phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và danh mục ngu n ngữ liệu, nội dung chính của luận án đƣợc trình bày trong 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ s lí luận (g m 37 trang) Chƣơng 2: Khái quát về v từ ba diễn tố và phát ngôn có v từ ba diễn tố trong tiếng Việt (g m 34 trang) Chƣơng 3: Các thành tố trong cấu trúc ngh a miêu t của phát ngôn có v từ ba diễn tố trong tiếng Việt (g m 35 trang) Chƣơng 4: Sự hiện thực hóa cấu trúc ngữ pháp và ngữ ngh a của v từ ba diễn tố trong phát ngôn tiếng Việt (g m 34 trang) 7 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN Ở chƣơng 1, chúng tôi trình bày hai nội dung cơ bản: (1) Điể lại những công tr nh v những th nh tựu liên quan đến luận án) v (2) Tr nh b y những nội dung l thuyết l tiền đề để giải quyết các vấn đề đƣợc đặt ra trong luận án. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Lịch sử nghiên cứu câu trên ba bình diện Câu l ột đơn vị đƣợc nghiên cứu từ há sớ - từ thời cổ đại cách đây 2000 nă hơi ngu n l Aristotle. Mặc dù đ đƣợc nhiều huynh hƣớng, trƣờng phái ngôn ngữ học trên thế giới nghiên cứu nhƣng chỉ đến hi ngữ pháp chức năng với l thuyết ba b nh diện soi sáng th câu ới đƣợc xe x t ột cách to n diện, sâu sắc v th a đáng.
Xuất phát từ l luận về t n hiệu học của C. Morris, câu bắt đầu đƣợc nghiên cứu trên ba b nh diện: ết học, nghĩa học v dụng học. - Kết học (Syntactics): nghiên cứu t n hiệu trong ối quan hệ với các t n hiệu hác. - Nghĩa học (Semantics): nghiên cứu mối quan hệ giữa tín hiệu với hiện thực bên ngoài mà tín hiệu biểu thị.
Theo quan điểm của ngữ pháp chức năng, câu với tƣ cách l ột loại tín hiệu, cũng cần đƣợc xem xét từ ba bình diện là kết học, nghĩa học và dụng học. “Câu chính là đơn v nhỏ nhất của ngôn từ trong đ c ba bình diện đều được th hiện” [46, tr. Đây l sự khác biệt rất lớn so với quan niệm của ngữ pháp truyền thống vốn chỉ xe xét câu ở phƣơng diện cú pháp (ngữ pháp hình thức) chƣa quan tâ tới b nh diện nghĩa v b nh diện sử dụng. Cho nên, có thể coi thành tựu lớn nhất của ngữ pháp chức năng l đ phân giới đƣợc ba bình diện khác nhau: bình diện kết học (cấu trúc hình thức của câu), bình diện nghĩa học (nghĩa của câu), bình diện dụng học (phƣơng diện sử dụng câu).
Giữa ba bình diện này, vừa có t nh độc lập, vừa có mối quan hệ hăng khít với nhau nhƣ Cao Xuân Hạo nhận xét “Các bình diện ấy tồn tại vì nhau và nhờ có nhau, cho nên không th hi u thấu đáo bất cứ bình diện nào nếu không liên hệ với hai bình diện kia, và nhiệm vụ của ngữ pháp chức năng là xác minh mối quan hệ giữa c ba bình diện” [46, tr. Lịch sử nghiên cứu câu trên bình diện ngữ nghĩa B nh diện ngữ nghĩa, đặc biệt l nghĩa biểu hiện, đƣợc các nh hoa học quan tâ nghiên cứu từ há sớ. Trên thế giới, việc nghiên cứu câu trên phƣơng diện nghĩa bắt đầu từ những luận đề chính yếu của L.Tesnière về cấu trúc tham tố của câu. Cấu trúc n y đƣợc ông xây dựng vào những nă 30 của thế kỉ XX với tên gọi Lí thuyết diễn tr (valence).
Quan niệm của L.Tesnière là một bƣớc tiến đáng ể trong cố gắng tách ngôn ngữ học ra kh i ảnh hƣởng của logic học v đặt nền óng cho ngữ nghĩa học của cú pháp. Bởi ngữ pháp truyền thống, do chịu ảnh hƣởng của chủ nghĩa duy l nên đ chủ trƣơng phân t ch câu theo cấu trúc của mệnh đề, g m hai thành phần chính là chủ ngữ và vị ngữ, tƣơng đƣơng với chủ thể (S) và vị thể (P) của mệnh đề. Trong hi đó, đối với Tesnière, ngữ pháp là vấn đề của ngôn ngữ chứ không phải là của logic. Theo ông, “cấu trúc cú pháp của câu xoay quanh v từ và các diễn tố (actants) làm bổ ngữ cho nó.
Chủ ngữ chẳng qua là một trong các bổ ngữ đ. Mỗi v từ bi u hiện “một màn k ch nhỏ”, n c một diễn tr (valence) riêng được th hiện trong số lượng các diễn tố của nó” [D n theo 46, tr. Nhƣ vậy, theo quan điểm của Tesnière thì “khái niệm chủ ngữ trong quan niệm của ngữ pháp truyền thống đã b hạ cấp: chủ ngữ không còn đ ng vai trò là một trong hai thành phần trung tâm của câu nữa, mà chỉ đ ng vai trò tương đương với các bổ ngữ” [55, tr. Tức là, cả chủ ngữ và bổ ngữ đều là các diễn tố của vị từ vị ngữ và chịu sự quy định của vị từ vị ngữ.
Với lí thuyết n y, ông đ gợi ra một giải pháp nghĩa học độc lập cho việc phân tích câu và do đó, có thể xe Tesnière l ngƣời đ đặt nền óng cho nghĩa học của cú pháp. Tiếp tục nghiên cứu về vấn đề này, C. Ông gọi cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu l cấu trúc cơ sở. V ông quan niệ r ng câu bao g ột động từ v ột hay nhiều danh ngữ, i danh ngữ liên hệ với động từ theo ột quan hệ cách cụ thể v i quan hệ cách chỉ xuất hiện ột lần trong câu đơn.
Nhƣ vậy, Fill ore cũng l ột trong những nhà ngôn ngữ học đầu tiên quan tâm tới cấu trúc nghĩa của câu và coi cấu trúc nghĩa biểu hiện là yếu tố quyết định tới cấu trúc cú pháp của câu. Quan điểm của Chafe (1970) về cấu trúc nghĩa của câu cũng tƣơng tự nhƣ Fill ore. Chafe cũng coi trung tâm của câu l động từ, quanh nó là các tham thể thể hiện các đối tƣợng khác nhau mà nó chi phối thông qua các quan hệ nghĩa hác nhau. Lyons (1978) lại đƣa ra ột danh sách lƣợc đ câu (cấu trúc hạt nhân) mà ông thấy có thể phát hiện, trên cơ sở thuần túy ngữ pháp, trong một số rất lớn các ngôn ngữ không có quan hệ thân thuộc gì với nhau, bao g m các yếu tố vị từ, danh từ và tính từ.
Còn theo quan điểm của J. 9 Lyons (1978), “một cấu trúc chủ - v hạt nhân (nuclear predication) xét toàn bộ bi u th một sự tình (state of affairs) được xác đ nh b i cái thuộc tính hay mối quan hệ do v ngữ bi u th liên kết các thực th do các danh tố bi u th ” [46, tr. Một tác giả khác, C. Hagège (1982), cho r ng không thể phân loại câu theo tiêu chuẩn hình thức cú pháp chủ - vị v ông đƣa ra lƣợc đ một bên là sự tình, một bên là tham tố.
Halliday (1985) đ trở thành nhà ngôn ngữ học ngƣời Anh nổi tiếng thế giới v đ xây dựng đƣợc lí thuyết chức năng hệ thống, một lí thuyết đ thu hút sự quan tâ đáng ể và có tầm ảnh hƣởng lớn đến nhiều nhà ngôn ngữ học trên thế giới, trong đó có các nhà ngôn ngữ học ở Việt Nam. Ông gọi bình diện nghĩa b ng thuật ngữ ch nh xác hơn là bình diện biểu hiện (representation) “tức là cái phần nằm trong nội dung ngh a được coi là ph n ánh một sự tình được rút ra từ cái thế giới được miêu t , bên cạnh những bình diện nội dung khác của câu khi n được xem xét như một thông điệp” [46, tr. Theo ông, “xét trên bình diện bi u hiện, câu diễn đạt một quá trình (process), được c m thụ như một th trọn vẹn, nhưng khi bi u hiện nó trong lời nói, ta lại phân tích nó thành một mô hình ngh a (semantic configuration) gồm có ba yếu tố: b n thân quá trình, các tham tố (participants) trong quá trình, và cái hoàn c nh (cirumstances) có liên hệ với quá trình” [46, tr. Ở Việt Nam, các nhà ngôn ngữ học đ tiếp thu chọn lọc những thành tựu nghiên cứu về bình diện nghĩa của các nhà ngôn ngữ học trên thế giới.
Tiêu biểu là tác giả Cao Xuân Hạo (1991), theo ông nghĩa của câu hông đơn giản là phép cộng nghĩa của các từ ngữ trong câu. Nghĩa của câu có nhiều tầng bậc. Ông nhấn mạnh cấu trúc đề - thuyết (theme - rhe e) v tiêu điểm thông báo của câu. Tác giả Đinh Văn Đức (2001) lại không trực tiếp đề cập đến cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu mà bàn về một khía cạnh quan trọng: ngữ tr của động từ, v động từ hay vị từ là cái cốt lõi của câu, là trung tâm của câu.
Tác giả Lý Toàn Thắng (2002), về cơ bản, ủng hộ quan điểm của Cao Xuân Hạo về cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu. Tuy nhiên, ông cũng nhận định thêm r ng “một cấu trúc ngữ ngh a của ngôn ngữ này có th không c tương đương tuyệt đối trong một ngôn ngữ khác, mặc dù cùng mô t một sự tình như nhau, một “k ch c nh” như nhau. Sự khác nhau đ th hiện số lượng tham tố [bắt buộc] và vai ngh a/quan hệ ngh a của các tham tố đ với động từ” [78, tr. Quan điểm của tác giả Diệp Quang Ban (2004) về nghĩa biểu hiện của câu vừa có n t tƣơng đ ng lại vừa có nét khác biệt so với các tác giả trên.
Ông không dùng thuật ngữ v từ mà thay b ng v tố (predicator) là yếu tố chính, là đỉnh của câu. Ông nhận định “câu (hay cú) là đơn v lớn nhất của mặt cấu trúc trong tổ chức ngữ pháp của một ngôn ngữ, được làm 10 thành từ một khúc đoạn ngôn ngữ tập trung chung quanh một v tố, và được d ng đ diễn đạt một sự th (hay một sự việc)” [7, tr. “Cấu trúc ngh a bi u hiện gồm có phần nêu đặc trưng hay quan hệ, gọi gọn là sự th , và các vai ngh a, chúng hợp lại tạo nên sự th của câu (sự việc được ph n ánh)” [7, tr. Ngoài các tác giả kể trên, Nguyễn Thiện Giáp [39], Bùi Minh Toán [93], Nguyễn Văn Hiệp [55],… cũng quan tâ v nghiên cứu về bình diện nghĩa của câu.
Nhìn chung, trong các công trình của mình, các tác giả đ cung cấp cho ngƣời đọc một bức tranh cần thiết v đầy đủ về cấu trúc ngữ nghĩa của câu.