Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu "Quyền của người khuyết tật trong pháp luật an sinh xã hội ở Việt Nam" của tác giả Nguyễn Thị Thu Hường được thực hiện tại Trường Đại học Luật Hà Nội (chuyên ngành Luật kinh tế, mã số 9.07, bảo vệ năm 2022 dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Xuân Thu và TS. Vũ Minh Tiến).

Về tính cấp thiết, theo thống kê quốc tế, khoảng 10% dân số thế giới (tương đương 650 triệu người) đang sống trong tình trạng khuyết tật; Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) ước tính 80% người khuyết tật sống ở các quốc gia đang phát triển và Ngân hàng Thế giới chỉ ra rằng 20% những người nghèo nhất thế giới thuộc nhóm người khuyết tật. Tại Việt Nam, số liệu từ Điều tra Quốc gia người khuyết tật năm 2016 của Tổng cục Thống kê cho thấy tỷ lệ người khuyết tật từ 2 tuổi trở lên chiếm 7,09% dân số (trong đó trẻ em từ 2 đến 17 tuổi là 2,83% và người lớn là 8,67%). Sự ra đời của Công ước Quốc tế về quyền của người khuyết tật (CRPD) năm 2006 đã đánh dấu bước chuyển đổi nhận thức từ mô hình tiếp cận "nhân đạo/từ thiện" sang tiếp cận "dựa trên quyền con người". Việt Nam đã phê chuẩn CRPD vào ngày 28/11/2014, đồng thời thể chế hóa các cam kết quốc tế trong Hiến pháp năm 2013, Luật Người khuyết tật năm 2010 và các luật chuyên ngành. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng cho thấy hệ thống quy định pháp luật an sinh xã hội còn bộc lộ sự mâu thuẫn, chồng chéo; các biện pháp bảo đảm quyền chưa đầy đủ; các rào cản về thái độ định kiến, hạ tầng kỹ thuật, giao thông, giáo dục và việc làm vẫn khiến người khuyết tật chịu nhiều thiệt thòi. Luận án được triển khai nhằm giải quyết khoảng trống nghiên cứu chuyên sâu về quyền an sinh xã hội của người khuyết tật dưới góc độ khoa học pháp lý.

Mục đích nghiên cứu của đề tài là xây dựng hệ thống lý luận về quyền của người khuyết tật trong pháp luật an sinh xã hội, đánh giá thực trạng quy định và thực thi, từ đó đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi quyền của người khuyết tật trong pháp luật an sinh xã hội ở Việt Nam. Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 03 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Nghiên cứu xây dựng khái niệm, chỉ rõ đặc điểm của người khuyết tật; làm rõ khái niệm, nội dung quyền của người khuyết tật trong pháp luật an sinh xã hội và xác định các biện pháp bảo đảm quyền.
  2. Đánh giá thực trạng quyền của người khuyết tật được ghi nhận và bảo đảm trong pháp luật an sinh xã hội Việt Nam; phân tích thực tiễn thực thi kèm theo số liệu cụ thể, chỉ ra các kết quả đạt được, tồn tại, hạn chế và nguyên nhân.
  3. Đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật về ghi nhận quyền, bảo đảm quyền của người khuyết tật trong pháp luật an sinh xã hội và các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi.

Đối tượng nghiên cứu bao gồm: các vấn đề lý luận về người khuyết tật, quyền và biện pháp bảo đảm quyền của người khuyết tật trong pháp luật an sinh xã hội; pháp luật quốc tế về quyền con người và quyền của người khuyết tật; hệ thống quy định pháp luật an sinh xã hội Việt Nam; cùng các số liệu thực tiễn phản ánh quá trình thực thi quyền.

Phạm vi nghiên cứu được xác định rõ:

  • Về nội dung: Luận án tiếp cận an sinh xã hội theo nghĩa hẹp, tập trung vào 04 lĩnh vực: pháp luật về bảo vệ thu nhập; pháp luật về bảo vệ và chăm sóc sức khỏe; pháp luật về trợ giúp xã hội; và quyền bình đẳng trong tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Các nội dung khác như quyền được ăn, mặc, ở thỏa đáng hay quyền tiếp cận nước sạch không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài.
  • Về không gian: Nghiên cứu hệ thống pháp luật an sinh xã hội tại Việt Nam, có đối chiếu, so sánh với chuẩn mực pháp luật quốc tế và pháp luật một số quốc gia.
  • Về thời gian: Nghiên cứu các quy định và thực tiễn thi hành từ năm 2010 (thời điểm ban hành Luật Người khuyết tật) đến năm 2022.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tiến hành điểm luận và phân loại nguồn tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước theo 03 nhóm vấn đề chính:

Thứ nhất, nhóm nghiên cứu lý luận về người khuyết tật và quyền của người khuyết tật trong pháp luật an sinh xã hội:

  • Về khái niệm và đặc điểm người khuyết tật: Giáo trình Luật người khuyết tật Việt Nam (Trường Đại học Luật Hà Nội, 2011) tiếp cận dưới góc độ kinh tế - xã hội và dạng tật; công trình của Nguyễn Thị Báo (2008, 2011) phân tích khuyết tật dưới góc độ sinh học và xã hội; Đinh Thị Cẩm Hà (2015) và Nguyễn Thị Thuận (2013) phân tích tính tương thích của thuật ngữ trong pháp luật Việt Nam với chuẩn mực quốc tế. Về tài liệu quốc tế, Theresia Degener (2006) so sánh định nghĩa khuyết tật tại Đức với Thụy Sỹ, Áo, Hoa Kỳ, New Zealand, Ireland; Marianne Schulze (2010) và tài liệu của UN-DESA, OHCHR, IPU phân tích mô hình xã hội và rào cản môi trường theo CRPD.
  • Về nội dung quyền và an sinh xã hội: Nguyễn Thị Báo (2011) làm rõ khái niệm và đặc trưng quyền của người khuyết tật; Nguyễn Hữu Chí (2011) phân tích 9 nhánh an sinh xã hội theo Công ước 102 của ILO và 3 chế độ tại Việt Nam; Lê Thị Hoài Thu (2010), Nguyễn Hiền Phương (2008, 2016), Vũ Công Giao và Nguyễn Thùy Dương (2018) nghiên cứu nội hàm quyền an sinh xã hội tiếp cận theo nghĩa hẹp.
  • Về biện pháp bảo đảm quyền: Giáo trình của Trường Đại học Luật Hà Nội (2011) phân chia 3 biện pháp bảo đảm (kinh tế, xã hội, pháp lý); Nguyễn Thùy Dương (2019) xác định 3 nghĩa vụ của nhà nước (tôn trọng, bảo vệ, thực hiện); Gerard Quinn và Theresia Degener (2002), Arthur O'Reilly (2007), ESCAP (2015), Barbara Murray và Robert Heron (2004), Robert Heron (2006), Jurgen Menze (2015) nghiên cứu cơ chế bảo vệ nhân quyền và thúc đẩy việc làm cho người khuyết tật.

Thứ hai, nhóm nghiên cứu về thực trạng quyền của người khuyết tật trong pháp luật an sinh xã hội:

  • Về thu nhập và việc làm: Đinh Thị Cẩm Hà (2014), Hoàng Kim Khuyên (2017), Tạ Thị Thu Hường (2017), Nguyễn Ngọc Lan (2018), Trần Thái Dương (2018 - phân tích việc gia nhập Công ước 159 của ILO), Lê Thị Hoài Thu và Nguyễn Ngọc Lan (2019), Hà Thanh Hòa (2017) khảo sát chính sách lao động khuyết tật ở ASEAN và Việt Nam.
  • Về chăm sóc sức khỏe: Đỗ Thị Dung (2013) phân tích 3 chế độ (chăm sóc sức khỏe ban đầu, khám chữa bệnh, chỉnh hình phục hồi chức năng).
  • Về trợ giúp xã hội: Nguyễn Hiền Phương (2013), Hoàng Kim Khuyên (2015), Nguyễn Vân Trang (2017) chỉ ra bất cập trong đánh giá mức độ khuyết tật và định mức trợ cấp.
  • Về tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản: Lĩnh vực giáo dục được nghiên cứu bởi Nguyễn Hiền Phương (2013), Lã Khánh Tùng (2019), Nguyễn Thanh Hải (2019); tiếp cận thông tin có Trần Thái Dương (2017); giao thông, công trình công cộng và nhà chung cư được phân tích bởi Đào Thị Hằng (2013) và Nguyễn Hiền Phương (2016); hoạt động thể dục thể thao có Đỗ Thị Dung (2013). Các công trình đánh giá tổng thể và so sánh quốc tế gồm có Nguyễn Hiền Phương (2021), Phan Thị Lan Hương (2020), Đinh Thị Cẩm Hà (2011, 2012, 2015) và Nguyễn Hữu Chí (2013 - phân chia lịch sử pháp luật qua 3 giai đoạn: 1945-1985, 1986-2009 và 2010 đến nay).

Thứ ba, nhóm nghiên cứu về hoàn thiện pháp luật và giải pháp thực thi: Các công trình của Nguyễn Thị Báo (2005, 2009, 2011), Nguyễn Hiền Phương (2013, 2016), Trần Thị Thúy Lâm (2013), Hoàng Kim Khuyên (2015, 2017), Phan Thị Lan Hương (2020) đã đề xuất sửa đổi chính sách theo từng lĩnh vực riêng lẻ.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Phần lớn các công trình đã công bố chỉ tiếp cận quyền của người khuyết tật một cách đơn lẻ theo từng nhánh chính sách (việc làm, y tế, giáo dục, giao thông) hoặc nghiên cứu quyền con người nói chung. Chưa có công trình khoa học nào xây dựng một hệ thống lý luận hoàn chỉnh, đánh giá toàn diện thực trạng ghi nhận, bảo đảm và thực thi quyền của người khuyết tật trong chỉnh thể 04 lĩnh vực cốt lõi của pháp luật an sinh xã hội ở Việt Nam. Luận án đặt vị trí nghiên cứu là công trình chuyên khảo giải quyết trọn vẹn khoảng trống lý luận và thực tiễn này.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận và phương pháp luận của luận án được xây dựng trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, bao gồm phép biện chứng duy vật và phương pháp duy vật lịch sử, xem xét các hiện tượng pháp lý trong mối quan hệ hữu cơ với điều kiện kinh tế, chính trị và xã hội qua từng thời kỳ phát triển.

Khung lý thuyết và cách tiếp cận chủ đạo:

  • Tiếp cận dựa trên quyền con người (human rights-based approach): Đặt người khuyết tật ở vị trí chủ thể quyền thay vì đối tượng từ thiện thụ động; nhấn mạnh nghĩa vụ của Nhà nước trong việc tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy việc thụ hưởng quyền bình đẳng thông qua loại bỏ các rào cản xã hội.
  • Khung phân tích khái niệm khuyết tật kết hợp giữa mô hình y tế (xác định tình trạng suy giảm cấu trúc, chức năng cơ thể) và mô hình xã hội (xác định sự cản trở do tương tác với rào cản môi trường, thái độ và thể chế).
  • Khung phân tích an sinh xã hội theo nghĩa hẹp, tập trung vào 04 trụ cột: bảo vệ thu nhập, chăm sóc sức khỏe, trợ giúp xã hội và tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản.

Hệ thống phương pháp nghiên cứu định tính và phân tích pháp lý cụ thể:

  • Phương pháp hồi cứu tài liệu: Thu thập, hệ thống hóa các văn kiện quốc tế, văn bản quy phạm pháp luật và công trình nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước.
  • Phương pháp phân tích: Giải mã các khái niệm lý luận, cấu trúc quy định pháp luật hiện hành và các số liệu thực tiễn về thực thi quyền an sinh xã hội.
  • Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu quy định pháp luật Việt Nam với các chuẩn mực quốc tế (văn kiện của Liên hợp quốc, ILO) và pháp luật của các quốc gia thuộc hệ thống Civil Law (Đức, Pháp, Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan) và Common Law (Hoa Kỳ, Anh, Ấn Độ).
  • Phương pháp chứng minh: Sử dụng dữ liệu thực tế từ các báo cáo điều tra thống kê quốc gia và báo cáo ngành để kiểm chứng các lập luận và nhận định.
  • Phương pháp tổng hợp và dự báo khoa học: Đúc kết các hạn chế của quy định và dự báo xu hướng phát triển chính sách nhằm đề xuất các kiến nghị lập pháp có tính khả thi.

Nguồn tư liệu và dữ liệu nghiên cứu:

  • Văn kiện pháp luật quốc tế: Tuyên ngôn Nhân quyền năm 1948 (UDHR); các Công ước ICCPR 1966, ICESCR 1966, CEDAW 1979, CRC 1989, CRPD 2006; các Công ước 102, Công ước 159 và Khuyến nghị 99, 168 của ILO.
  • Pháp luật Việt Nam: Hiến pháp (1946, 1959, 1992, Nghị quyết 51/2001/QH10, Hiến pháp 2013); Luật Người khuyết tật năm 2010; Bộ luật Lao động; Luật Bảo hiểm xã hội; Luật Bảo hiểm y tế; Luật Việc làm; Luật Tiếp cận thông tin và các văn bản hướng dẫn thi hành.
  • Pháp luật nước ngoài: Đạo luật Người khuyết tật Hoa Kỳ (ADA 1990, sửa đổi 2008); Đạo luật Bình đẳng Anh năm 2010; Luật Quyền của Người khuyết tật Ấn Độ năm 2016; Bộ luật An sinh xã hội Đức (SGB IX); Đạo luật Bình đẳng Đức (BGG); Luật Cơ bản về người khuyết tật Nhật Bản; Luật Bảo vệ người khuyết tật Trung Quốc; Đạo luật Thúc đẩy và phát triển chất lượng cuộc sống người khuyết tật Thái Lan; Luật năm 2004 của Pháp.
  • Dữ liệu thực tiễn: Báo cáo Điều tra Quốc gia người khuyết tật năm 2016 của Tổng cục Thống kê, số liệu báo cáo của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, cùng các báo cáo của UNDP, Ngân hàng Thế giới và Tổ chức Y tế Thế giới (WHO).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài Luận án

Chương 1 thực hiện tổng thuật chi tiết toàn bộ các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài theo 03 trục nội dung: lý luận về quyền của người khuyết tật trong pháp luật an sinh xã hội; thực trạng pháp luật và thực thi tại Việt Nam; và các định hướng hoàn thiện, nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền.

Tác giả chỉ rõ sự phát triển trong nhận thức học thuật từ việc coi khuyết tật thuần túy là vấn đề y học sang nhận thức khuyết tật là vấn đề tương tác xã hội theo CRPD. Trên cơ sở phân tích những kết quả nghiên cứu đã đạt được và những điểm chưa được giải quyết thấu đáo, luận án xác định các nội dung cần tiếp tục làm rõ, thiết lập hệ thống câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu và lý thuyết tiếp cận làm kim chỉ nam cho toàn bộ công trình.

Chương 2. Những vấn đề lý luận về quyền của người khuyết tật trong pháp luật an sinh xã hội

Chương 2 tập trung xây dựng cơ sở lý luận nền tảng cho luận án. Tác giả phân tích tiến trình biến đổi của thuật ngữ: từ "handicapped", "disabled person" (người tàn tật) sang "people with disability" (người khuyết tật) trong pháp luật quốc tế và sự chuyển đổi tương ứng trong pháp luật Việt Nam (từ Điều 59 sửa đổi của Hiến pháp 1992 theo Nghị quyết 51/2001/QH10 đến Hiến pháp 2013 và Luật Người khuyết tật 2010).

Luận án đưa ra định nghĩa tổng hợp: “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết về thể chất hoặc tinh thần được biểu hiện dưới dạng tật khi tương tác với các rào cản xã hội khiến cho họ bị mất hoặc hạn chế cơ hội tham gia bình đẳng trong cuộc sống.”

Hai đặc điểm nhận diện cốt lõi của người khuyết tật được làm rõ:

  1. Khiếm khuyết về thể chất (vận động, nghe, nói, nhìn...) hoặc tinh thần (trí tuệ, nhận thức, tâm lý) phân hóa theo các mức độ (nhẹ, nặng, đặc biệt nặng).
  2. Sự suy giảm hoặc mất cơ hội tham gia bình đẳng trong đời sống xã hội do tương tác với 03 nhóm rào cản xã hội chính: rào cản về thái độ (kỳ thị, định kiến, tự ti); rào cản về nhân lực, vật lực (hạ tầng cơ sở, phương tiện, thiếu kỹ năng hỗ trợ); và rào cản về thể chế (chính sách, pháp luật thiếu tính bao trùm hoặc gián tiếp loại trừ).

Luận án xác định quyền của người khuyết tật có các đặc tính chung của quyền con người (tính phổ quát, bất khả xâm phạm, không thể chia cắt) và các đặc tính riêng biệt: phụ thuộc vào dạng tật, mức độ khuyết tật, tình trạng "tổn thương kép" (phụ nữ, trẻ em, người cao tuổi khuyết tật); và chỉ có thể thực thi đầy đủ khi chủ động xóa bỏ các rào cản xã hội.

Nội dung quyền của người khuyết tật trong pháp luật an sinh xã hội (tiếp cận theo nghĩa hẹp) được cấu thành bởi 04 nhóm quyền:

  1. Quyền được bảo vệ thu nhập (thông qua bảo hiểm xã hội, tạo việc làm phù hợp, ưu đãi sản xuất kinh doanh).
  2. Quyền được bảo vệ và chăm sóc sức khỏe (chăm sóc sức khỏe ban đầu, khám chữa bệnh, bảo hiểm y tế, chỉnh hình và phục hồi chức năng).
  3. Quyền được trợ giúp xã hội (trợ cấp xã hội hàng tháng, hỗ trợ chi phí chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội).
  4. Quyền bình đẳng trong tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản (giáo dục hòa nhập, tiếp cận thông tin, công trình công cộng, nhà chung cư, giao thông, văn hóa, thể thao, du lịch).

Hệ thống biện pháp bảo đảm quyền bao gồm 03 nhóm biện pháp tương hỗ: biện pháp xã hội, biện pháp kinh tế và biện pháp pháp lý.

Chương 3. Thực trạng quyền của người khuyết tật trong pháp luật an sinh xã hội ở Việt Nam

Chương 3 khảo sát thực trạng thể chế hóa và thực thi quyền của người khuyết tật tại Việt Nam trên cơ sở đối chiếu văn bản quy phạm pháp luật và các số liệu điều tra thực tiễn.

Số liệu so sánh về thực trạng giáo dục và việc làm của người khuyết tật tại Việt Nam (theo Điều tra Quốc gia NKT 2016):

Chỉ số thực thi quyền Nhóm người khuyết tật Nhóm người không khuyết tật Chênh lệch
Tỷ lệ đi học đúng độ tuổi cấp Tiểu học 81,69% 96,05% -14,36%
Tỷ lệ đi học đúng độ tuổi cấp THCS 67,43% 88,59% -21,16%
Tỷ lệ đi học đúng độ tuổi cấp THPT 33,56% 68,65% -35,09%
Tỷ lệ tham gia vào lực lượng lao động 32,76% 83,26% -50,50%

Về thực trạng ghi nhận quyền và biện pháp bảo đảm:

  • Kết quả đạt được: Hệ thống chính sách an sinh xã hội cho người khuyết tật từng bước được hoàn thiện; các quy định về cấp thẻ BHYT, trợ cấp xã hội thường xuyên, chính sách miễn giảm học phí và dạy nghề đã tạo lập mạng lưới an toàn xã hội hỗ trợ hàng triệu người khuyết tật.
  • Tồn tại, hạn chế:
    • Về bảo vệ thu nhập: Thiếu các chế tài nghiêm minh đối với việc làm hòa nhập; chính sách ưu đãi đối với doanh nghiệp sử dụng lao động khuyết tật chưa đủ mạnh; tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của người khuyết tật còn rất thấp (32,76%).
    • Về chăm sóc sức khỏe: Mức chi trả của BHYT cho dụng cụ chỉnh hình, phục hồi chức năng còn hạn chế; cơ sở vật chất y tế tuyến cơ sở chưa đáp ứng yêu cầu tiếp cận.
    • Về trợ giúp xã hội: Mức trợ cấp xã hội hàng tháng còn thấp so với mức sống tối thiểu; quy trình xác định dạng tật và mức độ khuyết tật tại cấp xã/phường còn nhiều bất cập, phụ thuộc cảm tính.
    • Về dịch vụ xã hội cơ bản: Rào cản hạ tầng giao thông công cộng, trường học và công trình xây dựng chưa tiếp cận; thiếu tài liệu học tập chuyên biệt (chữ Braille, ngôn ngữ ký hiệu); tỷ lệ người khuyết tật đi học cấp THPT chỉ đạt 33,56%.
  • Nguyên nhân: Nhận thức xã hội và của người sử dụng lao động còn định kiến; nguồn lực ngân sách nhà nước hạn hẹp; cơ chế phối hợp liên ngành và công tác thanh tra, giám sát thực thi pháp luật còn lỏng lẻo.

Chương 4. Kiến nghị hoàn thiện quyền của người khuyết tật trong pháp luật an sinh xã hội ở Việt Nam và giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi

Chương 4 đưa ra các yêu cầu cơ bản đối với việc hoàn thiện pháp luật: bảo đảm tính tương thích với CRPD và các tiêu chuẩn quốc tế; bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật; và phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam.

Hệ thống kiến nghị hoàn thiện pháp luật bao gồm:

  1. Hoàn thiện việc ghi nhận quyền:
    • Bổ sung nguyên tắc cấm phân biệt đối xử dựa trên tình trạng khuyết tật và nghĩa vụ cung cấp "điều chỉnh hợp lý" (reasonable accommodation) theo chuẩn mực CRPD vào Luật Người khuyết tật và các luật liên quan.
    • Sửa đổi định nghĩa và phương pháp xác định người khuyết tật theo hướng kết hợp hài hòa mô hình y tế và mô hình xã hội.
    • Hoàn thiện chế định việc làm: cụ thể hóa các điều kiện ưu đãi tài chính, thuế, mặt bằng cho doanh nghiệp tuyển dụng lao động khuyết tật; bổ sung quy định hỗ trợ người khuyết tật tham gia BHXH tự nguyện.
    • Mở rộng danh mục chi trả BHYT đối với các dịch vụ phục hồi chức năng và thiết bị trợ giúp chuyên biệt.
    • Điều chỉnh mức chuẩn trợ cấp xã hội theo hướng bảo đảm mức sống tối thiểu thực tế; hoàn thiện quy trình giám định mức độ khuyết tật.
    • Cụ thể hóa trách nhiệm bảo đảm tiếp cận trường học, thông tin, công trình công cộng và giao thông đô thị.
  2. Hoàn thiện các biện pháp bảo đảm:
    • Xây dựng cơ chế tài chính linh hoạt, phát triển Quỹ trợ giúp người khuyết tật, đa dạng hóa nguồn lực xã hội hóa.
    • Hoàn thiện hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật bắt buộc về khả năng tiếp cận trong xây dựng và giao thông.
    • Tăng cường chế tài hành chính và cơ chế tư pháp xử lý nghiêm các hành vi phân biệt đối xử hoặc vi phạm tiêu chuẩn tiếp cận.

Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi:

  • Đổi mới công tác tuyên truyền nhằm xóa bỏ định kiến xã hội, nâng cao nhận thức của cộng đồng và người sử dụng lao động.
  • Phát triển mạng lưới công tác xã hội chuyên nghiệp và đào tạo kỹ năng làm việc với người khuyết tật cho đội ngũ cán bộ công quyền.
  • Tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát liên ngành việc thực thi pháp luật an sinh xã hội.
  • Phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của các tổ chức của và vì người khuyết tật.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới chủ yếu về mặt khoa học lý luận và thực tiễn:

  1. Đóng góp về mặt lý luận:

    • Luận án xây dựng có hệ thống lý luận về quyền của người khuyết tật trong pháp luật an sinh xã hội theo nghĩa hẹp, làm rõ khái niệm, đặc điểm của người khuyết tật trên cơ sở kết hợp mô hình y tế và mô hình xã hội.
    • Làm rõ cấu trúc nội dung quyền của người khuyết tật trong 04 lĩnh vực cốt lõi (thu nhập, y tế, trợ giúp xã hội, tiếp cận dịch vụ công cơ bản) và hệ thống hóa 03 nhóm biện pháp bảo đảm (xã hội, kinh tế, pháp lý).
    • Luận giải sâu sắc bản chất "tổn thương kép" của một số nhóm đối tượng (phụ nữ, trẻ em, người cao tuổi khuyết tật) và khẳng định nguyên tắc xóa bỏ rào cản xã hội là điều kiện tiên quyết để thực thi quyền con người của người khuyết tật.
  2. Đóng góp về mặt thực tiễn và giải pháp:

    • Đánh giá toàn diện bức tranh lập pháp và thực thi chính sách an sinh xã hội đối với người khuyết tật ở Việt Nam từ năm 2010 đến năm 2022 qua việc đối chiếu với chuẩn mực quốc tế của CRPD và ILO.
    • Cung cấp luận cứ khoa học và các số liệu thực chứng chỉ rõ những khoảng trống pháp lý, sự thiếu hụt quy định "điều chỉnh hợp lý" và những rào cản thể chế cản trở người khuyết tật thụ hưởng quyền an sinh xã hội.
    • Đề xuất hệ thống giải pháp lập pháp và thực thi đồng bộ, mang tính khả thi cao nhằm sửa đổi, bổ sung Luật Người khuyết tật năm 2010, Bộ luật Lao động, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Bảo hiểm y tế và các văn bản liên quan.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về hạn chế nghiên cứu:

  • Do tiếp cận an sinh xã hội theo nghĩa hẹp, luận án chưa nghiên cứu các khía cạnh an sinh mở rộng như quyền được bảo đảm về ăn, mặc, nhà ở thỏa đáng và quyền tiếp cận nguồn nước sạch của người khuyết tật.
  • Khảo sát thực trạng quy định và số liệu thực thi giới hạn chủ yếu trong mốc thời gian từ năm 2010 (khi Luật Người khuyết tật được ban hành) đến năm 2022.

Hướng nghiên cứu tiếp được gợi mở:

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu quyền an sinh xã hội của người khuyết tật theo nghĩa rộng gắn với các mục tiêu phát triển bền vững (SDGs).
  • Đi sâu nghiên cứu chuyên biệt về bảo đảm quyền an sinh xã hội cho các nhóm chịu "tổn thương kép" (như phụ nữ khuyết tật, trẻ em khuyết tật vùng đồng bào dân tộc thiểu số).
  • Nghiên cứu tác động của chuyển đổi số, công nghệ hỗ trợ và trí tuệ nhân tạo đối với việc nâng cao khả năng tiếp cận các dịch vụ an sinh xã hội của người khuyết tật tại Việt Nam.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và lập pháp: Hữu ích cho Ủy ban Xã hội của Quốc hội, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế, Bộ Xây dựng, Bộ Giao thông Vận tải trong việc rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật Người khuyết tật năm 2010, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Việc làm và các quy chuẩn kỹ thuật tiếp cận quốc gia.
  • Cơ sở đào tạo và nghiên cứu: Là nguồn tài liệu giảng dạy, học tập chuyên sâu cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Luật kinh tế, Luật an sinh xã hội, Luật quyền con người.
  • Các tổ chức xã hội và tổ chức của/vì người khuyết tật: Cung cấp cơ sở lý luận và bằng chứng thực tiễn phục vụ hoạt động giám sát, tư vấn pháp lý, trợ giúp xã hội và vận động chính sách bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho người khuyết tật.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án tiếp cận khái niệm an sinh xã hội và xác định nội dung quyền của người khuyết tật theo phạm vi nào?
Luận án tiếp cận an sinh xã hội theo nghĩa hẹp, tập trung vào 04 lĩnh vực quyền cốt lõi: (1) Quyền được bảo vệ thu nhập; (2) Quyền được bảo vệ và chăm sóc sức khỏe; (3) Quyền được trợ giúp xã hội; và (4) Quyền bình đẳng trong tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Các khía cạnh an sinh xã hội theo nghĩa rộng như bảo đảm ăn, mặc, ở thỏa đáng và nước sạch không thuộc phạm vi nghiên cứu.

2. Khái niệm người khuyết tật được luận án xây dựng trên cơ sở lý thuyết nào?
Luận án xây dựng khái niệm người khuyết tật dựa trên sự kết hợp hài hòa giữa mô hình y tế và mô hình xã hội: Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết về thể chất hoặc tinh thần biểu hiện dưới dạng tật, khi tương tác với các rào cản xã hội sẽ làm mất đi hoặc hạn chế cơ hội tham gia bình đẳng trong đời sống xã hội.

3. Số liệu thực tế trong luận án phản ánh khoảng cách thực thi quyền giáo dục và việc làm của người khuyết tật so với người không khuyết tật ra sao?
Theo Điều tra Quốc gia người khuyết tật năm 2016 được trích dẫn trong luận án, tỷ lệ đi học đúng độ tuổi của người khuyết tật giảm dần qua các cấp học: Tiểu học là 81,69% (so với 96,05% ở người không khuyết tật), THCS là 67,43% (so với 88,59%), và THPT chỉ đạt 33,56% (so với 68,65%). Tỷ lệ người khuyết tật tham gia vào lực lượng lao động chỉ đạt 32,76%, thấp hơn rất nhiều so với mức 83,26% của người không khuyết tật.

4. Luận án phân loại các rào cản xã hội cản trở người khuyết tật thành những nhóm nào?
Luận án chỉ ra 03 nhóm rào cản xã hội chính gồm: (1) Rào cản về thái độ (định kiến, kỳ thị từ xã hội, gia đình và sự tự ti của bản thân người khuyết tật); (2) Rào cản về nhân lực, vật lực (hạ tầng công trình, giao thông, phương tiện chưa tương thích và thiếu nhân lực có kỹ năng hỗ trợ); (3) Rào cản về thể chế (chính sách, pháp luật thiếu quy chuẩn bao trùm hoặc gián tiếp loại trừ nhu cầu đặc thù của người khuyết tật).

5. Luận án xác định các nhóm biện pháp nào để bảo đảm quyền của người khuyết tật trong pháp luật an sinh xã hội?
Luận án xác định hệ thống 03 nhóm biện pháp bảo đảm gồm: (1) Biện pháp xã hội (tuyên truyền, xóa bỏ định kiến, nâng cao nhận thức, đào tạo kỹ năng hỗ trợ); (2) Biện pháp kinh tế (bố trí ngân sách nhà nước, thành lập các quỹ trợ giúp, cơ chế ưu đãi tài chính - thuế cho cơ sở sử dụng lao động khuyết tật); và (3) Biện pháp pháp lý (hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật, quy định trách nhiệm rõ ràng, bổ sung chế tài xử lý vi phạm và thiết lập cơ chế giám sát thực thi).

Kết luận

Luận án tiến sĩ "Quyền của người khuyết tật trong pháp luật an sinh xã hội ở Việt Nam" của tác giả Nguyễn Thị Thu Hường là công trình nghiên cứu khoa học pháp lý chuyên khảo, giải quyết một cách có hệ thống cả phương diện lý luận và thực tiễn về bảo đảm quyền an sinh xã hội của người khuyết tật theo chuẩn mực quyền con người. Bằng phương pháp tiếp cận đa chiều và nguồn dữ liệu thực chứng tin cậy, luận án đã làm rõ cấu trúc 04 nhóm quyền an sinh xã hội theo nghĩa hẹp, chỉ ra các rào cản thể chế, hạ tầng và xã hội đang hạn chế khả năng thụ hưởng quyền của người khuyết tật. Hệ thống kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp thực thi do luận án đề xuất có giá trị khoa học và thực tiễn sâu sắc, cung cấp luận cứ hữu ích phục vụ quá trình cải cách lập pháp và nâng cao hiệu quả thực thi chính sách an sinh xã hội tại Việt Nam.