Luận Án Tiến Sĩ Tài Chính Ngân Hàng: Ước Lượng Mức Dự Trữ Ngoại Hối Tối Ưu Của Việt Nam

Luận án tiến sĩ nghiên cứu tài chính ngân hàng ước lượng mức dự trữ ngoại hối tối ưu của việt nam, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng dụng trong lĩnh vực kinh tế

Chuyên ngành

Tài chính Ngân hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

306
3
0

Phí lưu trữ

75 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CÁM ƠN

TÓM TẮT LUẬN ÁN

1. CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU

1.1. SỰ CẦN THIẾT CỦA NGHIÊN CỨU

1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.3. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

1.4. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU

1.6. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN

1.7. BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN

1.8. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ƯỚC LƯỢNG MỨC DỰ TRỮ NGOẠI HỐI TỐI ƯU

2.1. DỰ TRỮ NGOẠI HỐI

2.2. MỨC DỰ TRỮ NGOẠI HỐI TỐI ƯU

2.3. PHƯƠNG PHÁP ƯỚC LƯỢNG MỨC DỰ TRỮ NGOẠI HỐI TỐI ƯU BẰNG ĐO LƯỜNG THEO KINH NGHIỆM

2.4. PHƯƠNG PHÁP ƯỚC LƯỢNG MỨC DỰ TRỮ NGOẠI HỐI TỐI ƯU DỰA THEO CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN DỰ TRỮ NGOẠI HỐI

2.5. PHƯƠNG PHÁP ƯỚC LƯỢNG MỨC DỰ TRỮ NGOẠI HỐI TỐI ƯU DỰA THEO CHI PHÍ – LỢI ÍCH CỦA DỰ TRỮ NGOẠI HỐI

2.6. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: XÂY DỰNG MÔ HÌNH ƯỚC LƯỢNG MỨC DỰ TRỮ NGOẠI HỐI TỐI ƯU CỦA VIỆT NAM

3.1. ĐỐI VỚI PHƯƠNG PHÁP ĐO LƯỜNG THEO KINH NGHIỆM

3.2. ĐỐI VỚI PHƯƠNG PHÁP DỰA THEO CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN DỰ TRỮ NGOẠI HỐI

3.3. ĐỐI VỚI PHƯƠNG PHÁP DỰA THEO CHI PHÍ – LỢI ÍCH CỦA DỰ TRỮ NGOẠI HỐI

3.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ ƯỚC LƯỢNG MỨC DỰ TRỮ NGOẠI HỐI TỐI ƯU CỦA VIỆT NAM

4.1. THỰC TRẠNG DỰ TRỮ NGOẠI HỐI VIỆT NAM

4.2. KẾT QUẢ CỦA PHƯƠNG PHÁP ĐO LƯỜNG THEO KINH NGHIỆM

4.3. KẾT QUẢ CỦA PHƯƠNG PHÁP DỰA THEO CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN DỰ TRỮ NGOẠI HỐI

4.4. KẾT QUẢ CỦA PHƯƠNG PHÁP DỰA THEO CHI PHÍ – LỢI ÍCH CỦA DỰ TRỮ NGOẠI HỐI

4.5. KẾT LUẬN CHƯƠNG 4

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH CHO VIỆT NAM

5.1. ĐỐI VỚI PHƯƠNG PHÁP ĐO LƯỜNG THEO KINH NGHIỆM

5.2. ĐỐI VỚI PHƯƠNG PHÁP DỰA THEO CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN DỰ TRỮ NGOẠI HỐI

5.3. ĐỐI VỚI PHƯƠNG PHÁP DỰA THEO CHI PHÍ – LỢI ÍCH CỦA DỰ TRỮ NGOẠI HỐI

5.4. LỰA CHỌN PHƯƠNG PHÁP ƯỚC LƯỢNG MỨC DỰ TRỮ NGOẠI HỐI TỐI ƯU PHÙ HỢP CHO VIỆT NAM

5.5. CÁC HÀM Ý CHÍNH SÁCH CHO VIỆT NAM

5.6. HẠN CHẾ CỦA LUẬN ÁN VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU MỞ RỘNG

5.7. KẾT LUẬN CHƯƠNG 5

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Dự trữ ngoại hối và tối ưu hóa dự trữ

Dự trữ ngoại hối đóng vai trò quan trọng trong việc ổn định tỷ giá và giảm thiểu rủi ro kinh tế khi xảy ra các cú sốc bên ngoài. Tuy nhiên, việc gia tăng dự trữ ngoại hối cũng đi kèm với chi phí cơ hội đáng kể, do lợi nhuận từ đầu tư các tài sản ngoại hối thường thấp hơn so với các tài sản thông thường. Tối ưu hóa dự trữ là quá trình xác định mức dự trữ phù hợp để cân bằng giữa lợi ích và chi phí. Luận án tập trung vào việc ước lượng mức dự trữ ngoại hối tối ưu cho Việt Nam, sử dụng các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng.

1.1. Khái niệm và vai trò của dự trữ ngoại hối

Dự trữ ngoại hối là lượng ngoại tệ mà một quốc gia nắm giữ để đảm bảo khả năng thanh toán quốc tế và ổn định tỷ giá. Nó có vai trò quan trọng trong việc tài trợ cán cân thương mại và tài chính, đồng thời giúp giảm thiểu rủi ro khi có các cú sốc kinh tế. Việt Nam, với nền kinh tế đang phát triển, cần duy trì mức dự trữ ngoại hối hợp lý để đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô.

1.2. Chi phí cơ hội của dự trữ ngoại hối

Việc gia tăng dự trữ ngoại hối dẫn đến chi phí cơ hội do lợi nhuận từ đầu tư các tài sản ngoại hối thường thấp hơn so với các tài sản thông thường. Điều này đặt ra yêu cầu cần tối ưu hóa dự trữ để cân bằng giữa lợi ích và chi phí. Luận án sử dụng phương pháp chi phí – lợi ích để xác định mức dự trữ tối ưu cho Việt Nam.

II. Phương pháp ước lượng mức dự trữ ngoại hối tối ưu

Luận án đề cập đến ba phương pháp chính để ước lượng mức dự trữ ngoại hối tối ưu: phương pháp đo lường theo kinh nghiệm, phương pháp dựa trên các yếu tố ảnh hưởng, và phương pháp dựa trên chi phí – lợi ích. Mỗi phương pháp có ưu nhược điểm riêng và được áp dụng phù hợp với bối cảnh kinh tế của Việt Nam.

2.1. Phương pháp đo lường theo kinh nghiệm

Phương pháp này dựa trên các chỉ số kinh nghiệm như doanh số nhập khẩu, nợ nước ngoài ngắn hạn, và cung tiền rộng M2. Kết quả nghiên cứu cho thấy mức dự trữ ngoại hối tối ưu của Việt Nam vào cuối năm 2017 xấp xỉ với mức dự trữ thực tế, cho thấy sự cần thiết phải tiếp tục gia tăng dự trữ nhưng không cần đẩy nhanh tốc độ.

2.2. Phương pháp dựa trên chi phí lợi ích

Phương pháp này xem xét chi phí cơ hội và lợi ích của việc nắm giữ dự trữ ngoại hối. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng phương pháp này phù hợp để áp dụng cho Việt Nam trong giai đoạn hiện tại, giúp đưa ra các gợi ý chính sách hiệu quả.

III. Kết quả và hàm ý chính sách

Kết quả nghiên cứu cho thấy Việt Nam cần tiếp tục gia tăng dự trữ ngoại hối nhưng không cần đẩy nhanh tốc độ. Luận án cũng đề xuất các gợi ý chính sách như hoàn thiện cách tính các biến số trong mô hình ước lượng, kiểm soát mức dự trữ tối ưu, và gia tăng dự trữ thông qua các biện pháp như thu hút vốn đầu tư và tăng nguồn thu xuất khẩu.

3.1. Gợi ý chính sách từ kết quả nghiên cứu

Luận án đề xuất các gợi ý chính sách như hoàn thiện cách tính các biến số trong mô hình ước lượng, kiểm soát mức dự trữ ngoại hối tối ưu, và gia tăng dự trữ thông qua các biện pháp như thu hút vốn đầu tư và tăng nguồn thu xuất khẩu. Các gợi ý này nhằm đảm bảo sự ổn định kinh tế vĩ mô của Việt Nam.

3.2. Hạn chế và hướng nghiên cứu mở rộng

Luận án cũng chỉ ra một số hạn chế như việc sử dụng dữ liệu trong giai đoạn 2005-2017 có thể không phản ánh đầy đủ các biến động kinh tế gần đây. Hướng nghiên cứu mở rộng có thể tập trung vào việc cập nhật dữ liệu và áp dụng các phương pháp mới để ước lượng mức dự trữ ngoại hối tối ưu.

01/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU Trong chương này, nhằm cung cấp cách nhìn khái quát về nghiên cứu của luận án, tác giả trình bày những vấn đề cơ bản và tổng quan nhất của nghiên cứu bao gồm: sự cần thiết của nghiên cứu, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp và dữ liệu nghiên cứu, đóng góp mới và bố cục luận án. SỰ CẦN THIẾT CỦA NGHIÊN CỨU 1. Bối cảnh thực tiễn Chính sách tỷ giá luôn là một vấn đề được chính phủ quan tâm trong điều hành kinh tế vĩ mô của một quốc gia bởi lẽ tỷ giá thay đổi sẽ ảnh hưởng đến nhiều khía cạnh quan trọng của nền kinh tế như xuất khẩu, nhập khẩu, lạm phát, tăng trưởng kinh tế…. Một trong các công cụ chính yếu nhất giúp điều hành tỷ giá phục vụ cho mục tiêu kinh tế mà chính phủ hướng đến là nguồn dự trữ ngoại hối (DTNH) của quốc gia.

Vì vậy, từ lâu nay, DTNH luôn là một vấn đề quan trọng mà chính phủ các quốc gia đều quan tâm vì vai trò của nó trong việc giúp điều hành tỷ giá theo hướng chính phủ mong muốn. Hơn nữa, trong bối cảnh hoạt động đầu tư quốc tế ngày càng phát triển sâu rộng, DTNH còn là công cụ phòng ngừa giúp giảm tổn thương cho nền kinh tế của một quốc gia khi có cú sốc đột ngột làm các luồng vốn có xu hướng rút ra mạnh mẽ khỏi quốc gia đó. Như vậy, DTNH còn có vai trò quan trọng khác là giúp phòng ngừa những cú sốc ở bên ngoài đất nước có thể gây tổn thương cho nền kinh tế trong nước. Trong khi đó, với xu hướng hiện tại là các quốc gia đều cố gắng hội nhập toàn cầu ngày càng sâu rộng thì việc nền kinh tế quốc gia dễ bị tổn thương đối với các cú sốc bên ngoài đang và sẽ thường xuyên xảy ra.

Các cuộc khủng hoảng gần đây đã chứng minh được tầm quan trọng của DTNH quốc gia vì nó là một trong những vũ khí phòng thủ của quốc gia và là tấm đệm thanh khoản chống lại các cú sốc bên ngoài, giúp quốc gia có thể quản lý dòng vốn ào ạt chảy ra khỏi đất nước mà không phài tốn kém khoản chi phí quá đắt đỏ (IMF, 2011). Chính vì vậy, DTNH của cả thế giới đều liên tục tăng qua các năm (xem Biểu đồ 1. Điều này cho thấy các quốc gia đều ý thức được tầm quan trọng của DTNH và đều tìm cách tăng thêm DTNH của quốc gia.91 ĐVT : triệu USD 4,697,102. DTNH thế giới giai đoạn 2000 - 2017 Nguồn : International Financial Statistics – IFS (2018) Việt Nam không ngoại lệ với xu hướng này và cũng ý thức được tầm quan trọng của DTNH từ lâu nên đã không ngừng gia tăng DTNH.

Đặc biệt sau cuộc khủng hoảng tài chính 2008, DTNH của Việt Nam đã gia tăng rất mạnh (xem Biểu đồ 1. Đó là do Việt Nam đã thấy được kinh nghiệm từ các quốc gia khác về vai trò tấm đệm thanh khoản của DTNH đã bảo vệ tốt cho quốc gia như thế nào khi các dòng vốn ồ ạt tháo chạy khỏi quốc gia.31 ĐVT: triệu USD 28,615. DTNH Việt Nam giai đoạn 2000 - 2017 Nguồn : International Financial Statistics – IFS (2018) Theo Biểu đồ 1.2, Việt Nam đã gia tăng DTNH với tốc độ tăng rất mạnh và chỉ trong 7 năm từ 2010 đến 2017, lượng DTNH của Việt Nam đã tăng hơn 36. Hơn thế nữa, đến tháng 04/2018, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam công bố DTNH của Việt Nam đã lên đến mức 63.

chỉ trong vòng 4 tháng đầu 2018, DTNH Việt Nam đã tăng hơn 13.5 tỷ USD – một con số gia tăng thật đáng kinh ngạc vì với lượng gia tăng này, Việt Nam phải mất nhiều năm mới đạt được trong giai đoạn trước đây. Thực tế, vẫn còn cách nhìn nhận cho rằng một quốc gia mà có nguồn DTNH càng lớn thì càng chứng tỏ có tiềm lực kinh tế vững vàng và như thế, uy tín và tiếng nói của quốc gia đó trên trường quốc tế sẽ có trọng lượng hơn. Tuy nhiên, các tài sản thuộc DTNH phải đảm bảo các tiêu chí an toàn và thanh khoản cao (ngoại tệ mạnh, vàng, trái phiếu của các chính phủ có uy tín như Mỹ…) nhằm đảm bảo thực hiện tốt nhất vai trò tấm đệm thanh khoản của DTNH. Điều này dẫn đến một nhược điểm là khả năng sinh lời của những loại tài sản này thấp hơn nhiều so với các tài sản có mức độ rủi ro cao hơn Như vậy, việc nắm giữ chúng có thể không hiệu quả và không tạo ra được nhiều thu nhập như khi đầu tư vào các tài sản rủi ro khác hoặc các hoạt động sản xuất kinh doanh.

Nói cách khác, nắm giữ càng nhiều DTNH cũng sẽ đem lại sự tốn kém cho quốc gia vì hiệu quả sinh lợi thấp của các tài sản ngoại hối được nắm giữ. Điều này có nghĩa là nắm giữ DTNH sẽ tạo ra khoản chi phí cho việc nắm giữ này. Theo Ben-Bassat và Gottlieb (1992), khoản chênh lệch giữa hiệu suất của vốn trong nền kinh tế và mức lãi suất thu được từ các tài sản ngoại hối được xem là chi phí nắm giữ ngoại hối. Dĩ nhiên, DTNH càng cao thì khoản chi phí nắm giữ ngoại hối càng nhiều.

Khoản chi phí này thường được gọi là chi phí cơ hội của DTNH. Do vậy, việc một quốc gia cố gắng DTNH càng nhiều chưa phải là một điều hay và hợp lý mà tốt hơn là chỉ cần dự trữ vừa đủ với nhu cầu của quốc gia bởi lẽ phần DTNH vượt quá mức cần thiết nếu được đưa vào các hoạt động đầu tư thiết thực có thể làm gia tăng hiệu quả cho nền kinh tế quốc gia. Vậy một quốc gia nên DTNH bao nhiêu là hợp lý, là vừa đủ hay tối ưu ? Thật sự thì các học giả kinh tế trên khắp thế giới đã cố gắng giải đáp câu hỏi này và đã có rất nhiều nghiên cứu tìm cách ước lượng mức dự trữ ngoại hối tối ưu (DTNHTU) cho quốc gia. Tổng quan nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu về DTNHTU, có rất nhiều phương pháp ước lượng mức DTNHTU cho quốc gia được đưa ra.

Nhìn chung, các phương pháp này có thể chia thành ba phương pháp chính: đo lường theo kinh nghiệm, dựa theo các yếu tố ảnh hưởng đến DTNH và dựa theo chi phí – lợi ích của DTNH. Phương pháp xuất hiện đầu tiên và vẫn còn được sử dụng cho đến nay là phương pháp ước lượng mức DTNHTU dựa vào doanh số nhập khẩu. Phương pháp này khởi xướng từ một nghiên cứu vào năm 1958 cho thấy tỷ lệ DTNH/ doanh số nhập khẩu của các quốc gia từ 30 – 50% (Wijnholds và Kapteyn, 2001). Phương pháp này được sử dụng phổ biến cho đến khi cuộc khủng hoảng tài chính 1997 bùng nổ với việc DTNH của Thái Lan cạn kiệt do dòng vốn nước ngoài rút ra khỏi quốc gia mạnh mẽ.

Đến lúc này, các quốc gia mới nhận ra DTNH phải đảm bảo đủ khả năng tài trợ cho cả tài khoản tài chính chứ không phải chỉ tài trợ cho tài khoản vãng lai. Vì vậy, một loạt các phương pháp khác được đưa ra gồm phương pháp dựa vào nợ nước ngoài ngắn hạn được đề xuất bởi Greenspan (1999) từ một gợi ý của Guidotti, P., Bussière và Mulder (1999); phương pháp dựa vào cung tiền rộng M2 được đưa ra bởi Kaminsky (1999) và Wijnholds và Kapteyn (2001); phương pháp dựa vào GDP được đề nghị bởi Jeanne và Ranciere (2006). Các phương pháp này còn được gọi là phương pháp truyền thống. Tuy nhiên, trong bốn phương pháp truyền thống nói trên, chỉ có ba phương pháp dựa vào doanh số nhập khẩu, nợ nước ngoài ngắn hạn và cung tiền rộng M2 được sử dụng phổ biến và được IMF (2011) thừa nhận mức tiêu chuẩn tối ưu, còn phương pháp dựa vào GDP ít được sử dụng và cũng chưa được IMF thừa nhận mức tối ưu.

Bên cạnh đó, nhiều phương pháp kết hợp các phương pháp truyền thống với nhau cũng được nêu ra. Nổi bật lên có phương pháp kết hợp nợ nước ngoài ngắn hạn và thâm hụt tài khoản vãng lai hay còn được gọi là phương pháp Greenspan-Guidotti mở rộng; phương pháp kết hợp bằng cách so sánh các phương pháp truyền thống và chọn mức dự trữ cao nhất; phương pháp kết hợp cả ba phương pháp truyền thống phổ biến và lấy số tổng được đề xuất bởi Shcherbakov (2002) khi ước lượng DTNHTU cho nước Nga. Đến năm 2011, IMF đề xuất một phương pháp ước lượng mức DTNHTU dành cho các nước mới nổi gọi là phương pháp ARA EM. Phương pháp này được IMF hoàn thiện dần và đến năm 5 2016 được chính thức hướng dẫn áp dụng.

Phương pháp này ước lượng mức DTNHTU dựa trên cơ sở rằng DTNH phải đảm bảo đủ tài trợ cho cả tài khoản vãng lai và tài khoản tài chính. Tuy nhiên, điểm chung của các phương pháp này là dựa vào quy tắc kinh nghiệm để hình thành mức tiêu chuẩn tối ưu và áp dụng chung mức tiêu chuẩn này cho tất cả các quốc gia. Vì thế, các phương pháp nói trên được gộp chung thành phương pháp đo lường theo kinh nghiệm. Với phương pháp này, một số nghiên cứu tại Việt Nam cũng đã vận dụng ba phương pháp truyền thống phổ biến để so sánh mức tiêu chuẩn với dự trữ ngoại hối thực tế (DTNHTT), có thể kể đến nghiên cứu của Nguyễn Thị Xuân Phượng (2012) hoặc của Lê Thị Tuấn Nghĩa và Phạm Thị Hoàng Anh (2013).

Gần đây, khi nghiên cứu về tác động của DTNH đến ổn định kinh tế vĩ mô tại Việt Nam, Trần Kim Anh (2018) cũng đã đánh giá quy mô DTNH của Việt Nam dựa vào các chỉ tiêu nợ nước ngoài ngắn hạn, cung tiền rộng M2 và doanh số nhập khẩu hay nói cách khác là dựa vào các phương pháp truyền thống. Tuy nhiên, đối với phương pháp ARA EM mới được IMF đề xuất gần đây, tác giả chưa thấy có nghiên cứu nào tại Việt Nam vận dụng phương pháp này để tính DTNHTU của Việt Nam. Phương pháp đo lường theo kinh nghiệm áp dụng theo một chuẩn mực không thay đổi ở bất cứ quốc gia nào nên hiển nhiên phương pháp này không thể áp dụng hiệu quả cho tất cả các quốc gia do bối cảnh kinh tế của các quốc gia là khác nhau. Vì vậy, một phương pháp tiếp theo đưa ra cách nhìn nhận linh hoạt hơn, dựa vào tình hình kinh tế riêng biệt của mỗi quốc gia để tìm ra mức DTNHTU cho riêng quốc gia.

Đó chính là dựa vào các yếu tố ảnh hưởng đến DTNH để xây dựng nên hàm nhu cầu DTNH và ước lượng mức DTNHTU.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ "Ước Lượng Mức Dự Trữ Ngoại Hối Tối Ưu Cho Việt Nam" là một nghiên cứu chuyên sâu về tài chính ngân hàng, tập trung vào việc xác định mức dự trữ ngoại hối tối ưu để đảm bảo an ninh tài chính và ổn định kinh tế vĩ mô cho Việt Nam. Tài liệu này cung cấp các phương pháp luận khoa học, phân tích dữ liệu thực tế và đưa ra các khuyến nghị chính sách quan trọng, giúp các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và sinh viên hiểu rõ hơn về vai trò của dự trữ ngoại hối trong bối cảnh kinh tế hiện đại.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề liên quan đến tài chính ngân hàng, bạn có thể tham khảo thêm các tài liệu như Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế quản lý của ngân hàng nhà nước đối với rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh bắc kạn, Luận văn thạc sĩ tài chính ngân hàng phân tích tình hình cho vay đối với doanh nghiệp ngành xây dựng tại ngân hàng tmcp quân đội chi nhánh đà nẵng, và Luận văn thạc sĩ phát triển cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại ngân hàng tmcp ngoại thương việt nam chi nhánh bắc ninh. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các khía cạnh khác nhau trong lĩnh vực tài chính ngân hàng.