Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ ngữ văn với đề tài "Sự hình thành hệ thống thể loại tự sự nghệ thuật trong tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX" do nghiên cứu sinh Phạm Xuân Thạch thực hiện năm 2008 tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trần Ngọc Vương, thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam (mã số 62.01).
Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ yêu cầu giải quyết các câu hỏi nền tảng của lịch sử văn học dân tộc trong giai đoạn chuyển đổi hệ hình: từ mô hình văn học Hán - Nôm thời trung đại (chịu ảnh hưởng của mô hình văn học Trung Quốc) sang mô hình văn học quốc ngữ thời hiện đại (tiếp cận mô hình văn học phương Tây và thế giới). Khoảng trống nghiên cứu mà tác giả nhận diện là tình trạng thiếu vắng một mô hình lý thuyết có tính hệ thống, liên ngành để bao quát diện mạo và quy luật vận động nội tại của toàn bộ thể loại tự sự nghệ thuật chữ quốc ngữ trong giai đoạn giao thời ba thập niên đầu thế kỷ XX. Các nghiên cứu trước đây thường bị giới hạn bởi việc áp đặt khung phân loại thể loại hiện đại (như truyện ngắn, tiểu thuyết, ký) hoặc tiêu chí phương pháp sáng tác phương Tây vốn không hoàn toàn tương thích với thực tiễn phôi thai của văn học Việt Nam giai đoạn này.
Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu trung tâm của luận án được xác định như sau:
- Với tư cách một không gian thống nhất, quá trình hiện đại hóa tự sự nghệ thuật ở Việt Nam trong giai đoạn giao thời đã diễn ra như thế nào;
- Quá trình phân chia và định hình những tiểu loại tự sự (tiền thân của truyện ngắn và tiểu thuyết trong các giai đoạn tiếp theo) đã vận động và phát triển ra sao.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các văn bản tự sự nghệ thuật (tự sự hư cấu và các thể văn gắn với danh xưng "tiểu thuyết" theo cách hiểu đương thời) viết bằng chữ quốc ngữ được xuất bản công khai tại Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi thời gian: Tập trung chủ yếu vào giai đoạn giao thời kéo dài trong ba thập niên đầu thế kỷ XX, từ mốc 1904 - 1905 (khởi đầu phong trào Duy tân và Đông du) đến mốc 1932 (thời điểm xuất hiện bài thơ Tình già của Phan Khôi mở đầu phong trào Thơ mới). Để đảm bảo tính liên tục của tiến trình, phạm vi khảo sát mở rộng về cuối thế kỷ XIX đối với một số tác phẩm mở đầu như Truyện thầy Lazarô Phiền của Nguyễn Trọng Quản và các sáng tác của Trương Vĩnh Ký.
- Phạm vi không gian và văn bản: Các tác phẩm xuất bản công khai trên lãnh thổ Việt Nam (gồm cả Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ). Luận án không khảo sát bộ phận văn học chữ Hán và các tác phẩm xuất bản, lưu hành ở nước ngoài.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Lịch sử nghiên cứu tự sự chữ quốc ngữ giai đoạn giao thời được tác giả phân tích qua ba chặng phát triển chính trong hơn sáu mươi năm:
| Chặng thời gian |
Các tác giả, công trình tiêu biểu |
Đặc điểm và đóng góp chính |
| Giai đoạn trước 1945 |
Dương Quảng Hàm (Việt Nam văn học sử yếu, 1943); Vũ Ngọc Phan (Nhà văn hiện đại); Thiếu Sơn (Phê bình và cảo luận); Lê Thanh (Cuộc phỏng vấn các nhà văn); Kiều Thanh Quế (Cuộc tiến hóa văn học Việt Nam); Trương Chính (Dưới mắt tôi); Thạch Lam (Theo dòng). |
Xác nhận sự tồn tại của giai đoạn sơ khởi văn học quốc ngữ; phác họa diện mạo tác giả, nhóm tác giả (Đông Dương tạp chí, Nam Phong tạp chí); chỉ ra vai trò của báo chí, dịch thuật, các thể văn quốc ngữ buổi đầu. |
| Giai đoạn 1954 – 1988 |
Nhóm Lê Quý Đôn (Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam); Ban Văn Sử Địa (Lược sử văn học Việt Nam); Nghiêm Toản (Việt Nam văn học sử trích yếu); Phạm Thế Ngũ (Việt Nam văn học sử giản ước tân biên); Thanh Lãng (Bảng lược đồ văn học Việt Nam); Trần Đình Hượu và Lê Chí Dũng (Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900-1930, 1988). |
Phạm Thế Ngũ vận dụng mô hình Gustave Lanson chia giai đoạn theo thời gian; Thanh Lãng tiếp cận theo mô hình Albert Thibaudet dựa trên thế hệ nhà văn và tranh luận văn chương; Trần Đình Hượu và Lê Chí Dũng xây dựng công trình theo cảm hứng xã hội học văn học, làm rõ hai khuynh hướng: cách tân truyền thống và bản địa hóa mô hình phương Tây. |
| Giai đoạn sau 1986 đến 2006 |
Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng, Nguyễn Công Bình (Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh, tập II); Bằng Giang (Văn học quốc ngữ ở Nam Kỳ 1865 - 1930); Bùi Đức Tịnh (Những bước đầu của báo chí, tiểu thuyết và Thơ mới); Các luận án tiến sĩ của Tôn Thất Dụng (1993), Cao Xuân Mỹ (2001), Nguyễn Thanh Sơn (2001), Lê Ngọc Thúy (2002). |
Khôi phục khối tư liệu văn học Nam Kỳ; sưu tầm, tái bản các văn bản văn học quốc ngữ trước 1945; khảo sát quá trình hiện đại hóa tiểu thuyết, truyện ngắn Nam Bộ và đóng góp của văn học quốc ngữ Nam Bộ. |
Khoảng trống mà luận án lựa chọn giải quyết: Các công trình trước đây phần lớn nhìn nhận lịch sử văn học dựa trên hệ thống phân loại phương pháp sáng tác (lãng mạn, hiện thực) hoặc áp đặt các khuôn mẫu thể loại hoàn chỉnh của giai đoạn sau (1932 - 1945) lên giai đoạn phôi thai (1900 - 1932), đồng thời thường mang thiên kiến lấy văn học miền Bắc làm trung tâm. Luận án khắc phục các giới hạn này bằng việc xem tự sự giao thời là một thực thể vận động đa chiều, kết hợp giữa bối cảnh văn hóa xã hội với cấu trúc văn bản nghệ thuật.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án xác lập khung nghiên cứu dựa trên quan niệm thể loại là một cấu trúc đa chiều kích: vừa là quy ước mang tính xã hội - thẩm mỹ trong một thời điểm lịch sử, vừa là cấu trúc ngôn ngữ - nghệ thuật gồm hai bình diện Cái biểu đạt và Cái được biểu đạt (theo mô hình ngôn ngữ học của Ferdinand de Saussure).
Khung lý thuyết và khái niệm được sử dụng bao gồm:
- Lý thuyết trường văn học (champ littéraire) của nhà xã hội học Pierre Bourdieu: Sử dụng để mô tả quá trình văn học Việt Nam tách dần khỏi sự phụ thuộc vào các hình thái ý thức xã hội khác, xác lập tính tự trị tương đối với các quy luật nội tại, sự xuất hiện của các vị thế (positions) và tiếng nói quyền uy trong đời sống văn học.
- Lý thuyết mỹ học tiếp nhận của Hans Robert Jauss: Sử dụng khái niệm "tầm đón đợi" (horizon d'attente) để giải thích mối quan hệ giữa quy ước thể loại và tâm lý tiếp nhận của công chúng qua từng thời kỳ.
- Thi pháp học và Trần thuật học (Tự sự học): Tiếp cận văn bản qua các yếu tố cấu trúc hình thức như người kể chuyện, điểm nhìn trần thuật, sự miêu tả, phân tích tâm lý, lời gián tiếp tự do, thời gian trần thuật và tốc độ trần thuật.
- Xã hội học văn bản: Phân tích mối quan hệ giữa từ vựng, cú pháp, diễn ngôn ý thức hệ với cấu trúc hệ thống nhân vật và cái nhìn thế giới (la vision du monde).
Phương pháp nghiên cứu thực tế:
- Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp liên ngành trong nội bộ khoa học văn học: phân tích cấu trúc văn bản, phân tích trần thuật học, xã hội học văn học, so sánh lịch sử văn học. Luận án không sử dụng các công cụ định lượng hay thống kê toán học.
Nguồn tư liệu và dữ liệu:
- Hệ thống văn bản tự sự chữ quốc ngữ xuất bản tại Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX đến năm 1932 (tác phẩm của Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Trọng Quản, Hồ Biểu Chánh, Hoàng Ngọc Phách, Nguyễn Trọng Thuật, Tản Đà, Phạm Duy Tốn...).
- Các ấn phẩm báo chí và tạp chí đương thời: Đông Dương tạp chí, Nam Phong tạp chí, Hữu Thanh tạp chí, An Nam tạp chí, Thần chung, Đông Pháp thời báo, Phụ nữ tân văn, Lục tỉnh tân văn.
- Nguồn tư liệu lưu trữ về chương trình, sách giáo khoa giảng dạy văn chương (Pháp văn và Quốc văn) trong hệ thống giáo dục Pháp - Việt từ sau các mốc cải cách năm 1904, 1917 và 1924.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những tiền đề hiện đại hóa tự sự
Chương này tập trung giải quyết câu hỏi nguyên nhân ("tại sao") dẫn đến sự vận động hiện đại hóa của thể loại tự sự thông qua hai nhóm tiền đề: ngoại sinh (văn hóa - xã hội) và nội sinh (văn học).
- Tiền đề văn hóa xã hội:
- Quá trình đô thị hóa tạo ra cơ cấu dân cư mới (viên chức, tư sản dân tộc, học sinh, bình dân đô thị) ly khai khỏi môi trường làng xã nông nghiệp. Đô thị trở thành nơi nảy sinh nhu cầu thưởng thức văn chương mang tính giải trí, văn nghệ kiểu phương Tây và tạo điều kiện hình thành đội ngũ người viết văn chuyên nghiệp.
- Báo chí và xuất bản đóng vai trò là môi trường tồn tại chính của văn học mới. Báo chí đảm nhận chức năng của một quy trình sản xuất văn học: nối kết người sáng tác, cơ quan xuất bản, nhà phê bình và độc giả, phá vỡ tính cát cứ khu vực để xây dựng một nền văn học thống nhất.
- Nhà trường Pháp - Việt: Thông qua các mốc thể chế hóa năm 1904, 1917 (Tổng quy về giáo dục công cộng) và 1924, nhà trường đóng vai trò xác lập lại vị thế của con người như một chủ thể quan sát, khám phá thế giới; truyền bá chuẩn mực thẩm mỹ phương Tây, đồng thời góp phần lấp đầy khoảng đứt gãy văn hóa khi chuyển đổi văn tự Hán - Nôm sang quốc ngữ.
- Vận động văn hóa "Điều hòa tân cựu - Thổ nạp Âu Á": Tiếp nhận văn học phương Tây trong giai đoạn giao thời có tính chọn lọc và có giới hạn dừng. Người Việt tiếp nhận văn học lãng mạn (V. Hugo) và chủ nghĩa hiện thực giai đoạn đầu (Balzac), nhưng bỏ qua văn học Phục hưng giàu tính nghịch dị (Rabelais, Cervantes) cũng như các đỉnh cao hiện thực tâm lý, đa thanh nửa sau thế kỷ XIX (Stendhal, Flaubert, Tolstoy, Dostoevsky).
- Vận động nội sinh của văn học:
- Di sản văn xuôi trung đại: Cơ cấu thể loại truyền thống vốn lấy văn học chức năng (chiếu, biểu, hịch, cáo, văn cử tử, văn chép sử) làm trung tâm chính thống; văn xuôi tự sự nghệ thuật (truyền kỳ, tùy bút, tiểu thuyết chương hồi) nằm ở vị trí ngoại vi và có tính bất định thể, hỗn dung giữa lịch sử, triết học và văn học. Đỉnh cao tự sự thời trung đại lại thác sinh vào thể loại truyện thơ Nôm (như Truyện Kiều) thay vì văn xuôi thuần túy.
- Sự hình thành trường văn học: Văn chương dần tách khỏi chính trị và đạo đức phong kiến để xác lập tính tự trị. Tản Đà là trường hợp tiêu biểu cho sự chuyển đổi từ nhà Nho thất bại trên đường cử nghiệp sang người cầm bút chuyên nghiệp, hoạt động trên các diễn đàn báo chí (Đông Dương tạp chí, An Nam tạp chí) và khẳng định tư cách tác giả trong trường văn học.
Chương 2: Diễn tiến quá trình hiện đại hóa tự sự trong giai đoạn giao thời
Chương này mô tả diễn trình lịch sử và sự biến đổi trong ý thức thể loại của các thế hệ tác giả.
- Quá trình hình thành quan niệm thể loại:
- Sự thay đổi căn bản về vị thế của văn tự sự: từ chỗ bị xem là "tiểu đạo", "vặt vãnh", tiểu thuyết được định nghĩa lại là "văn hữu dụng", "văn vị đời" và trở thành bộ phận trung tâm của nền quốc văn mới.
- Khái niệm "tả thực" được đề cao, chuyển cái nhìn nghệ thuật từ việc răn dạy đạo đức sang khám phá hiện thực khách quan.
- Tồn tại mối quan hệ thỏa hiệp giữa nghệ thuật và luân lý: các tác giả tìm cách dung hòa giữa tính giải trí của thể loại mới với chức năng giáo huấn đạo đức truyền thống.
- Diễn trình phát triển qua các giai đoạn:
- Giai đoạn cuối thế kỷ XIX (Những người mở đầu): Sự xuất hiện của văn xuôi quốc ngữ Nam Kỳ với các tác phẩm của Trương Vĩnh Ký và tiểu thuyết Truyện thầy Lazarô Phiền (1887) của Nguyễn Trọng Quản. Tác phẩm này bước đầu thể hiện kỹ thuật tự sự hiện đại qua kết cấu truyện lồng trong truyện và miêu tả tâm lý.
- Làn sóng thứ nhất (hai thập niên đầu thế kỷ XX): Phong trào dịch thuật tiểu thuyết phương Tây và tiểu thuyết thông tục Trung Quốc nở rộ; xuất hiện các thể nghiệm tự sự trên báo chí miền Bắc (Đông Dương tạp chí, Nam Phong tạp chí) và các sáng tác của Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Chánh Sắt ở Nam Kỳ.
- Làn sóng thứ hai (thập niên 1920): Đánh dấu bước phát triển hoàn thiện hơn với sự xuất hiện của Tố Tâm (1925) của Hoàng Ngọc Phách ở Bắc Kỳ, Quả dưa đỏ (1925) của Nguyễn Trọng Thuật, cùng hàng loạt tiểu thuyết tâm lý - xã hội của Hồ Biểu Chánh tại Nam Kỳ.
Chương 3: Những khuynh hướng hiện đại hóa cấu trúc hình thức thể loại
Chương này khảo sát các biến đổi về mặt kỹ thuật và thi pháp trần thuật:
- Không gian thể loại tự sự ngắn:
- Thể loại tự sự ngắn trong giai đoạn giao thời tồn tại như một vùng biên mơ hồ, nằm giữa ranh giới hư cấu và phi hư cấu (ký sự, mộng ký, ba đào ký, truyện ngắn).
- Có sự thẩm thấu liên tục giữa đoản thiên và trường thiên tiểu thuyết; truyện ngắn vừa đóng vai trò thử nghiệm kỹ thuật vừa là dạng thức thu nhỏ của tiểu thuyết.
- Cấu trúc hình thức của truyện kể:
- Người kể chuyện và điểm nhìn: Sự chuyển dịch từ người kể chuyện toàn tri mang tính ước lệ thời trung đại sang người kể chuyện hạn tri, sự xuất hiện của ngôi kể thứ nhất xưng "tôi" và sự dịch chuyển điểm nhìn trần thuật vào thế giới nội tâm nhân vật.
- Kỹ thuật miêu tả và phân tích tâm lý: Tự sự thoát ly khỏi lối miêu tả ước lệ tượng trưng để hướng tới lối miêu tả ngoại cảnh thực tế và phân tích diễn biến tâm lý logic, duy lý.
- Lời văn nghệ thuật: Xuất hiện dạng thức lời gián tiếp tự do, cho phép nhân vật tự bộc lộ ý thức và cảm xúc mà không hoàn toàn phụ thuộc vào lời dẫn trực tiếp của người kể chuyện.
- Thời gian trần thuật: Phá vỡ trật tự thời gian biên niên tuyến tính tuyệt đối của truyện cổ, xuất hiện các thủ pháp đảo trật tự thời gian, hồi tưởng, kéo giãn độ dài thời gian tính và thay đổi tốc độ trần thuật.
Chương 4: Ngôn ngữ, tự sự và ý thức hệ
Chương này vận dụng xã hội học văn bản để giải mã mối quan hệ giữa cấu trúc ngôn ngữ và hệ tư tưởng xã hội:
- Từ vựng, ý thức hệ và cái nhìn thế giới:
- Phân tích sự mở rộng của tầng lớp từ vựng quốc ngữ: từ vựng chỉ cảm xúc cá nhân, từ vựng khoa học - duy lý, từ ngữ miêu tả đời sống thường nhật và các khái niệm xã hội học mới.
- Sự xung đột và đan xen giữa hệ từ vựng Hán Việt cổ kính mang tính quy phạm phong kiến với hệ từ vựng quốc ngữ thế tục hóa.
- Cú pháp và xung đột giá trị:
- Cú pháp câu văn xuôi có sự biến đổi từ cấu trúc biền ngẫu, đăng đối nhịp nhàng của văn truyền thống sang cấu trúc câu văn xuôi hiện đại linh hoạt, phân cấp mệnh đề theo ngữ pháp tiếng Pháp.
- Cấu trúc câu phản ánh sự giằng co giữa tư duy tổng hợp cổ truyền và tư duy phân tích duy lý thời hiện đại.
- Diễn ngôn và cấu trúc hệ thống nhân vật:
- Luận án phân tích cơ chế tạo nghĩa của diễn ngôn: diễn ngôn ý thức hệ luân lý Khổng giáo tồn tại song song và va chạm với diễn ngôn phê phán, diễn ngôn giải phóng cá nhân.
- Cấu trúc ngữ nghĩa của hệ thống nhân vật được định hình dựa trên các mô hình hành động mới: nhân vật không còn là biểu tượng đạo đức tĩnh tại mà trở thành những chủ thể xã hội mang xung đột nội tâm và xung đột giai cấp/thế hệ.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận và khoa học:
- Luận án xây dựng một mô hình tiếp cận hệ thống, toàn diện đối với quá trình hiện đại hóa thể loại tự sự nghệ thuật chữ quốc ngữ giai đoạn 1900 - 1932 mà không phụ thuộc vào các khung phân loại áp đặt sẵn của lý thuyết phương pháp sáng tác.
- Ứng dụng và bước đầu bản địa hóa các lý thuyết nghiên cứu văn học hiện đại của phương Tây thế kỷ XX (lý thuyết trường văn học của P. Bourdieu, mỹ học tiếp nhận của H. R. Jauss, thi pháp học trần thuật và xã hội học văn bản) vào thực tiễn nghiên cứu văn học sử Việt Nam.
Về mặt thực tiễn và tư liệu:
- Luận án công bố và phân tích hệ thống tư liệu về chương trình, sách giáo khoa môn Quốc văn và Pháp văn trong nhà trường Pháp - Việt các thời kỳ cải cách giáo dục (1904, 1917, 1924), xác lập cơ sở thực chứng cho việc đánh giá vai trò của thiết chế giáo dục đối với sự chuyển đổi hệ hình văn học.
- Đưa ra cái nhìn khách quan, công bằng đối với đóng góp của văn học quốc ngữ Nam Kỳ và văn học đô thị trong tổng thể tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc.
- Cung cấp khung tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu khoa học cơ bản và giảng dạy văn học Việt Nam giai đoạn giao thời ở bậc đại học và sau đại học.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Do giới hạn phạm vi nghiên cứu, luận án chỉ tập trung vào các văn bản chữ quốc ngữ xuất bản công khai trong nước, chưa khảo sát mảng sáng tác tự sự bằng chữ Hán cùng thời kỳ và các văn bản xuất bản tại hải ngoại.
- Phân tích về sự tiếp nhận mô hình phương Tây của người Việt đầu thế kỷ XX cho thấy văn học thời kỳ này chịu sự giới hạn tiếp nhận ở các trào lưu lãng mạn và hiện thực thời kỳ đầu, chưa bao quát được toàn bộ các thành tựu của tiểu thuyết phương Tây thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng mô hình nghiên cứu trần thuật học và xã hội học trường văn học sang giai đoạn văn học 1932 - 1945 và giai đoạn văn học đương đại.
- Nghiên cứu so sánh sâu hơn giữa quá trình hiện đại hóa tự sự Việt Nam với các nền văn học trong khu vực Đông Á (Trung Quốc, Nhật Bản) có cùng hoàn cảnh chuyển đổi từ văn tự truyền thống sang văn học chữ viết hiện đại.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo cho:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Văn học Việt Nam, Lý luận văn học, Văn hóa học: Cung cấp phương pháp luận kết hợp giữa trần thuật học và xã hội học văn học để xử lý các vấn đề lịch sử thể loại.
- Giảng viên đại học và cao đẳng: Cung cấp cấu trúc bài giảng chi tiết, hệ thống tư liệu lịch sử và văn bản tác phẩm về văn học Việt Nam giai đoạn 1900 - 1932.
- Người làm công tác nghiên cứu lịch sử văn hóa, báo chí và giáo dục: Phần phân tích về báo chí, xuất bản và thiết chế nhà trường Pháp - Việt tại Chương 1 là nguồn dữ liệu lịch sử giá trị.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác định mốc thời gian của giai đoạn giao thời văn học Việt Nam là khoảng thời gian nào?
Luận án xác định giai đoạn giao thời kéo dài trong khoảng ba thập niên đầu thế kỷ XX, bắt đầu từ mốc 1904 - 1905 (khi các phong trào Duy tân và Đông du khởi xướng cuộc chuyển biến văn hóa) và kết thúc vào năm 1932 (khi Phan Khôi công bố bài thơ Tình già, mở đầu phong trào Thơ mới).
2. Khái niệm "trường văn học" của Pierre Bourdieu được luận án vận dụng như thế nào?
Khái niệm "trường văn học" (champ littéraire) được vận dụng để mô tả quá trình văn học Việt Nam tách khỏi sự lệ thuộc vào các thiết chế quyền lực và ý thức hệ phong kiến/thuộc địa để hình thành một không gian sinh hoạt tinh thần có tính tự trị tương đối, có thị trường văn học, có quan hệ chức năng giữa người sáng tác, nhà phê bình, cơ quan xuất bản/báo chí và công chúng độc giả. Trường hợp Tản Đà từ bỏ cử nghiệp để sống bằng nghề viết văn chuyên nghiệp được phân tích như một ví dụ tiêu biểu.
3. Vì sao nhà trường Pháp - Việt được xem là một tiền đề văn hóa xã hội quan trọng của quá trình hiện đại hóa tự sự?
Nhà trường Pháp - Việt đóng vai trò là kênh tiếp xúc văn hóa phương Tây có tính định hướng và thể chế hóa. Thông qua các môn học tích hợp (Quốc văn, Pháp văn, Luân lý), nhà trường xác lập chuẩn mực thẩm mỹ mới, thay đổi cái nhìn thế giới (từ răn dạy đạo đức sang quan sát, khám phá hiện thực), truyền bá các kỹ thuật văn chương phương Tây và giúp lấp đầy khoảng trống đứt gãy văn hóa do quá trình chuyển đổi văn tự Hán - Nôm sang quốc ngữ.
4. Luận án chỉ ra điểm dừng hay giới hạn nào trong việc tiếp nhận tiểu thuyết phương Tây của người Việt đầu thế kỷ XX?
Luận án chỉ ra rằng người Việt đầu thế kỷ tiếp nhận có chọn lọc và dừng lại ở văn học lãng mạn (Victor Hugo) cùng giai đoạn đầu của chủ nghĩa hiện thực (Balzac). Các tác phẩm văn học Phục hưng mang tính nghịch dị (Rabelais, Cervantes) và các đỉnh cao hiện thực tâm lý, đa thanh nửa sau thế kỷ XIX (Stendhal, Flaubert, Tolstoy, Dostoevsky) hầu như bị bỏ qua do không phù hợp với tâm lý tiếp nhận và nền tảng tư duy chịu ảnh hưởng Nho giáo đương thời.
5. Sự khác biệt căn bản trong kết cấu văn xuôi tự sự trung đại và tự sự giai đoạn giao thời là gì?
Văn xuôi tự sự trung đại mang tính bất định thể, hỗn dung giữa lịch sử, đạo đức và triết học, dựa trên điểm nhìn toàn tri ước lệ và cốt truyện biên niên tuyến tính. Tự sự giai đoạn giao thời chuyển biến sang hư cấu nghệ thuật thuần túy, xuất hiện điểm nhìn hạn tri (ngôi kể thứ nhất), kỹ thuật miêu tả tả thực, phân tích tâm lý duy lý, sử dụng lời gián tiếp tự do và phá vỡ trật tự thời gian tuyến tính.
Kết luận
Luận án của tác giả Phạm Xuân Thạch đã hệ thống hóa và mô hình hóa thành công tiến trình hiện đại hóa của hệ thống thể loại tự sự nghệ thuật chữ quốc ngữ trong ba thập niên đầu thế kỷ XX tại Việt Nam. Bằng việc kết hợp chặt chẽ giữa lý thuyết trường văn học của Pierre Bourdieu, trần thuật học và xã hội học văn bản, công trình đã làm sáng tỏ các tiền đề lịch sử, sự chuyển biến quan niệm thể loại, những biến đổi cấu trúc hình thức và mối liên hệ giữa ngôn ngữ với ý thức hệ xã hội. Đây là một công trình nghiên cứu lịch sử văn học nghiêm cẩn, cung cấp những luận điểm khoa học xác đáng và nguồn tư liệu phong phú cho việc nghiên cứu, giảng dạy văn học Việt Nam giai đoạn giao thời.