Dòng Thánh Đaminh (1953)
- Toàn Niên Kinh Nguyện Giáo phận Bùi Chu (1956)
- Sách Kinh Địa Phận Hải Phòng (1958)
- Sách Kinh Địa Phận Hải Phòng, Bùi Chu, Thái Bình (1970)
- Sách Kinh Giáo Phận Bùi Chu (1983)
- Kinh Bản Công Giáo Giáo Phận Bắc Ninh (1992)
- Toàn Niên Kinh Nguyện Giáo Phận Hải Phòng (2010)
- Sách Kinh Giáo phận Lạng Sơn – Cao Bằng (không ghi năm xuất bản)
2. Hai con đường hình thành chính của lớp từ ngữ Công giáo trong kinh nguyện là gì và tỷ lệ phân bố ra sao?
Trên tổng số 1.123 đơn vị từ ngữ được xác định:
- Con đường vay mượn từ ngữ nước ngoài: Chiếm khoảng 78%, chủ yếu từ hoặc qua tiếng La Tinh, Do Thái, Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và Pháp (rất ít chịu ảnh hưởng từ tiếng Hán).
- Con đường tự tạo từ ngữ mới: Chiếm khoảng 22%, thực hiện bằng cách tạo hình thức mới diễn đạt nghĩa mới hoặc dùng hình thức có sẵn trong tiếng Việt để cấp thêm nghĩa tôn giáo mới.
3. Lớp từ ngữ Công giáo được định vị như thế nào trong hệ thống từ vựng tiếng Việt?
Luận án định vị từ ngữ Công giáo trong kinh nguyện là một lớp biệt ngữ xã hội, xét theo hai phương diện:
- Về nguồn gốc: Gồm bộ phận thuần Việt và ngoại lai (chủ yếu là lớp từ gốc Ấn-Âu đa dạng du nhập sớm từ thế kỷ XVI).
- Về phạm vi sử dụng: Tồn tại bên cạnh từ toàn dân, từ địa phương, thuật ngữ khoa học kỹ thuật và phân biệt với biệt ngữ của các tôn giáo khác như Phật giáo, Cao Đài, Tin Lành.
4. Cơ sở dữ liệu văn học nào được sử dụng để kiểm chứng quá trình hòa nhập của từ ngữ Công giáo vào tiếng Việt toàn dân?
Để chứng minh tính "phi biệt ngữ hóa", luận án khảo sát ca dao, tục ngữ và 12 tác phẩm văn học viết phản ánh bối cảnh đời thường từ trước 1945 đến thời kỳ Đổi mới:
- Nam Cao: Dì Hảo, Đời thừa, Nỗi truân chuyên của khách má hồng, Tư cách mõ.
- Nguyên Hồng: Bỉ vỏ, Một tuổi thơ văn, Những ngày thơ ấu.
- Nguyễn Khải: Cha và con và…, Đi tìm cái tôi đã mất, Nằm vạ, Thời gian của người, Xung đột.
5. Khái niệm "Giáo phận Dòng" trong luận án được xác định dựa trên cơ sở lịch sử nào?
Thuật ngữ "Giáo phận Dòng" bắt nguồn từ sự kiện năm 1693 khi Giám mục De Bourges xin Tòa Thánh trao giáo phận Đông Đàng Ngoài cho Dòng Đa Minh (Saint Dominic) phụ trách coi sóc truyền giáo (để phân biệt với Tây Đàng Ngoài do Hội Thừa sai Paris phụ trách, gọi là Giáo phận Triều). Các giáo phận được chia tách từ đây gồm Hải Phòng, Bùi Chu, Bắc Ninh, Thái Bình, Lạng Sơn.
Kết luận
Luận án "Từ ngữ Công giáo trong các bản kinh nguyện của các Giáo phận Dòng tại Việt Nam" là công trình nghiên cứu thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ Việt Nam, khảo sát hệ thống 1.123 đơn vị từ ngữ trong 9 bản kinh nguyện giai đoạn 1865–2010. Công trình xác định rõ cơ chế tạo sinh gồm con đường vay mượn chiếm khoảng 78% và con đường tự tạo chiếm khoảng 22%, đồng thời phân tích chi tiết các đặc điểm cấu trúc (từ đơn, từ ghép, tổ hợp định danh) và hệ thống phạm trù ngữ nghĩa của lớp từ ngữ này. Thông qua cứ liệu văn học dân gian và 12 tác phẩm văn chương hiện thực, luận án chứng minh sự vận động, quy luật Việt hóa và khả năng hội nhập của biệt ngữ Công giáo vào tiếng Việt toàn dân. Kết quả nghiên cứu đóng góp nguồn tư liệu và luận cứ khoa học cho Từ vựng học tiếng Việt, ngôn ngữ học tôn giáo và hỗ trợ thiết thực cho việc biên soạn từ điển cũng như chuẩn hóa ngôn ngữ kinh nguyện tại Việt Nam.