Tổng quan luận án

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự phát triển của truyền thông đại chúng, phỏng vấn báo chí là một thể loại thông tấn giữ vai trò quan trọng nhờ khả năng truyền tải thông tin thời sự nhanh chóng và trực tiếp. Dưới góc độ ngôn ngữ học, phỏng vấn báo chí là một dạng hoạt động giao tiếp đặc thù, vừa mang tính quy ước xã hội vừa chịu sự chi phối của các quy tắc tương tác liên nhân. Từ những năm 60–70 của thế kỷ XX, ngữ dụng học đã phát triển hệ thống lý thuyết về lịch sự, tuy nhiên phần lớn các công trình nghiên cứu tại Việt Nam trước đây chủ yếu tập trung vào ngữ liệu văn học hoặc giao tiếp sinh hoạt thường nhật. Luận án tiến sĩ ngữ văn của tác giả Phạm Thị Tuyết Minh với đề tài Lịch sự trong phỏng vấn báo chí (chuyên ngành Ngôn ngữ Việt Nam, mã số 62.02, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, năm 2017; người hướng dẫn khoa học: Hà Quang Năng) được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống nghiên cứu về hiện tượng lịch sự trong môi trường truyền thông báo chí tiếng Việt một cách có hệ thống.

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ những biểu hiện của lịch sự trong phỏng vấn báo chí thể hiện qua phát ngôn (hành động ngôn từ) và cách thức sử dụng từ ngữ, qua đó chỉ ra những đặc trưng riêng biệt của lịch sự trong môi trường giao tiếp mang tính chất đặc thù này. Để đạt được mục đích trên, tác giả xác định bốn nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Nghiên cứu cơ sở lý thuyết liên quan đến phỏng vấn ở hai góc độ: phỏng vấn với tư cách là một thể loại báo chí và phỏng vấn với tư cách là một cuộc thoại; đồng thời tổng hợp các quan niệm về lịch sự và bất lịch sự của các nhà ngôn ngữ học phương Tây, phương Đông và Việt Nam để làm khung đối chiếu.
  2. Thống kê, phân tích các hành động ngôn từ phổ biến trong cặp trao đáp, đặc biệt là tham thoại dẫn nhập trong mối quan hệ với tính lịch sự; phân loại các hành động ngôn từ theo những tiêu chí liên quan đến mức độ lịch sự.
  3. Khảo sát và phân loại các yếu tố từ ngữ, cụ thể là từ ngữ xưng hô và từ ngữ tình thái trong mối quan hệ với tính lịch sự.
  4. Phân tích, nhận xét và rút ra các kết luận khoa học về sự thể hiện nguyên tắc lịch sự trong phỏng vấn báo chí ở góc độ hành động ngôn từ và góc độ từ ngữ.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là các hành động ngôn từ và các yếu tố từ ngữ (từ ngữ xưng hô và từ ngữ tình thái) thể hiện tính lịch sự trong phỏng vấn báo chí.

Về phạm vi nghiên cứu, luận án tập trung khảo sát ngôn ngữ thể hiện qua phát ngôn và từ ngữ trong 850 bài phỏng vấn được thu thập ngẫu nhiên từ ba cơ quan báo chí có uy tín và lượng độc giả lớn:

  • Báo in Tiền phong: khảo sát từ tháng 1/2011 đến hết tháng 12/2011.
  • Báo điện tử Dân trí: khảo sát từ tháng 7/2011 đến tháng 7/2014.
  • Báo điện tử Vnexpress: khảo sát từ tháng 1/2012 đến tháng 12/2014.

Nguồn ngữ liệu 850 bài phỏng vấn được phân chia thành ba nhóm tư liệu theo đối tượng được phỏng vấn (ĐTPV):

  • Nhóm F1 (ĐTPV là văn nghệ sĩ): 392 bài.
  • Nhóm F2 (ĐTPV là quan chức): 345 bài.
  • Nhóm F3 (ĐTPV là các đối tượng khác): 113 bài.

Luận án giới hạn phạm vi ở các cuộc phỏng vấn dạng hỏi – đáp bằng văn bản chữ viết giữa phóng viên và một hoặc một số nhân vật, không khảo sát báo hình, báo nói và các cuộc tọa đàm, thảo luận bàn tròn.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng quan tình hình nghiên cứu về lý thuyết lịch sự trên thế giới và ở Việt Nam qua các giai đoạn phát triển chính:

Các hướng nghiên cứu trên thế giới:

  • Khuynh hướng truyền thống (thập niên 70–90 của thế kỷ XX):
    • Góc độ chuẩn xã hội (the social-norm view): Tiêu biểu là J. Boston (1860) trong cuốn Ladies's Book of etiquette and manual of politeness, xem lịch sự là việc hành xử phù hợp với quy ước xã hội (né tránh sự kiện đau buồn, không vặn hỏi tính xác thực).
    • Góc độ quy tắc hội thoại (the conversation maxim view): R. Lakoff (1973, 1989) dựa trên Nguyên tắc cộng tác của H. P. Grice để đưa ra 3 quy tắc: không dồn ép, để ngỏ sự lựa chọn, làm cho người nghe thoải mái; từ đó hình thành 3 chiến lược: Khoảng cách (văn hóa châu Âu), Kính trọng (văn hóa châu Á) và Thân thiện (văn hóa châu Mỹ). J. Leech (1983) xây dựng nguyên tắc lịch sự dựa trên thuật tương tác liên nhân và thang đo tổn thất – lợi ích, gồm 6 phương châm: Tế nhị, Hào hiệp, Tán thưởng, Khiêm tốn, Tán đồng, Thiện cảm.
    • Góc độ thể diện (the face-saving view): P. Brown và S. Levinson (1978, 1987) với công trình Politeness – some universals in language usage, lấy khái niệm thể diện (thể diện âm tính, thể diện dương tính) và tính hữu lý làm trung tâm, đưa ra 5 siêu chiến lược giảm nhẹ hành động đe dọa thể diện (FTAs) và công thức tính mức độ đe dọa $W_X = P(H,S) + D(S,H) + R(X)$. C. Kerbrat-Orecchioni bổ sung khái niệm hành động tôn vinh thể diện (FFAs).
    • Góc độ cộng tác hội thoại (the conversation contract view): B. Fraser và W. Nolen (1981) coi lịch sự là việc thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy tắc hội thoại.
  • Khuynh hướng nghiên cứu mới (từ đầu thế kỷ XXI):
    • Hướng tiếp cận hậu hiện đại (post-modern approach): G. Eelen (2001), S. Mills (2003) từ chối khung Grice, đặt lịch sự vào sự đánh giá của người nghe và nghiên cứu diễn ngôn dài.
    • Hướng tiếp cận theo tính chất quan hệ (the relational approach): R. Watts (2003), M. Locher (2004, 2006), Locher và Watts (2005 - khái niệm relational work), H. Spencer-Oatey (2000, 2005, 2007 - khái niệm rapport management), J. Holmes và S. Schnurr (2005 - khái niệm relational practice).
    • Hướng tiếp cận dựa trên khung ngữ liệu (the frame-based view): M. Terkourafi (2001, 2002, 2003, 2005a, 2005b) tiếp cận dựa trên dữ liệu hội thoại thực tế tại Síp, coi lịch sự là vấn đề thói quen hơn là tính toán duy lý.
    • Hướng tiếp cận tương tác và thể loại: R. Arundale (1999, 2006), M. Haugh (2007), P. Garcés-Conejos Blitvich (2010a).
  • Lý thuyết bất lịch sự: J. Culpeper (1996, 2011 trong Impoliteness – using language to cause offence), D. Bousfield, M. Locher phân tích bất lịch sự như hiện tượng tấn công thể diện có chủ ý.
  • Quan điểm phương Đông: S. Ide (1989, 1993), B. Hill và cộng sự (1986), Y. Matsumoto (1988), Y. Gu (1990), triết lý "Lễ" của Khổng Tử và sách Về Lễ (Li Ji) của Đại Thanh thời Tây Hán, coi lịch sự là sự tuân thủ tôn ti, thứ bậc và chuẩn mực xã hội ("lễ mạo").

Các nghiên cứu ở Việt Nam:

  • Giai đoạn đầu: Nguyễn Đình Hoà (1956) bàn về ứng xử lễ độ; Như Ý nghiên cứu vai xã hội; Nguyễn Văn Độ (1995, 1998) tổng thuật các khuynh hướng lý thuyết lịch sự.
  • Các giáo trình: Đỗ Hữu Châu (Đại cương ngôn ngữ học), Nguyễn Đức Dân (Ngữ dụng học), Nguyễn Thiện Giáp (Dụng học Việt ngữ), Nguyễn Văn Khang (Ngôn ngữ học xã hội).
  • Khảo sát thực nghiệm xã hội: Vũ Thị Thanh Hương (luận án tiến sĩ năm 2000) xác lập 4 đặc trưng của lịch sự trong tiếng Việt gồm: lễ phép, đúng mực, tế nhị, khéo léo; phân thành 2 bình diện là lễ độ/tối thiểu và chiến lược/xã giao.
  • Các hành động ngôn từ cụ thể: Chử Thị Bích (hành vi cho, tặng), Nguyễn Quang (hành vi khen và giao tiếp giao văn hóa), Hoàng Thị Hải Yến (hành vi chê), Phạm Thị Thành (chào, cảm ơn, xin lỗi), Tạ Thị Thanh Tâm (nghi thức giao tiếp), Nguyễn Đức Hoạt, Vũ Tiến Dũng, Nguyễn Thị Lương, Phan Thị Phương Dung, Lê Thị Thuý Hà, Trần Lan Phương, Siriwong Hongsawan, Hoàng Anh Thi.
  • Ngôn ngữ phỏng vấn báo chí: Trần Phúc Trung nghiên cứu hành động hỏi trong phỏng vấn truyền hình; Phạm Thị Mai Hương khảo sát ngôn ngữ hội thoại trong phỏng vấn báo in.

Khoảng trống nghiên cứu: Các nghiên cứu trước đây chủ yếu khai thác mặt tích cực (sự tuân thủ lịch sự) trong giao tiếp hàng ngày hoặc tác phẩm văn học; các công trình về phỏng vấn báo chí mới chỉ đề cập rời rạc một vài phương tiện (tiểu từ tình thái, xưng hô, hỏi). Luận án của Phạm Thị Tuyết Minh lựa chọn giải quyết khoảng trống về việc nghiên cứu có hệ thống cả hai mặt lịch sự và bất lịch sự trên tư liệu hội thoại phỏng vấn báo in và báo điện tử tiếng Việt.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng khung lý thuyết dựa trên sự kết hợp giữa ngữ dụng học, phân tích hội thoại và lý luận báo chí:

  • Lý thuyết thể diện và lịch sự của Brown và Levinson (1987): Thể diện gồm thể diện dương tính (nhu cầu được thừa nhận, tôn trọng) và thể diện âm tính (nhu cầu tự do hành động, không bị áp đặt lãnh địa cá nhân). Tương ứng có lịch sự dương tính và lịch sự âm tính. Công thức tính mức độ đe dọa thể diện $W_X = P(H,S) + D(S,H) + R(X)$ căn cứ vào ba nhân tố: Quyền lực ($P$), Khoảng cách xã hội ($D$) và Mức độ áp đặt của hành động nói ($R$). Tiếp thu khái niệm hành vi tôn vinh thể diện (FFAs) của Kerbrat-Orecchioni.
  • Lý thuyết bất lịch sự của Culpeper (1996, 2011): Xem bất lịch sự là hành vi tấn công thể diện có chủ ý hoặc do người tiếp nhận nhận thức là gây tổn thương cảm xúc. Hệ thống gồm 5 siêu chiến lược: (1) Dùng lối nói trắng (Bald on record impoliteness); (2) Bất lịch sự dương tính; (3) Bất lịch sự âm tính; (4) Lịch sự giả tạo/mỉa mai (Mock politeness/Sarcasm); (5) Triệt tiêu lịch sự ở nơi cần thiết (Withhold politeness).
  • Lý thuyết phân tích hội thoại trường phái Thụy Sĩ – Pháp (Geneva): Hệ thống các đơn vị hội thoại gồm cuộc thoại, đoạn thoại (mở đầu, phát triển, kết thúc), cặp trao đáp (cặp hỏi – trả lời), tham thoại (tham thoại dẫn nhập - TTDN của nhà báo; tham thoại hồi đáp - TTHĐ của ĐTPV) và hành động nói. Cấu trúc tham thoại gồm phần cốt lõi (hành động chủ hướng CH, hành động phụ thuộc PT) và phần mở rộng (yếu tố rào đón, đưa đẩy).
  • Lý thuyết thể loại báo chí: Phỏng vấn thuộc nhóm báo chí thông tấn (theo Tạ Ngọc Tấn, Nguyễn Tiến Hài, Đức Dũng, Dương Xuân Sơn). Luận án tiếp thu cách phân loại 4 hình thức phỏng vấn theo mục đích của Maria Lukina: phỏng vấn thông tin, phỏng vấn linh hoạt, phỏng vấn điều tra và phỏng vấn chân dung.
  • Mô hình nhân vật giao tiếp trong phỏng vấn: Mô hình tam giác gồm ba nhân vật: Nhà báo (SP1 - người hỏi), Người được phỏng vấn (SP2 - người trả lời) và Công chúng (độc giả - nhân vật thứ ba gián tiếp chi phối trách nhiệm giữ gìn thể diện và định hướng thông tin). Nhà báo nắm vị thế giao tiếp mạnh ("người kỵ sĩ cầm cương"), điều khiển diễn ngôn, tạo lập quan hệ giao tiếp không đối xứng.
Nhà báo (SP1) <=======> Người được phỏng vấn (SP2)
      \                       /
       \                     /
        v                   v
            Công chúng

Luận án sử dụng các phương pháp và thủ pháp nghiên cứu chính:

  1. Phương pháp phân tích diễn ngôn: Phân tích tác động của các nhân tố giao tiếp (nhân vật, vai giao tiếp, quan hệ liên nhân, ngữ cảnh, mục đích) tới việc sử dụng các chiến lược lịch sự trong cấu trúc tương tác của cuộc thoại.
  2. Phương pháp phân tích, miêu tả: Miêu tả và phân loại các hành động ngôn từ (chào, cảm ơn, chúc, khen, chê, hỏi) và các phương tiện từ ngữ theo mức độ tăng cường (+) hoặc giảm nhẹ (−) tính lịch sự.
  3. Thủ pháp khảo sát, thống kê, phân loại: Thống kê tần số xuất hiện, tỷ lệ phần trăm của các hành động ngôn từ, từ ngữ xưng hô, tiểu từ tình thái, biểu thức rào đón và từ ngữ đánh giá trên 850 bài báo khảo sát.
Nhóm tư liệu Đối tượng phỏng vấn (ĐTPV) Số lượng bài Nguồn khảo sát
Nhóm 1 (F1) Văn nghệ sĩ 392 bài Tiền phong (báo in), Dân trí, Vnexpress (điện tử)
Nhóm 2 (F2) Quan chức 345 bài Tiền phong (báo in), Dân trí, Vnexpress (điện tử)
Nhóm 3 (F3) Các đối tượng khác 113 bài Tiền phong (báo in), Dân trí, Vnexpress (điện tử)
Tổng cộng Toàn bộ ngữ liệu 850 bài Thời gian: 2011 – 2014

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận

Chương 1 (từ trang 7 đến trang 49) tổng hợp toàn diện lịch sử nghiên cứu lý thuyết lịch sự trên thế giới và ở Việt Nam, xác lập hệ thống cơ sở lý thuyết cho toàn bộ luận án:

  • Phân tích các mô hình lịch sự phương Tây (chuẩn xã hội, phương châm hội thoại, thể diện, hợp đồng hội thoại) và các khuynh hướng mới (hậu hiện đại, tiếp cận quan hệ liên nhân, tiếp cận khung ngữ liệu, tiếp cận thể loại).
  • Trình bày hệ thống lý thuyết về bất lịch sự của J. Culpeper, chỉ ra 5 siêu chiến lược và các biểu hiện cụ thể của bất lịch sự dương tính (coi thường, xa cách, dùng danh xưng không phù hợp, tìm kiếm bất đồng, dùng tiếng lóng tiêu cực...) và bất lịch sự âm tính (đe dọa, nhạo báng, chiếm không gian, gắn khía cạnh tiêu cực...).
  • Phân tích đặc trưng lịch sự phương Đông và quan niệm của người Việt: Người Việt coi trọng thể diện ("mặt"), dung hòa giữa lịch sự chuẩn mực (lễ phép, đúng mực - gắn với đạo đức) và lịch sự chiến lược (tế nhị, khéo léo - gắn với kỹ năng). Giao tiếp tiếng Việt ưa chuộng sự tế nhị, gián tiếp, nguyên tắc "xưng khiêm hô tôn" và phương châm "dĩ hòa vi quý".
  • Khái quát về giao tiếp phỏng vấn báo chí: Xác định đặc trưng thể loại thông tấn; phân tích mô hình ba nhân vật giao tiếp (SP1 - SP2 - Công chúng); làm rõ quan hệ liên nhân trên trục quyền uy và trục thân cận; khẳng định vị thế giao tiếp mạnh của nhà báo và sự căng thẳng giữa đích giao tiếp truy tìm sự thật với việc bảo toàn thể diện đối tác.

Chương 2: Lịch sự thể hiện qua các hành động ngôn từ trong cặp trao đáp trong phỏng vấn báo chí

Chương 2 (từ trang 50 đến trang 101) nghiên cứu lịch sự thể hiện qua các hành động ngôn từ trong cặp trao đáp (hỏi – đáp):

  • Phân tích đặc điểm cấu trúc cặp trao đáp: Cặp thoại gồm TTDN của nhà báo và TTHĐ của ĐTPV. Nhà báo đóng vai trò chủ động định hướng hồi đáp thông qua hành động chủ hướng (CH), hành động phụ thuộc (PT) và các thành phần mở rộng rào đón.
  • Khảo sát các nhóm hành động ngôn từ phổ biến trong TTDN:
    • Hành động hỏi: Là hành động nòng cốt, mang tính áp đặt và đe dọa thể diện tiềm tàng. Luận án phân loại hỏi theo chức năng ngữ dụng: hỏi thông tin, hỏi giải thích/bình luận, hỏi áp đặt quan điểm, hỏi truy vấn/phản biện. Phân tích các phát ngôn hỏi giảm nhẹ lịch sự (−LS) khi nhà báo cần truy tìm sự thật trong các bài phỏng vấn điều tra.
    • Hành động khen và chê: Khen là hành vi tôn vinh thể diện (FFAs), xuất hiện nhiều trong nhóm F1 (văn nghệ sĩ); chê là hành vi đe dọa thể diện (FTAs), xuất hiện khi nhà báo chất vấn các sai phạm, khuyết điểm của đối tượng phỏng vấn.
    • Hành động nghi thức: Chào, cảm ơn, chúc xuất hiện chủ yếu ở cặp thoại mở đầu và cặp thoại kết thúc, giữ chức năng thiết lập và duy trì quan hệ xã giao, bảo đảm tính quy thức.
  • Tiêu chí đánh giá mức độ lịch sự của hành động ngôn từ: Dựa trên tương quan quyền lực ($P$), khoảng cách ($D$) và mức độ áp đặt ($R$) để xác định hành động tăng cường tính lịch sự (+LS) hay giảm nhẹ tính lịch sự/bất lịch sự (−LS).

Hệ thống bảng số liệu thống kê được luận án xây dựng trong Chương 2:

  • Bảng 2.1: Số lượng các HĐNT theo nhóm tư liệu.
  • Bảng 2.2: Số lượng và tỷ lệ các nhóm HĐNT trong phỏng vấn.
  • Bảng 2.3: Số lượng và tỉ lệ HĐNT hỏi theo chức năng ngữ dụng trong phỏng vấn.
  • Bảng 2.4: Số lượng và tỷ lệ các HĐNT hỏi −LS trên tổng số HĐNT.
  • Bảng 2.5: Tỷ lệ hành động khen trên tổng HĐNT.
  • Bảng 2.6: Tỷ lệ hành động chê trên tổng HĐNT.
  • Bảng 2.7: Số lượng và tỷ lệ hành động chào, cảm ơn – chúc trong phỏng vấn.

Chương 3: Lịch sự thể hiện qua từ ngữ xưng hô và từ ngữ tình thái trong phỏng vấn báo chí

Chương 3 (từ trang 102 đến trang 147) khảo sát các phương tiện từ ngữ biểu thị lịch sự trên hai trục chính:

1. Từ ngữ xưng hô biểu thị lịch sự:

  • Phân loại hệ thống từ xưng hô: Đại từ nhân xưng (tôi, chúng tôi, ông, bà...), danh từ chỉ quan hệ thân tộc (anh, chị, bác, chú...), danh từ chỉ chức vụ, nghề nghiệp (Bộ trưởng, Giáo sư, Luật sư, Nhạc sĩ...).
  • Khảo sát sự phân hóa theo nhóm đối tượng:
    • Nhóm F1 (văn nghệ sĩ): Ưu tiên sử dụng danh từ thân tộc nhằm rút ngắn khoảng cách xã hội, tạo sự thân mật, cởi mở (lịch sự dương tính).
    • Nhóm F2 (quan chức): Ưu tiên danh xưng chức vụ, danh từ chuẩn mực kết hợp đại từ nhân xưng trang trọng để duy trì khoảng cách xã hội và tôn trọng vị thế quyền uy (lịch sự âm tính).
    • Nhóm F3 (đối tượng khác): Kết hợp linh hoạt theo lứa tuổi và ngữ cảnh.
  • Khảo sát các phát ngôn xưng hô trống không: Phân tích tỷ lệ và bối cảnh xuất hiện; chỉ ra tác động làm gia tăng tính đe dọa thể diện hoặc thể hiện sự thiếu chuẩn mực nghi thức trong tương tác báo chí.

2. Từ ngữ tình thái biểu thị lịch sự:

  • Tiểu từ tình thái cuối câu: Khảo sát các từ như ạ, nhé, nhỉ, chứ, ư, chăng, sao.... Các tiểu từ ạ, dạ, vâng thể hiện sự kính trọng, lễ phép; các tiểu từ nhé, nhỉ thể hiện sự thân mật, kéo gần khoảng cách; các tiểu từ chăng, ư, sao tạo độ nghi vấn giảm nhẹ tính áp đặt.
  • Biểu thức rào đón (hedges): Khảo sát các biểu thức rào đón mở đầu (Xin phép được hỏi..., Có ý kiến cho rằng..., Dư luận băn khoăn rằng..., Liệu có thể hiểu là...). Đây là công cụ hữu hiệu giúp nhà báo giảm nhẹ mức độ đe dọa thể diện khi đặt câu hỏi gai góc, chuyển trách nhiệm chất vấn sang bên thứ ba (công chúng, dư luận).
  • Từ ngữ mang màu sắc biểu cảm – đánh giá:
    • Nhóm vị từ có sắc thái tích cực: Đóng vai trò tôn vinh thể diện (khen ngợi thành tích, phẩm chất của ĐTPV).
    • Nhóm từ ngữ có sắc thái tiêu cực: Phân tích tần số và bối cảnh sử dụng các từ ngữ chỉ trích, phê phán trong phỏng vấn điều tra.
    • Tiếng lóng mang sắc thái tiêu cực: Khảo sát hiện tượng sử dụng tiếng lóng tiêu cực trong phỏng vấn và đánh giá tác động đối với chuẩn mực giao tiếp báo chí.

Hệ thống bảng số liệu thống kê được luận án xây dựng trong Chương 3:

  • Bảng 3.1: Các phương tiện xưng hô sử dụng trong phỏng vấn.
  • Bảng 3.2: Tỷ lệ các phương tiện xưng hô sử dụng trong nhóm 1.
  • Bảng 3.3: Tỷ lệ các phương tiện xưng hô trong nhóm 2 và 3.
  • Bảng 3.4: Tỷ lệ các phát ngôn xưng hô trống không trong phỏng vấn.
  • Bảng 3.5: Tỷ lệ các tiểu từ tình thái trên tổng HĐNT.
  • Bảng 3.6: Số lượng các tiểu từ tình thái sử dụng trong phỏng vấn.
  • Bảng 3.7: Số lượng các kiểu biểu thức rào đón trong phỏng vấn.
  • Bảng 3.8: Nhóm vị từ có sắc thái tích cực sử dụng trong phỏng vấn.
  • Bảng 3.9: Nhóm từ ngữ có sắc thái tiêu cực sử dụng trong phỏng vấn.
  • Bảng 3.10: Tiếng lóng mang sắc thái tiêu cực sử dụng trong phỏng vấn.

Kết quả và những đóng góp mới

Theo nội dung luận án tự công bố, công trình đạt được những đóng góp mới về lý luận và thực tiễn:

Về lý luận:

  • Góp phần cụ thể hóa và mở rộng lý thuyết lịch sự của Brown và Levinson cũng như lý thuyết bất lịch sự của Culpeper khi ứng dụng vào một loại hình diễn ngôn đặc thù là phỏng vấn báo chí tiếng Việt.
  • Cung cấp cho ngành ngôn ngữ học hệ thống ngữ liệu thực tế chứng minh cho tính năng động, linh hoạt của các chiến lược lịch sự và bất lịch sự trong giao tiếp truyền thông đại chúng.

Về thực tiễn và giải pháp đề xuất:

  • Cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng, tăng cường kỹ năng giao tiếp ngôn ngữ và kỹ năng nghiệp vụ phỏng vấn cho đội ngũ nhà báo, phóng viên; giúp người làm báo biết cách xử lý hài hòa mối quan hệ giữa mục tiêu khai thác thông tin thời sự và việc duy trì quan hệ liên nhân chuẩn mực.
  • Góp phần định hướng xây dựng một môi trường văn hóa giao tiếp ngôn ngữ lành mạnh, chuẩn mực và tích cực trên báo chí nói riêng và các phương tiện thông tin đại chúng nói chung.
  • Kết quả nghiên cứu của luận án có thể sử dụng làm tài liệu phục vụ trực tiếp công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu các học phần Ngữ dụng học, Ngôn ngữ học xã hội, Ngôn ngữ báo chí tại các cơ sở đào tạo đại học và sau đại học.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Về phạm vi tư liệu: Luận án mới chỉ khảo sát trên báo in và báo điện tử (dạng chữ viết), chưa có điều kiện khảo sát trên báo nói (phát thanh) và báo hình (truyền hình). Do đó, luận án chưa tái hiện và phân tích được các yếu tố ngoại ngôn và cận ngôn ngữ rất quan trọng trong việc thể hiện tính lịch sự như: diện mạo, sắc mặt, cử chỉ, điệu bộ, giọng nói, âm vực, cách nhấn giọng, ngắt nhịp của nhân vật giao tiếp.
  • Về hình thức giao tiếp: Luận án mới chỉ giới hạn ở hình thức phỏng vấn hỏi – đáp giữa phóng viên và một hoặc một nhóm nhân vật, chưa tìm hiểu các cuộc tọa đàm, thảo luận bàn tròn đa thoại diễn ra trên báo chí.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng phạm vi khảo sát sang các cuộc phỏng vấn trên báo nói và báo hình để kết hợp phân tích toàn diện giữa phương tiện ngôn từ và các phương tiện phi ngôn từ trong việc biểu thị lịch sự.
  • Khảo sát các hình thức đối thoại đa thoại, tọa đàm truyền thông hiện đại dưới góc độ lý thuyết tương tác liên nhân và quản lý thể diện.

Giá trị tham khảo

Luận án Lịch sự trong phỏng vấn báo chí là tài liệu tham khảo chuyên khảo dành cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên chuyên ngành Ngôn ngữ học, Ngôn ngữ Việt Nam, Ngữ dụng học: Tham khảo khung phương pháp phân tích diễn ngôn hội thoại, cách thức vận dụng lý thuyết thể diện của Brown & Levinson kết hợp với lý thuyết bất lịch sự của Culpeper vào việc xử lý ngữ liệu tiếng Việt.
  • Giảng viên và cơ sở đào tạo báo chí – truyền thông: Sử dụng các nội dung phân tích cấu trúc cặp trao đáp, chiến lược rào đón, kỹ thuật hỏi và hệ thống từ ngữ xưng hô, tình thái để xây dựng giáo trình và bài giảng môn Nghiệp vụ phỏng vấn báo chí.
  • Phóng viên, nhà báo và biên tập viên: Tham khảo các phân tích thực tế về vị thế giao tiếp, các thang độ đe dọa thể diện để nâng cao kỹ năng ứng xử ngôn ngữ, điều tiết câu hỏi phỏng vấn vừa sắc bén về thông tin vừa chuẩn mực về văn hóa giao tiếp.

Câu hỏi thường gặp

1. Ngữ liệu khảo sát của luận án được thu thập từ những nguồn nào và có dung lượng bao nhiêu?
Ngữ liệu của luận án gồm 850 bài phỏng vấn được thu thập từ ba nguồn: báo in Tiền phong (khảo sát năm 2011), báo điện tử Dân trí (khảo sát giai đoạn 7/2011 – 7/2014) và báo điện tử Vnexpress (khảo sát giai đoạn 1/2012 – 12/2014). Ngữ liệu được chia thành ba nhóm: Nhóm F1 (ĐTPV là văn nghệ sĩ: 392 bài), Nhóm F2 (ĐTPV là quan chức: 345 bài), Nhóm F3 (ĐTPV là các đối tượng khác: 113 bài).

2. Luận án sử dụng những khung lý thuyết nền tảng nào về lịch sự và bất lịch sự?
Luận án lấy lý thuyết lịch sự của P. Brown và S. Levinson (1978, 1987) làm cơ sở chính (dựa trên khái niệm thể diện âm tính, thể diện dương tính và 5 siêu chiến lược), kết hợp với lý thuyết bất lịch sự của J. Culpeper (1996, 2011) để phân tích các hành vi tấn công thể diện. Đồng thời, luận án đối chiếu với quan niệm lịch sự của các học giả phương Đông (Ide, Matsumoto, Gu, Khổng Tử) và đặc trưng văn hóa giao tiếp của người Việt (Vũ Thị Thanh Hương, Đỗ Hữu Châu).

3. Mô hình nhân vật giao tiếp trong phỏng vấn báo chí có đặc điểm gì khu biệt so với giao tiếp thường nhật?
Giao tiếp phỏng vấn báo chí được vận hành theo mô hình tam giác gồm ba nhân vật: Nhà báo (SP1), Đối tượng được phỏng vấn (SP2) và Công chúng (độc giả - đối tượng gián tiếp). Nhà báo luôn nắm vị thế giao tiếp mạnh, chủ động điều khiển lượt lời và đề tài. Sự hiện diện của công chúng khiến các nhân vật tham gia phải chịu áp lực giữ gìn thể diện xã hội trước độc giả, đồng thời buộc nhà báo phải cân bằng giữa việc tôn trọng thể diện đối tác và truy tìm sự thật cho công chúng.

4. Khái niệm lịch sự trong văn hóa của người Việt Nam được luận án tổng thuật gồm những bình diện nào?
Dựa trên các nghiên cứu xã hội học ngôn ngữ (tiêu biểu là Vũ Thị Thanh Hương), luận án chỉ ra rằng lịch sự trong tiếng Việt gồm bốn đặc trưng: lễ phép, đúng mực, tế nhị và khéo léo. Bốn đặc trưng này phân thành hai bình diện cơ bản: bình diện lễ độ/tối thiểu (lễ phép, đúng mực - mang tính chuẩn mực đạo đức bắt buộc) và bình diện chiến lược/xã giao (tế nhị, khéo léo - mang tính kỹ năng ứng xử cá nhân).

5. Những phương tiện từ ngữ nào được khảo sát để làm rõ tính lịch sự trong phỏng vấn báo chí ở Chương 3?
Chương 3 khảo sát hai nhóm phương tiện từ ngữ:

  • Hệ thống từ ngữ xưng hô: Đại từ nhân xưng, danh từ thân tộc, chức danh/nghề nghiệp và hiện tượng xưng hô trống không.
  • Hệ thống từ ngữ tình thái: Các tiểu từ tình thái cuối câu (ạ, nhé, nhỉ, chứ, ư, chăng...), các biểu thức rào đón (Xin phép được hỏi..., Dư luận băn khoăn...) và các từ ngữ mang màu sắc biểu cảm – đánh giá (vị từ tích cực, từ ngữ tiêu cực và tiếng lóng tiêu cực).

Kết luận

Luận án Lịch sự trong phỏng vấn báo chí của tác giả Phạm Thị Tuyết Minh là một công trình nghiên cứu chuyên khảo thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ Việt Nam, khảo sát có hệ thống hiện tượng lịch sự trong môi trường giao tiếp báo chí tiếng Việt. Dựa trên khung lý thuyết của Brown & Levinson và Culpeper kết hợp với lý thuyết phân tích hội thoại trường phái Geneva, luận án đã phân tích định tính và định lượng 850 bài phỏng vấn trên báo in và báo điện tử qua cấu trúc hành động ngôn từ cặp trao đáp và hệ thống phương tiện từ ngữ xưng hô, tình thái. Công trình cung cấp cơ sở khoa học để nâng cao kỹ năng giao tiếp báo chí và phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu trong lĩnh vực Ngữ dụng học và Ngôn ngữ học xã hội.