Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI LUẬN ÁN 1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 1. Những nghiên cứu liên quan đến văn hóa, văn hóa truyền thống và sự biến đổi văn hóa truyền thống 1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến văn hóa VH là một lĩnh vực rộng lớn nên nó là đối tƣợng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học nhƣ VH học, nhân học, triết học… Trong đó, mỗi ngành khoa học tùy vào mục tiêu nghiên cứu mà có những cách tiếp cận khác nhau về VH.
Quan niệm về VH cũng nhƣ bản chất, đặc điểm của nó đã đƣợc rất nhiều các nhà nghiên cứu trong và ngoài nƣớc cũng nhƣ các tổ chức quốc tế đề cập đến. Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu sau: Công trình “Tư tưởng VH, khái luận về triết học VH” [76] của Zlobin (Hoàng Thu Hƣơng và Dƣơng Công Thao dịch) đã tiếp cận VH là hoạt động sáng tạo của con ngƣời có ý nghĩa xã hội và nhƣ vậy, Zlobin nhấn mạnh vai trò chủ thể VH là con ngƣời, VH gắn với hoạt động sáng tạo của con ngƣời. Trong Tuyên bố chung của UNESCO về tính đa dạng VH [165] đã cho rằng VH nên đƣợc đề cập đến nhƣ là một tập hợp của những đặc trƣng về tâm hồn, vật chất, tri thức, xúc cảm của một xã hội hay một nhóm ngƣời trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cách sống, phƣơng thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin. Tổng giám đốc UNESCO, ngài Federico Mayor tiếp cận VH là hoạt động sáng tạo của con ngƣời tạo ra các giá trị, và nó làm nên đặc tính riêng của các DT để phân biệt DT này với DT khác.
Nhƣ vậy, các nhà khoa học và các tổ chức quốc tế đều đề cập đến VH theo nghĩa đó là hoạt động sáng tạo của con ngƣời tạo ra các giá trị và do đó, VH thuộc về con ngƣời. Trong trang cuối của bản thảo “Nhật ký trong tù”(1942) dƣới tiêu đề Mục đọc sách [100], Hồ Chí Minh đã định nghĩa hết sức khái quát về VH. Theo định 8 nghĩa này, Hồ Chí Minh đã chỉ ra các thành tố của VH đó là ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc và các phƣơng thức sử dụng. Đồng thời Ngƣời chỉ ra đặc trƣng của VH là tính sáng tạo và mục tiêu của VH chính là vì sự sinh tồn và mục đích của cuộc sống con ngƣời.
Trong cuốn “Tìm về bản sắc VH Việt Nam” [141], tác giả Trần Ngọc Thêm cho rằng: VH là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con ngƣời sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tƣơng tác giữa con ngƣời với môi trƣờng tự nhiên và xã hội của mình. Khái niệm VH theo nghĩa hẹp đƣợc tác giả giới hạn theo các chiều cạnh nhƣ chiều sâu, chiều rộng, không gian, thời gian… Giới hạn theo không gian, VH dùng để chỉ những giá trị đặc thù theo vùng văn hóa (VH Tây Bắc, văn hóa vùng Kinh Bắc, VH Nam Bộ…); theo thời gian, VH đƣợc dùng để chỉ những giá trị trong từng giai đoạn của các tiến trình lịch sử (VH Hoà Bình, VH Đông Sơn…); theo chiều sâu, VH đƣợc hiểu là những giá trị tinh hoa của nó (VH truyền thống, văn học, nghệ thuật dân gian…); theo chiều rộng, VH dùng để chỉ những giá trị trong từng lĩnh vực (VH ứng xử, VH kinh doanh…). Theo nghĩa rộng, khái niệm VH đƣợc xem là bao gồm tất cả những gì do con ngƣời sáng tạo ra. Trong “Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 5 khóa VIII” [38], Đảng ta tiếp cận VH ở những lĩnh vực trọng yếu nhƣ: tƣ tƣởng, đạo đức, lối sống, phong tục tập quán, giáo dục và khoa học, VH nghệ thuật… Nhƣ vậy, trong Nghị quyết này, Đảng ta tiếp cận VH dƣới góc độ toàn bộ những giá trị tinh thần, tạo nên nền tảng tinh thần của xã hội.
Công trình “VHDT - Một số vấn đề triết học” [100] của tác giả Hoàng Xuân Lƣơng đã tiếp cận VH theo nghĩa là toàn bộ hoạt động sáng tạo mang tính nhân đạo của con ngƣời trong quá trình sản xuất, đấu tranh làm nên các giá trị vật chất, tinh thần, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của xã hội loài ngƣời. Nhƣ vậy, tác giả đã tiếp cận VH theo nghĩa rộng bao gồm toàn bộ các giá trị vật chất và tinh thần đƣợc con ngƣời tạo ra trong quá trình sản xuất nhằm mục đích, nhu cầu của con ngƣời. Tác giả Hồ Bá Thâm với nghiên cứu “VH và bản sắc VH dân tộc” [140] đã đề 9 cập đến VH với tƣ cách một khái niệm khoa học - triết học. Do đó, nó phải có đủ 4 đặc trƣng sau: Thứ nhất, VH là toàn bộ hoạt động (sản xuất, quan hệ, giao tiếp, đấu tranh xã hội) của con ngƣời (cá nhân, cộng đồng) trong quan hệ với tự nhiên, xã hội và bản thân mình.
Thứ hai, VH là một hệ thống giá trị không chỉ tinh thần mà cả vật chất, cả vật thể và phi vật thể. Thứ ba, VH là phát triển (tiến bộ). Thứ tư, VH là phƣơng thức tồn tại, phƣơng thức sống và phát triển của con ngƣời và cộng đồng ngƣời. Từ 4 đặc trƣng trên, tác giả đã đƣa ra định nghĩa về VH nhƣ sau: “VH là tổng hòa các giá trị vật chất và tinh thần theo tính chân - thiện - mỹ, do hoạt động của con ngƣời sáng tạo ra, thông qua các phƣơng thức sinh tồn của đời sống xã hội, và ngày càng phát triển.
VH là sự phát triển, tiến bộ và phát triển, tiến bộ là VH” [139, tr.20] Giáo sƣ Ngô Đức Thịnh với cuốn sách “Giá trị VH Việt Nam - truyền thống và biến đổi” [148] đã tiếp cận khái niệm VH theo nghĩa “VH là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con ngƣời sáng tạo và tích lũy trong quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tƣơng tác giữa con ngƣời với môi trƣờng tự nhiên và môi trƣờng xã hội, nhằm thỏa mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần của mình” [148, tr. Tác giả cũng khẳng định, không phải tất cả những gì do con ngƣời tạo ra đều đƣợc coi là VH mà chỉ những thứ kết tinh thành giá trị mới là cốt lõi của VH. Nhƣ vậy, qua các công trình trên có thể khẳng định, mỗi một nhà nghiên cứu có một cách nhìn khác nhau nên thƣờng đƣa ra quan niệm khác nhau về VH, có định nghĩa theo kiểu đặc trƣng hay theo kiểu biểu hiện, mô tả hoặc có quan niệm cho rằng, VH là khái niệm tích hợp toàn bộ hoạt động của con ngƣời hay VH là hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần. Sở dĩ có nhiều quan niệm khác nhau nhƣ vậy là do góc độ tiếp cận và mục tiêu nghiên cứu là khác nhau.
Tình hình nghiên cứu về văn hóa truyền thống và sự biến đổi văn hóa truyền thống Đi nghiên cứu về VH truyền thống, hai tác giả Lƣơng Gia Ban và Nguyễn Thế Kiệt (đồng chủ biên) cũng có cuốn sách “Giá trị VH truyền thống dân tộc với việc xây dựng nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay” [6]. Cuốn sách đƣợc chia ra làm ba chƣơng, trong chƣơng I các tác giả cũng đã đi nghiên cứu về VH 10 và VH truyền thống dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về VH. Từ việc chỉ ra quan điểm của một số nhà nghiên cứu về khái niệm truyền thống, tác giả đã đi đến kết luận VH truyền thống là những hiện tƣợng VH - xã hội (bao gồm các giá trị, các chuẩn mực giao tiếp, các khuôn mẫu VH, các tƣ tƣởng xã hội, các phong tục, nghi thức xã hội, thiết chế xã hội.) đƣợc bảo tồn qua năm tháng trong đời sống vật chất và tinh thần của cộng đồng xã hội khác nhau và có thể đƣợc chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác. Công trình “Giá trị VH Việt Nam - truyền thống và biến đổi” [148] của tác giả Ngô Đức Thịnh, trƣớc khi tìm hiểu về những giá trị VH Việt Nam và phân tích sự biến đổi của nó trong quá trình đổi mới và hội nhập, tác giả đã có sự phân tích và làm rõ hàng loạt các khái niệm nhƣ: VH, VH truyền thống, bản sắc, bản sắc VH, giá trị VH.
Trong đó, VH truyền thống đƣợc tác giả hiểu nhƣ là VH gắn với xã hội tiền công nghiệp, phân biệt với VH hiện đại của thời đại công nghiệp hóa và khái niệm VH truyền thống đƣợc tác giả làm rõ hơn nhƣ “để chỉ những hiện tƣợng, những giá trị đã hình thành từ lâu đời, mang tính bền vững và đƣợc trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, thì không thể trong xã hội tiền công nghiệp mới có, mà nhƣ một tập quán, nó tồn tại ngay trong xã hội công nghiệp, xã hội hiện đại. Hơn thế nữa, còn có sự kết nối hữu cơ giữa VH truyền thống với VH hiện đại, mà sự kết hợp đó thể hiện trong từng hiện tƣợng hay giá trị VH ngày nay” [148, tr. Tác giả Nguyễn Duy Bắc với công trình “Sự biến đổi các giá trị VH trong bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam” [7] đã nêu lên các giá trị VH truyền thống của DT Việt Nam và chỉ ra rằng dƣới tác động của nền kinh tế thị trƣờng hiện nay, các giá trị VH truyền thống đã có sự biến đổi nhất định về cả nội dung và hình thức biểu hiện. Có những giá trị đang bị mai một, biến tƣớng nhƣng cũng những giá trị đƣợc bồi đắp thêm, làm giàu có thêm, phát huy đƣợc giá trị của nó trong bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trƣờng.
Tác giả nhấn mạnh nguyên nhân của sự biến đổi có nguồn gốc từ sự biến đổi các phƣơng thức sản xuất trong xã hội hay nói cách khác các giá trị VH đang thay đổi cùng với sự thay đổi của nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa. Nghiên cứu sự biến đổi VH truyền thống, nhà nghiên cứu VH dân gian Ngô 11 Đức Thịnh đã có những kiến giải rất cụ thể, chi tiết về sự xuất hiện của các nhân tố mới trong nền VH Việt Nam ở thời kì đổi mới và hội nhập - một biểu hiện của sự biến đổi VH truyền thống.