CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu ở nước ngoài Những công trình nghiên cứu trong các tác phẩm kinh điển của Chủ nghĩa Mác - Lênin đều khẳng định quan hệ lao động (QHLĐ) trong các doanh nghiệp kinh tế tư bản chủ nghĩa đều mang bản chất bóc lột giá trị thặng dư đối với người lao động (NLĐ) làm thuê tạo ra, mặc dù bên ngoài có thể hiện dưới những hình thức nào, che dấu như hình thức lợi nhuận, hình thức tiền lương. Vẻ bên ngoài của tiền lương tư bản chủ nghĩa thể hiện như là một quan hệ bình đẳng, NLĐ sau khi làm việc cho nhà tư bản sẽ được nhận tiền lương, nên số tiền lương đó được trả theo kết quả lao động của NLĐ đó, còn lợi nhuận được quan niệm là kết quả sinh lợi của lượng tư bản ứng trước của chủ tư bản chứ không phải là kết quả bóc lột giá trị thặng dư do lao động không công của NLĐ làm thuê tạo ra.
Trong công trình của Mác-Ăngghen “Tình cảnh của giai cấp công nhân Anh” (Mác- Ăngghen toàn tập - tập 12 của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia) đã chỉ rõ: Giai cấp công nhân hoàn toàn đúng nếu không mong được giúp đỡ về bất cứ hình thức nào. Lợi ích của nhà tư bản hoàn toàn đối lập với lợi ích của giai cấp công nhân, mặc dù họ luôn cố gắng chứng minh ngược lại và thuyết phục giai cấp công nhân rằng họ đồng cảm với số phận của giai cấp công nhân. Tuy nhiên, hành động của họ đã bác bỏ lời nói của họ. Trên thực tế, họ không có mục đích nào khác ngoài việc làm giàu bằng sức lao động của giai cấp công nhân miễn là họ có thể bán sản phẩm của sức lao động đó (chẳng hạn như buôn bán người gián tiếp).
Ngay khi họ không thể kiếm được lợi nhuận nữa, họ sẽ bỏ đói giai cấp công nhân. Nghiên cứu của Timothy Besley Robin Burgess (2008), với công trình "Labor Regulation Hinder Economic Performance? Evidence from India". Tập trung vào phân tích QHLĐ trong ở các bang của Ấn Độ đã chỉ rõ QHLĐ có ảnh hưởng như thế nào đến mô hình tăng trưởng giai đoạn 2005-2015. Các vấn đề về tranh chấp lao động giữa chủ và người lao động có liên quan đến sự gia tăng nghèo đói ở thành thị.
Điều này cho thấy nỗ lực điều chỉnh sự mất cân bằng quyền lực giữa chủ sở hữu vốn và người lao động có thể gây hại cho người nghèo. Nghiên cứu của Khondoker Abdul Mottaleb và Kaliappa Kalirajan (2010) với công trình “Determinants of foreign direct investment in developing countries: A comparative 8 analysis” đã phân tích, so sánh và chỉ ra rằng việc thu hẹp khoảng cách giữa tiết kiệm quốc gia và đầu tư tận dụng công nghệ và kỹ năng quản lý mới nhất. Đầu tư trực tiếp nước ngoài từ các nước phát triển có thể đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh chóng ở các nước đang phát triển. Các quốc gia đang phát triển không được xem là nơi thuận lợi cho FDI, vì phần lớn các quốc gia đang phát triển như Ấn Độ, Trung Quốc, Sudan, Nigeria đại diện cho phần lớn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Mặt khác, dữ liệu từ 68 quốc gia đang phát triển có thu nhập thấp và trung bình thấp, bài viết này cố gắng xác định các yếu tố quyết định dòng vốn FDI vào các nước đang phát triển. đã được sử dụng. Phát triển thu nhập thấp và trung bình, xác định các yếu tố quyết định dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở các nước đang phát triển. Dựa trên một cuộc tranh luận so sánh tập trung vào lý do tại sao một số quốc gia thành công trong việc thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, trong khi các quốc gia có GDP cao hơn, tốc độ tăng trưởng GDP cao hơn, thương mại quốc tế lớn hơn và môi trường kinh doanh thân thiện hơn lại thành công hơn trong việc thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Behzad Azarhoushang (2013), với công trình nghiên cứu “The effects of FDI on China’s economic development; case of Volkswagen in China”, về nội dung, tác giả trình bày khái quát về tình hình FDI vào Trung Quốc bằng ví dụ về tập đoàn ô tô Volkswagen. Ông xác định ảnh hưởng của vốn FDI đối với tất cả các khía cạnh của nềnkinh tế Trung Quốc như: Tình hình xuất khẩu, tiền lương, lao động, sản xuất. Nguồn nhânlực chất lượng cao, khả năng cạnh tranh của các công ty có vốn FDI với các công ty quốcgia về thu nhận nguồn nhân lực, và sự mất cân đối trong tiền lương trả cho 3 nhóm lao động: lao động phổ thông, công nhân bán chuyên và công nhân lành nghề. Công trình nghiên cứu của Layna Mosley (2010) về " Labor rights and multinational production" tập trung nghiên cứu mối QHLĐ trong các tập đoàn đa quốc gia, những tranh cãi về "cuộc đua xuống đáy”, cạnh tranh toàn cầu làm giảm đi sự bảo vệ đối với hầu hết NLĐ ở các nước đang phát triển.
Tác giả đã thực hiện một nghiên cứu xuyên quốc gia về quyền của người lao động tập thể, đầu tư trực tiếp nước ngoài và thương mại. Tác giả đã xây dựng một cơ sở dữ liệu toàn diện mới về vi phạm quyền lao động ở các nước đang phát triển. Nội dung của cơ sở dữ liệu tập trung vào lợi ích tập thể, bao gồm cơ hội công đoàn, thương lượng tập thể, tổ chức đình công và các quyền hợp pháp. Dữ liệu dựa trên 90 quốc gia trong giai đoạn 1985-2002 và dựa trên ba nguồn: Báo cáo Nhân quyền Quốc gia; 9 Báo cáo của Ủy ban chuyên gia về việc áp dụng loại hình công ước và các khuyến nghị của Tổ chức Lao động Quốc tế; Khảo sát về các vi phạm của Tổ chức Thương mại Tự do Quốc tế.
Hamermesh và các cộng sự (2014), với công trình nghiên cứu “Does labor legislation benefit workers?” đã chỉ rõ, trong nền kinh tế xã hội của Nhật Bản và Hàn Quốc, để tăng năng suất lao động (NLĐ) đòi hỏi người lao động phải hăng say làm việc, tăng ca, làm thêm giờ là tình trạng phổ biến,điều này làm NLĐ không có thời gian nghỉ ngơi, thời gian dành cho gia đình cũng như chính bản thân mình. Nhóm tác giả nghiên cứu về sự không hài lòng với cuộc sống của NLĐ khi phải đối mặt với việc tăng ca. Trong một mô hình hộ gia đình Hàn Quốc được tính dựa trên phương pháp thu thập dữ liệu, kết quả cho thấy việc giảm bớt thời gian làm việc của người chồng đã làm tăng hạnh phúc của vợ anh ta. Những kết quả này nhất quán với tuyên bố rằng việc cắt giảm giờ làm việc theo qui định có thể làm tăng lợi íchcủa người lao động.
Tóm lại, nghiên cứu này cho thấy việc quy định giảm giờ lao động của công nhân sẽ mang lại lợi ích cũng như sựhài lòng hơn cho NLĐ. Carmen Boghean và cộng sự (2015) với công trình nghiên cứu “The relation between foreign direct investments (FDI) and labour productivity in the European Union countries”. Công trình đi sâu vào nghiên cứu tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với các nền kinh tế của các nước chủ nhà chủ yếu liên quan đến sự gia tăng năng suất lao động thông qua chuyển giao công nghệ, quản lý và trình độ tiếp thị cho phép tiến bộ công nghệ lâu dài và thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế. Khi sự tăng trưởng định lượng của các yếu tố sản xuất khó đạt được thông qua các biện pháp của các nhà hoạch định, các quốc gia có thể cố gắng tăng mức độ cao.
Sự phát triển của việc thực hiện các kỹ năng quản lý theo các tiêu chuẩn do các hệ thống hàng đầu của công ty lớn áp đặt, mức tăng của trình độ đào tạo dân số và khả năng thích ứng với sự phát triển công nghệ có thể góp phần làm tăng chất lượng nguồn lao động. Trong bài viết này, các tác giả đã phân tích mối quan hệ giữa những doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài và năng suất lao động trong các quốc gia thuộc Liên minh Châu Âu. Nhóm tác giả đã dựa trên dữ liệu được truy xuất từ trang web Eurostat giai đoạn 2000- 2012. Dữ liệu đã đượcxử lý bằng chương trình máy tính SPSS, thông qua phương thức tương quan.
Kết quả nghiên cứu cho thấy những quốc gia thu hút nhiều doanh nghiệp FDI sẽ chú ý hơn về xây dựng QHLĐ hài hòa, khi NLĐ có những đãi ngộ tốt sẽ là động lực để họ tăng năng suất lao 10 động. Tác giả Eladio Daya, chuyên gia Ban quan hệ lao động của ILO (2014), đã có công trình nghiên cứu “Procedures for mediation and arbitration of labor disputes”, đề tài xem xét biện pháp bảo đảm quyền của NLĐ khi xảy ra tranh chấp lao động qua hai phương thức giải quyết tranh chấp lao động là hòa giải và trọng tài. Tác giả chỉ ra những ưu điểm và những hạn chế của hai phương thức này, gắn với đối tượng nghiên cứu là các QHLĐ tại những nước có nền công nghiệp phát triển lâu đời trên thế giới. Công trình tập trung nghiên cứu vấn đề hòa giải và trọng tài trong giải quyết tranh chấp về quan hệ lao động trong các doanh nghiệp, mà chưa quan tâm đến việc giải quyết tranh chấp tại tòa án, chẳng hạn, nếu các vụ tranh chấp hòa giải hoặc trọng tài không có kết quả thì các bên có quyền yêu cầu tòa án giải quyết không? Tác giả Omar Manky (2020), có công trình nghiên cứu “The end of mining labor struggles? The changing dynamics of labor in Latin America”.
Đề tài nghiên cứu sâu về những tranh chấp lao động, cụ thể là hình thức đấu tranh lao động đang nổi lên trong ngành khai thác mỏ toàn cầu với phạm vi nghiên cứu tại Chile và Peru. Ở Chile, người lao động đã hướng tới các công ty đa quốc gia, trong khi ở Peru, họ ưu tiên quan hệ đối tác với những doanh nghiệp trong địa phương. Đặc biệt, công trình đã tìm hiểu rất sâu về nguyên nhân, và thực trạng của tranh chấp lao động, từ tình hình kinh tế - chính trị cho đến phân tích kỹ về các tầng lớp người dân cũng như lối sống, văn hóa của họ, cách người lao động hai quốc gia nhìn nhận về doanh nghiệp FDI. Từ đó, tác giả đưa ra những phương pháp cụ thể để giải quyết tranh chấp lao động tại Chile và Peru.
Rana Hasan và các cộng sự (2020) với công trình nghiên cứu “The Effects of Labor Regulation on Firms and Exports: Evidence from Indian Apparel Manufacturing”.