Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Những công trình nghiên cứu về phát huy giá trị di sản văn hóa 1. Những công trình nghiên cứu của nước ngoài Vấn đề gìn giữ và sử dụng DSVH từ lâu đã được quan tâm nghiên cứu, đặc biệt là sau khi Công ước về Bảo vệ DSVH và thiên nhiên thế giới của UNESCO được ký thông qua vào ngày 16 tháng 11 năm 1972 tại Paris.
Xung quanh công ước là một loạt các công trình nghiên cứu quốc tế về vấn đề này. Các công trình này thường tiếp cận theo ba khuynh hướng sau: a) Thứ nhất, đó là các công trình xác định rõ nội hàm của DSVH và phân loại DSVH theo tinh thần của các quốc gia thành viên của Công ước. Nhà sử học và địa lý học David Lowenthal trong tác phẩm The Heritage: Crusade and the Spoils of History (1997) đã bày tỏ quan điểm: di sản, di tích hoàn toàn không phải là lịch sử, không phải là con đường để tìm hiểu về quá khứ. Nó chỉ là cái vỏ của quá khứ.
Nó chỉ là sự xưng tụng của niềm tin vào những gì đã được xây dựng trong quá khứ để phục vụ các mục đích hiện tại [116]. Tác giả đưa ra quan điểm di sản cần được nhìn nhận tách biệt khỏi lịch sử bởi ông lo ngại rằng việc gom nhặt các “mảnh vụn” di sản để phục vụ cho các mục đích hiện tại trong khi bản thân chúng lại không bao chứa toàn bộ sự thật lịch sử sẽ khiến cho tính chân thực của lịch sử bị sai lệch. Tiếp cận từ một quan điểm khác, công trình Archaeology and Heritage: An Introduction của John Carman (2002) lại cho rằng có những di sản hoàn toàn không liên quan gì đến sự xưng tụng của niềm tin hay sự sùng tín nào đó mà đơn giản nó được tạo ra trong quá trình phân loại. Những nơi này có một vị trí đặc biệt, có một loạt các nghĩa vụ, cả hợp pháp và “đạo đức”, phát sinh từ việc được đưa vào sổ đăng ký di sản [120].
Ra đời sau và kế thừa toàn bộ các nghiên cứu từ trước, cũng không xuất phát từ bất kỳ quan điểm nào, tác giả Jokilehto, 10 J (2005) trong Definition of Cultural Heritage - Reference to Documents in history lại tập hợp các định nghĩa và rút ra được 60 khái niệm về DSVH/tài sản văn hóa [121]. Các định nghĩa này được cung cấp để làm tài liệu tham khảo căn bản cho tổ chức ICCROM (Trung tâm quốc tế về nghiên cứu Bảo tồn và Bảo quản các tài sản văn hóa) trong công tác hoạch định các kế hoạch chiến lược. Trong số các định nghĩa đó có đến 18 định nghĩa của UNESCO. Các định nghĩa này được sử dụng phổ biến nhất trong các công trình nghiên cứu học thuật và trong các văn kiện pháp lý quốc tế và quốc gia ở tất cả các nước có quan tâm đến di sản và tài sản văn hóa.
Năm 2010, trong cuốn Understanding the politics of heritage (Manchester: Manchester University Press) Harrison, R đã dành hẳn một chương để bàn luận “What is heritage?” (di sản là gì?). Ở đây, Harrison không hướng đến mục đích xây dựng một khái niệm chung chung về di sản mà ông muốn chỉ ra một cách cụ thể: cái gì được coi là di sản? Là một tòa nhà, một di tích hay một bản nhạc, một tập thơ? Ông đã đưa ra định nghĩa của từ điển Anh ngữ Oxford rằng “di sản” có thể được hiểu là một “đối tượng” vật chất: một mảnh tài sản, một tòa nhà hoặc một nơi có thể được 'sở hữu' và “chuyển giao” cho người khác. Sau đó đưa ra các lập luận để chứng tỏ rằng, di sản không chỉ là những đối tượng vật chất mà còn có những thứ không thể sờ đến, cầm nắm được như văn học, nghệ thuật… Như vậy, việc làm của Harrison không chỉ đưa ra một khái niệm cụ thể về di sản mà còn đồng thời phân loại chúng thành 2 dạng: vật thể và phi vật thể [119]. Trong thực tế, việc phân loại cũng chỉ mang tính chất tương đối.
Một di sản không đơn giản hoàn toàn là di sản văn hóa hoặc thiên nhiên, là di sản vật thể hay phi vật thể. Nhiều điểm di sản thiên nhiên như các công viên quốc gia ở nhiều nước cũng có các hạng mục liên quan đến hoạt động của con người. Một số điểm di sản khác như là di chỉ kiến trúc, di chỉ khảo cổ học, đồ tạo tác hoặc di tích có thể được cho là tài sản vật thể nhưng lịch sử của chúng, giá trị thẩm mỹ, kiểu kiến trúc, các câu chuyện và con người gắn kèm với mỗi hạng mục của nó lại là di sản phi vật thể. Chính sự không phân định được một cách rõ ràng này tạo nên sự đa dạng trong phương thức biểu hiện của di sản.
Hiểu rõ bản chất của một điểm di sản là điều cần thiết để có thể thiết kế được các mục tiêu, kế hoạch và phương 11 tiện phù hợp cho bảo tồn và phát triển di sản đó. Một vài cách phân loại di sản khác cũng được giới thiệu trong một số công trình của các nhà nghiên cứu và quản lý di sản trên thế giới như: Heritage and Postmodern tourism (Annals of tourism research, 23(2), 1996) của Nuryanti,W; Cultural Tourism - The partnership between tourism and cultural heritage management (2002) của McKercher, B và du Cros, H.; Ancient town of Hoian (2006) do The National Committee for the international symposium on the ancient town of Hoi An (Ủy ban quốc gia về hội nghị chuyên đề quốc tế về phố cổ Hội An) soạn thảo. b) Thứ hai, mỗi cách phân loại có cơ sở lập luận riêng, tuy nhiên, tất cả các công trình này đều thống nhất chung ở một điểm: khẳng định giá trị văn hóa đặc sắc của di sản ở mọi vùng miền và quốc gia trên thế giới. Đây cũng là hướng nghiên cứu thứ hai về di sản.
Nuryanti (1996) trong công trình của mình đã khẳng định: “bản thân từ di sản đã hàm nghĩa một thứ gì đó được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, đóng vai trò chuyên chở các giá trị lịch sử từ quá khứ và giao các giá trị này cho thế hệ hiện tại như một phần của truyền thống văn hóa của một xã hội”123. Marta de la Torre vào năm 2002 đã có một báo cáo nghiên cứu khá đầy đủ về giá trị của DSVH mang tên Assessing the Values of Cultural Heritage. Trong báo cáo này, tác giả cho rằng tầm quan trọng của một địa điểm được coi là di sản được xác định bởi sự tổng hợp của các giá trị chứ không đơn thuần chỉ có giá trị lịch sử. Các giá trị được xem xét phải bao gồm các giá trị do các chuyên gia như các nhà sử học, khảo cổ học, kiến trúc sư… và các giá trị khác do các bên liên quan hoặc các thành phần khác đưa ra, như các giá trị xã hội và kinh tế.
Từ những nhận định, đánh giá về giá trị của di sản, hầu hết các nhà nghiên cứu đều cho rằng giá trị của di sản là giá trị tự thân vốn có. Tuy nhiên, thách thức ý tưởng rằng giá trị di sản là hiển nhiên, và mọi thứ phải được bảo tồn bởi chúng có tầm quan trọng cố hữu, Uses of Heritage (2006) của Smith đã mạnh mẽ chứng minh rằng giá trị di sản không phải là vốn có trong các vật thể hoặc các địa điểm vật lý mà chúng được sử dụng để cung cấp tính xác thực cho các giá trị văn hóa của các cộng đồng khác nhau và khẳng định những giá trị đấy. Nhưng dù là vai trò gì đi chăng nữa thì giá trị của di sản đối với một xã hội là không thể phủ 12 nhận về mọi mặt, từ lịch sử, văn hóa, thẩm mỹ, giáo dục đến kinh tế. Điều này đã được khẳng định lại một lần nữa trong Hướng dẫn thực hiện Công ước Di sản Thế giới Operational guidelinesforthe implementation of the World Heritage convention của UNESCO ban hành năm 2015: “DSVH và thiên nhiên là một trong những tài sản vô giá và không thể thay thế, không chỉ riêng một quốc gia nào mà là của toàn nhân loại.
Sự mất đi, do bị xuống cấp hay bị tàn phá, của bất cứ cái gì trong số những tài sản quý giá nhất này cũng sẽ làm nghèo đi di sản của tất cả mọi người trên thế giới” [129]. Vì giá trị và ý nghĩa của DSVH đối với cá nhân, cộng đồng, quốc gia và toàn nhân loại, DSVH cần được bảo vệ và quản lý một cách bền vững nhằm đảm bảo sự tiếp tục tồn tại và là biểu tượng cho sự sáng tạo không ngừng nghỉ của con người. Điều này đã định hướng cho việc nghiên cứu di sản ở một góc độ khác: góc độ quản lý. c) Thứ ba, nhóm công trình nghiên cứu về vấn đề quản lý DSVH.
Trên thế giới, quản lý DSVH được các nhà nghiên cứu tiếp cận từ khá sớm. Theo Peter Howard việc quản lý di sản xuất hiện vào khoảng đầu thế kỷ XIX. Ban đầu những người say mê di sản có lòng tin rằng họ bảo tồn những thứ này vì lợi ích của công chúng. Sang thế kỷ XX xuất hiện sự ra đời của các Hiệp hội di sản ở châu Âu.
Việc nghiên cứu di sản “đã phát triển với các khía cạnh thực tế, thường xuyên được nói ngắn gọn bằng từ “quản lý di sản” và phát triển mạnh vào nửa sau thế kỷ XX. Ngày nay, các nhà nghiên cứu cho rằng, DSVH không chỉ là một giá trị biểu tượng mà nó cần sống trong cộng đồng, trong xã hội, nghĩa là phải đóng góp vào sự phát triển chung. DSVH phải phục vụ cho cộng đồng. Building a new heritage: tourism, culture and identity in the new Europe (1994) của G.
Larkham đã xem việc khai thác các giá trị của di sản như một ngành công nghiệp. Do vậy việc quản lý cần có những phương thức của một ngành công nghiệp với cách thức quản lý phù hợp với những đặc điểm của di sản. Nhằm làm tiền đề cho nội dung này, trong phần “From historical monument from heritage product”, Ashworth đã nói về các cách tiếp cận di sản ở Tây Âu.