Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu về lịch sự trên thế giới Chỉ mới xuất hiện cách đây khoảng bốn mươi năm nhưng lý thuyết lịch sự (theory of politeness) trong ngôn ngữ đã chứng tỏ sức hấp dẫn mãnh liệt bằng việc xuất hiện hàng loạt các công trình nghiên cứu của đông đảo các học giả trên khắp thế giới. Khá nhiều phương pháp, cách tiếp cận đã được đề xuất nhưng bên cạnh đó cũng tồn tại không ít những quan điểm bất đồng.
Thiết nghĩ, việc phác họa một bức tranh chung về tình hình nghiên cứu lịch sự trên thế giới và trong nước là cần thiết khi tìm hiểu vấn đề này. Hướng nghiên cứu truyền thống về lịch sự Khái niệm lịch sự đã được nhắc đến từ lâu nhưng đến những năm 70 của thế kỉ XX, nó mới thực sự trở thành lý thuyết và trở thành mối quan tâm chính của ngữ dụng học. Sự ra đời của lý thuyết lịch sự chính thức đánh dấu bằng sự xuất hiện cuốn sách Lịch sự - một vài phổ niệm trong cách dùng ngôn ngữ (Politeness – some universals in language usage) (1978, 1987) [92. Lý thuyết này được đánh giá là có hiệu quả nhất và có ảnh hưởng rộng rãi nhất đối với việc nghiên cứu về lịch sự.
Kể từ khi cuốn sách được xuất bản, trên thế giới đã tồn tại nhiều quan điểm trái ngược, nhiều khuynh hướng nghiên cứu về lịch sự. Nhìn một cách tổng quát, có thể thấy có hai khuynh hướng chính trong các công trình nghiên cứu về lịch sự. Thứ nhất là khuynh hướng nghiên cứu truyền thống, phổ biến những năm 79, 80 và đầu những năm 90 của thế kỉ XX. Thứ hai là khuynh hướng mới trong nghiên cứu về lịch sự, phổ biến khoảng hơn chục năm trở lại đây.
8 Với khuynh hướng nghiên cứu truyền thống, lịch sự được nhìn nhận ở bốn góc độ chính: góc độ chuẩn xã hội (the social – norm view); góc độ phương châm hội thoại (the conversation maxim view); góc độ thể diện (the face – saving view) và góc độ cộng tác hội thoại (the conversation contract view). Góc độ chuẩn xã hội Lịch sự được hiểu là cách hành xử phù hợp với hệ thống quy ước chuẩn mực trong xã hội. Trong cuốn sách Phép xã giao và những chỉ dẫn về phép lịch sự dùng cho các quý bà (Ladies’s Book of etiquette and manual of politeness), J. Boston đã đưa ra một loạt các quy ước nhằm đạt được lịch sự trong giao tiếp.
Chẳng hạn: “… né tránh những đề tài có liên quan đến những sự kiện hay tình huống gợi lên nỗi đau hay điều bất hạnh” hay “đừng bao giờ vặn hỏi về tính xác thực của bất kì một lời công bố nào trong các cuộc thoại mang tính chất chung chung” [17. Góc độ quy tắc hội thoại Người tiêu biểu cho hướng tiếp cận này là R. Bà là một trong những người đầu tiên nghiên cứu lịch sự ở góc độ ngữ dụng học. Lý thuyết lịch sự của bà dựa trên Nguyên tắc cộng tác của Grice (Grice’s Cooperative Principle – CP).
Theo Lakoff, động cơ của lịch sự là tạo lập sự hài hoà giữa các nhân vật giao tiếp. Bà viết: “… một hệ thống các quan hệ cá nhân được thiết lập để tạo thuận lợi cho giao tiếp bằng cách tối thiểu hoá khả năng gây xung đột và đối đầu vốn tàng ẩn trong mọi mối tương giao của con người” [Dt 58. Lakoff nêu lên ba loại quy tắc lịch sự: (1) Không dồn ép (don’t impose), dùng trong nghi lễ chính thức hay trong ngoại giao; (2) Để ngỏ sự lựa chọn (give options), dùng trong bối cảnh không nghi lễ; (3) làm cho người nói chuyện với mình cảm thấy thoải mái (make a feel good – be friendly), dùng trong bối cảnh gần gũi, thân mật. Mặc dù những quy tắc này luôn có mặt trong bất kì tương tác nào nhưng ở các nền văn hoá khác nhau sẽ có xu hướng 9 nhấn mạnh hơn vào các nguyên tắc khác nhau.
Tuỳ thuộc vào việc chọn quy tắc nào là quan trọng nhất, một nền văn hoá có thể tán thành chiến lược Khoảng cách (quy tắc 1), Kính trọng (quy tắc 2), hay Thân thiện (quy tắc 3). “Nói một cách đại thể, văn hoá châu Âu có xu hướng nhấn mạnh chiến lược khoảng cách, văn hoá châu Á có xu hướng nhấn mạnh sự kính trọng và văn hoá châu Mỹ hiện đại có xu hướng nhấn mạnh sự thân thiện”.; tr 22] Trong số những nhà khoa học đi tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu này không thể không nhắc đến J. Ông xây dựng mô hình lịch sự dựa trên thuật giao tiếp trong tương tác liên nhân (interpersonal rhetoric) và coi lịch sự là sự lảng tránh xung đột. Dựa trên khái niệm tổn thất (cost) và lợi ích (benefit), Leech đưa ra quy tắc lịch sự: “(Trong những điều kiện khác như nhau) hãy giảm thiểu những biểu hiện của niềm tin không lịch sự; (trong những điều kiện khác như nhau) hãy tăng tối đa những biểu hiện của niềm tin lịch sự” [Dt 6.
Quy tắc này được cụ thể hoá bằng sáu phương châm sau: (1) Phương châm tế nhị (Giảm thiểu tổn thất mà người khác phải chịu; tăng tối đa lợi ích mà người khác được hưởng); (2) Phương châm hào hiệp (Giảm thiểu lợi ích mình được hưởng; tăng tối đa tổn thất mà mình phải chịu); (3) Phương châm tán thưởng (Giảm thiểu sự chê bai người khác và tăng tối đa sự khen ngợi cho người khác); (4) Phương châm khiêm tốn (Giảm thiểu sự khen ngợi mình và tăng tối đa sự chê bai mình); (5) Phương châm tán đồng (Giảm thiểu sự bất đồng giữa ta và người; gia tăng sự đồng thuận giữa ta và người); (6) Phương châm thiện cảm (Giảm thiểu ác cảm giữa ta và người; tăng tối đa thiện cảm giữa ta và người) [Dt 6. 10 Góc độ thể diện Các tác giả tiêu biểu cho hướng tiếp cận này là Brown và Levinson (1978/1987). Cái tên Brown và Levinson gần như gắn liền với từ “lịch sự” như một nhà nghiên cứu đã nói “không thể nói về lịch sự nếu không nhắc đến Brown và Levinson” [111. Cũng như Lakoff, Brown và Levinson nhìn lịch sự là sự tránh xung đột trong giao tiếp nhưng công cụ giải thích của họ khác với Lakoff.
Vấn đề trung tâm trong lý thuyết của Brown và Levinson là “tính hữu lý” (rationality) và “thể diện” (face), cả hai đều được xem là mang các đặc điểm phổ quát. Theo hai tác giả, thể diện là yếu tố rất nhạy cảm, có thể bị tổn hại, có thể được duy trì và nâng cao. Lịch sự là hệ thống các chiến lược nhằm làm giảm nhẹ các hành động đe doạ thể diện (face–threatening acts). Brown và Levinson đã đưa ra năm chiến lược (five strategies) tương tác bằng ngôn ngữ và khẳng định rằng mô hình chiến lược này có tính ứng dụng phổ quát.
Trong giao tiếp, người nói phải tính toán, cân nhắc các mức độ đe doạ thể diện của hành động ngôn trung mình định thực hiện để từ đó tìm cách giảm nhẹ mức độ đe doạ thể diện. Góc độ cộng tác hội thoại B. Fraser và Nolen (1981) là các tác giả tiêu biểu cho khuynh hướng này. Theo họ, “lịch sự không hẳn như Lakoff và Leech nói làm cho người nghe cảm thấy vui vẻ, thoải mái và cũng không hẳn như Brown và Levinson hiểu là làm cho người nghe không cảm thấy khó chịu, mà đơn giản là, với một nhiệm vụ được giao phó, ta phải hoàn thành nó dưới ánh sáng của nguyên tắc cộng tác hội thoại”.
Như vậy, lịch sự chịu sự điều khiển của quy tắc hội thoại và sự cộng tác hội thoại. Khi những người tham gia tuân thủ theo đúng quy tắc ấy, họ đã đạt được yêu cầu về lịch sự. Ngược lại, khi họ hành động không đúng như vậy, họ sẽ bị coi là bất lịch sự. 11 Trong bốn góc độ nghiên cứu kể trên, lý thuyết của Brown và Levinson được coi là có ảnh hưởng nhất.
Sau khi cuốn sách của Brown và Levinson được tái bản, nhiều nhà nghiên cứu từ khắp nơi trên thế giới đã lên tiếng ủng hộ. Họ đã nghiên cứu theo hướng ứng dụng dựa trên mô hình lý thuyết của Brown và Levinson. Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu không đồng tình với quan điểm của Brown và Levinson. Những đại biểu này đến từ nền văn hóa phương Đông như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc.
Tiêu biểu là các tác giả: Ide (1989), Hill Etal (1986), Matsumoto (1988), Gu (1990)…Theo họ, ở các nền văn hóa trọng tính cộng đồng như phương Đông, lịch sự trước hết là hành vi ứng xử chuẩn mực, phù hợp với những quy định, tôn ti trật tự trong xã hội. Hướng tiếp cận mới về lịch sự Một số học giả đưa ra hướng tiếp cận mới về lịch sự. Xu hướng này thể hiện rõ ràng nhất trong vòng hơn mười năm trở lại đây. Có thể tóm lược các hướng nghiên cứu mới như sau: Hướng tiếp cận hậu hiện đại (post–modern approach) với các tác giả tiêu biểu: Eelen (2001), Mills.
Sự khác nhau của hướng tiếp cận này so với hướng tiếp cận truyền thống thể hiện ở một số khía cạnh sau. Trước tiên, đó là sự từ chối khung làm việc truyền thống của Grice, nhấn mạnh vào việc điều hòa mối quan hệ hòa hợp và vào ý định của người nói, vào những gì được người nghe nhận thức. Họ cho rằng khung nghiên cứu của Grice không phù hợp với những cuộc thoại mang tính đối kháng, xung đột, vốn lại rất phổ biến trong đời sống (“it is inappropriate to account for conflictual/antagonistic exchanges, such as are common in real life” [Dt 120. Khuynh hướng hậu hiện đại cũng hướng tới người nghe, họ đặt lịch sự trong sự đánh giá của người nghe hơn là ý định của người nói.
Khuynh hướng 12 này cũng từ chối lý thuyết hành động ngôn ngữ (Mills 2003). Các tác giả cho rằng lịch sự không thể tập trung vào những phát ngôn riêng lẻ mà phải hướng vào những diễn ngôn dài hơn. Ở khía cạnh này, khuynh hướng hậu hiện đại nhấn mạnh vào sự cần thiết phải nghiên cứu hội thoại theo một quá trình. Hướng tiếp cận theo tính chất quan hệ (the relational approach) với các tác giả tiêu biểu: Watts (2003) Locher (2004, 2006), Locher và Watts (2005), Spencer-Oatey (2005, 2007).
Locher và Watts viết: “Hoạt động điều tiết mối quan hệ được hiểu là sự đầu tư của con người vào việc điều hoà mối quan hệ của họ trong giao tiếp” [118.