Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ ĐỀ TÀI LUẬN ÁN Vào thế kỷ XIX, thiết chế Hội đồng (bulê) - tiền thân của Nguyên lão nghị viện sau này - đề cập trong tác phẩm kinh điển của C.281-282], là một trong những vấn đề ở xã hội bấy giờ, để hình thành quan điểm lý luận về xây dựng một nhà nước dân chủ thuộc về Nhân dân. Những năm đầu thế kỷ XX, trong một số tác phẩm của V. Lênin, “Hội đồng địa phương” cũng là một trong những luận chứng, luận cứ về thực trạng của xã hội Nga dưới thời nhà nước đế quốc [51, tr. Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, năm 1945, sau khi dân tộc Việt Nam giành được chính quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo xây dựng một nhà nước dân chủ cộng hòa, quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân; thuật ngữ Người thường dùng là “ủy thác”, “giao quyền”, để khẳng định quyền lực nhà nước có được từ Nhân dân trao cho; Người khẳng định nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, vì thế Chính phủ do dân bầu, dân là chủ, Chính phủ là “đày tớ chung của dân”, mối quan hệ giữa Chính phủ với Nhân dân là mối quan hệ biện chứng, hữu cơ: “nếu không có dân thì Chính phủ không đủ lực lượng; nếu không có Chính phủ, thì Nhân dân không ai dẫn đường; vậy nên Chính phủ với Nhân dân phải đoàn kết thành một khối”; thiết chế dân chủ đại diện ở CQĐP là HĐND, được tổ chức ở các địa phương với mỗi thôn, mỗi huyện có một HĐND, do Nhân dân địa phương bầu ra; HĐND bầu ra một UB chấp hành, phụ trách công việc của địa phương đó [45, tr.
Bản Hiến pháp đầu tiên, năm 1946, của nhà nước Việt Nam ra đời dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Người, trong đó tại Điều 1 khẳng định Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa, tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể Nhân dân, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo; HĐND và UBHC được quy định tại chương 5, gồm 6 điều (từ Điều 57 đến Điều 62). Lịch sử xã hội cho thấy rất rõ những vấn đề liên quan đến dân chủ Nhân dân, thiết chế dân chủ đại diện trong quản trị quốc gia đã được gắn kết, hình thành để xây dựng 10 một nhà nước kiểu mới từ rất lâu. Thời đại ngày nay, thực hiện quyền lực nhà nước, CQĐP, thực hiện quyền lực nhà nước của CQĐP, CQĐT và thiết chế dân chủ đại diện gồm HĐND, tiếp tục là những nội dung cơ bản được nghiên cứu sâu hơn từ nhiều góc độ, phương diện, khía cạnh khác nhau của các ngành khoa học chính trị học, triết học, luật học, hành chính học, quản trị công, kinh tế học ở cả ngoài nước và trong nước. Có rất nhiều sách, bài viết, công trình nghiên cứu luận án về những nội dung này.
Trong khuôn khổ luận án và với phạm vi của đề tài nghiên cứu, phần trình bày dưới đây là những tóm lược một số kết quả nghiên cứu của một số công trình tiêu biểu được tổng quan, mà có nội dung sát nhất với đề tài luận án. Từ đó có thể đưa ra nhận xét về những vấn đề đã được làm rõ và những kết quả có thể kế thừa; đồng thời cũng có thể xác định những vấn đề chưa được nghiên cứu, giải quyết cũng như những vấn đề mà luận án cần nghiên cứu. Những vấn đề đã được làm rõ và những kết quả có thể kế thừa trong các công trình nghiên cứu được tổng quan 1. Nhóm công trình nghiên cứu về thực hiện quyền lực nhà nước Ngày nay quyền lực nhà nước, ở phương diện tính hiệu quả trong thực tiễn vận hành của hệ thống chính trị và hệ thống nhà nước các quốc gia, là đề tài đang được bàn luận; việc tìm kiếm giải pháp phù hợp, để tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước hiệu quả, luôn là một trong những chủ đề được lựa chọn của nhiều nhà nghiên cứu khoa học chính trị, khoa học xã hội ngoài nước và trong nước.
Những công trình ngoài nước Mặc dù không phải là một công trình ngoài nước, nhưng quyền lực nhà nước và thực hiện quyền lực nhà nước được nghiên cứu qua tác phẩm kinh điển của Lênin, đó là bài “Vấn đề quyền lực chính trị và thực thi quyền lực chính trị trong một số tác phẩm của V. Lênin”, của TS. Lê Thị Thục, đăng trên Tạp chí điện tử Cộng sản ngày 20/4/2012, trong chuyên mục Nghiên cứu-Trao đổi. Nội dung đề cập trong bài viết cho thấy quan điểm của C.
Mác, về bản chất của quyền lực nhà nước và thực hiện quyền lực nhà nước, là hình thức thực thi quyền lực chính trị đặc biệt của một chế độ chính trị và nhà nước. Thực hiện quyền lực nhà nước của Nhân dân có thể được bắt 11 đầu từ việc đánh giá hình thức ban đầu của nó, là Công xã Pari ở Pháp năm 1870, rồi sau đó là chính quyền Xô Viết ở nước Nga. Đó là minh chứng về bản chất con đường hình thành quyền lực của giai cấp vô sản và Nhân dân lao động [131]. Ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, một số đề xuất giải pháp, về thực hiện quyền lực nhà nước của Nhân dân lao động phù hợp với điều kiện và xu thế hiện nay, đã được nghiên cứu ở góc độ chính trị học như Luận án Tiến sĩ Chính trị học “Xây dựng nhà nước bảo đảm quyền lực của Nhân dân lao động ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào trong giai đoạn hiện nay”, của tác giả En Sô La Thi, bảo vệ thành công năm 2000, với quan điểm đề xuất giải pháp là xây dựng bảo đảm quyền lực của Nhân dân lao động cần thiết phải xác định rõ các điều kiện nhất định [17].
Hay Luận án Tiến sĩ Chính trị học “Quyền lực nhà nước trong điều kiện kinh tế thị trường ở Cộng hòa Nhân dân Lào hiện nay”, của tác giả Khăm Phết Bun Thắt Pha Xúc, bảo vệ thành công năm 2003, đề xuất một số giải pháp để tăng cường quyền lực nhà nước Cộng hòa Nhân dân Lào trong điều kiện chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường [67]. Những công trình trong nước Những nội dung về khái niệm, nguồn gốc, bản chất, nguyên tắc thực hiện, cấu trúc tổ chức, cách thức vận hành, giám sát, cơ chế giám sát và kiểm soát quyền lực nhà nước được nghiên cứu, luận giải, phân tích làm sáng tỏ và khái quát hóa trong nhiều cuốn sách, bài báo, công trình nghiên cứu luận án của nhiều tác giả, nhà khoa học nước ta như sách chuyên khảo “Xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong giai đoạn hiện nay - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của GS. Đào Trí Úc và PGS. Phạm Hữu Nghị đồng chủ biên, Nxb.
Từ điển Bách khoa Hà Nội, Hà Nội-2009, qua phân tích về đặc trưng xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, các tác giả đã đưa ra quan điểm cần thiết xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, phải bảo đảm sự giám sát đối với thực thi quyền lực nhà nước ở Việt Nam [57]. Bài “Bàn về vấn đề tổ chức quyền lực nhà nước” của PGS. Vũ Thư, đăng trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 7 (351)/2017, tác giả đã luận giải rằng việc luôn diễn ra sự giành, nắm giữ hoặc có thể tác động đến quyền lực nhà nước của các giai cấp, tầng lớp xã hội là do vai trò tiên quyết trong “định đoạt, chi phối những vấn 12 đề cơ bản, quan trọng liên quan đến đường hướng vận động, phát triển xã hội, các quy tắc và hoạt động của các cá nhân, tổ chức trong đời sống xã hội”. Quyền lực nhà nước có quan hệ chặt chẽ với pháp luật và quyền con người.
Trong tổ chức quyền lực nhà nước trên thế giới, cho đến nay có hai nguyên tắc cơ bản: phân quyền và tập quyền, từ đó hình thành cấu trúc quyền lực nhà nước từ trung ương đến địa phương theo cả chiều ngang và chiều dọc tương ứng với hai nguyên tắc này. Tổ chức quyền lực nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đầu tiên là theo thuyết phân quyền và nhà nước pháp quyền, dần được điều chỉnh phù hợp với thực tiễn qua các bản Hiến pháp từ năm 1946 đến năm 2013. “Quyền lực nhà nước trong bộ máy nhà nước theo cả chiều ngang và chiều dọc, thống nhất trong tư duy theo trục “tập trung dân chủ” được xác lập trong luật khẳng định một điều nguyên tắc “quyền lực nhà nước là thống nhất” không chỉ là “sự thống nhất là vào Nhân dân, bởi Nhân dân là nguồn gốc của quyền lực chính trị” mà còn thể hiện sự khác biệt “nguyên tắc tập quyền trong tồ chức quyền lực nhà nước của Việt Nam với nguyên tắc phân quyền trong tổ chức bộ máy nhà nước khác”; trong bộ máy nhà nước Việt Nam, cơ quan nhà nước dù được phân công, phân nhiệm thì vẫn là một khối thống nhất trong thực hiện quyền lực nhà nước từ trung ương đến các địa phương [100, tr. Bài “Tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước trong Hiến pháp” của PGS.
Lương Thanh Cường, đăng tại Tạp chí Quản lý Nhà nước số 224 (9/2014), trên quan điểm Hiến pháp 2013 đã có những phát triển về chất trong thiết lập một mô hình tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước phù hợp với điều kiện Việt Nam, luận cứ của tác giả là những quy định được hoàn thiện dần từng bước qua các bản Hiến pháp từ năm 1946: (i) Để khẳng định Nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân, mà qua Hiến pháp Nhân dân chuyển giao một phần quyền lực của mình cho các cơ quan nhà nước, để các cơ quan nhà nước thay mặt Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước, nhưng không có nghĩa sau khi Quốc hội được Nhân dân chuyển giao một phần quyền lực thì lại đem quyền lực đó chuyển giao một phần (trong số quyền lực được Nhân dân trao) cho các cơ quan nhà nước khác; bên cạnh đó, Hiến pháp 2013 giao thêm cho MTTQ Việt Nam việc “phản 13 biện xã hội” là cơ sở quan trọng để không chỉ góp phần thực hành một nền dân chủ XHCN rộng mở, mà còn tạo thêm một hình thức để Nhân dân thực hiện quyền lực của mình trong vai trò là thành viên của các tổ chức xã hội.