Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn với đề tài "Ngôn ngữ thơ Nguyễn Bính (Dựa trên cứ liệu trước 1945)", chuyên ngành Ngôn ngữ Việt Nam (mã số: 9 22 01 02), do nghiên cứu sinh Đỗ Anh Vũ thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Mai Ngọc Chừ tại Khoa Ngôn ngữ học, Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, bảo vệ năm 2018.

Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ vị trí của thi ca trong phân ngành phong cách học và xu hướng nghiên cứu liên ngành ngôn ngữ học – văn học. Trong tiến trình văn học sử Việt Nam thế kỷ XX, phong trào Thơ Mới (1932 - 1945) ghi nhận Nguyễn Bính là một gương mặt tiêu biểu với danh xưng "thi sĩ chân quê", đồng thời là tác giả sở hữu số lượng ấn phẩm xuất bản trước năm 1945 nhiều nhất so với các thi sĩ đương thời. Các sáng tác của ông có độ phổ biến rộng rãi trong quần chúng nhân dân. Tuy nhiên, khoảng trống nghiên cứu thực tế cho thấy các công trình trước đây về Nguyễn Bính chủ yếu tiếp cận dưới góc độ văn học thuần túy hoặc phê bình ấn tượng. Chưa có một công trình nào khảo sát một cách toàn diện, có hệ thống về di sản thi ca trước Cách mạng của Nguyễn Bính từ góc độ ngôn ngữ học trên cả ba bình diện: ngữ âm, ngữ pháp và từ vựng - ngữ nghĩa. Đề tài được triển khai nhằm phân tích cụ thể các cơ sở ngôn ngữ học tạo nên sức sống và khả năng lưu truyền của thơ Nguyễn Bính.

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể như sau:

  1. Mục đích nghiên cứu: Làm rõ phong cách thơ Nguyễn Bính từ góc độ ngôn ngữ học; phác họa bức tranh toàn cảnh về ba bình diện gồm đặc điểm ngữ âm, đặc điểm ngữ pháp và đặc điểm từ vựng - ngữ nghĩa, qua đó làm sáng tỏ các giá trị nội dung tư tưởng, giá trị nghệ thuật cùng những đóng góp, sáng tạo của tác giả.
  2. Nhiệm vụ nghiên cứu: Khảo sát, thống kê, miêu tả và phân tích các đặc điểm ngôn ngữ học tiêu biểu thuộc ba bình diện nêu trên qua 272 bài thơ sáng tác giai đoạn trước 1945 của Nguyễn Bính; chỉ ra phong cách ngôn ngữ cá nhân và đối chiếu với các tác giả cùng thời kỳ.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ các đặc điểm ngữ âm, ngữ pháp và từ vựng - ngữ nghĩa trong các sáng tác ở dạng bài thơ (loại trừ thể loại truyện thơ) của Nguyễn Bính được viết trong giai đoạn trước năm 1945.
  • Phạm vi tư liệu: Căn cứ vào bộ sách Nguyễn Bính toàn tập (Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 2008), nguồn cứ liệu được xác lập từ 7 tập thơ xuất bản trước năm 1945 và các bài thơ in báo lẻ:
    • Lỡ bước sang ngang (Nhà xuất bản Lê Cường, Hà Nội, 1940): 34 bài.
    • Tâm hồn tôi (Nhà xuất bản Lê Cường, Hà Nội, 1940): 39 bài.
    • Hương cố nhân (Nhà xuất bản Asiatia, 1941): 31 bài.
    • Một nghìn cửa sổ (1941): 43 bài.
    • Mười hai bến nước (Nhà xuất bản Mộng Hàm, 1942): 14 bài.
    • Người con gái ở lầu hoa (Nhà xuất bản Hương Sơn, 1942): 25 bài.
    • Mây Tần (Nhà xuất bản Hương Sơn, 1942): 28 bài.
    • Các bài thơ lẻ in báo nằm ngoài 7 tập trên: 61 bài. Sau khi loại trừ 5 bài thơ dịch, tổng số văn bản khảo sát của luận án là 272 bài thơ. Phạm vi không gian và thời gian nghiên cứu gắn liền với bối cảnh xã hội và văn học Việt Nam giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám năm 1945.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án điểm lại lịch sử nghiên cứu ngôn ngữ thơ và chân dung tác giả Nguyễn Bính qua hai phân nhánh tiếp cận chính:

  1. Tiếp cận ngôn ngữ thơ từ góc độ văn học:
  • Khởi đầu từ lối phê bình ấn tượng của Hoài Thanh và Hoài Chân trong Thi nhân Việt Nam (1942) khi định danh các hồn thơ và chỉ ra phẩm chất "hồn xưa của đất nước", chất quê mùa kín đáo ở Nguyễn Bính; cùng thời có nhận định của Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn Việt Nam hiện đại về "tình quê xác thực" trong lối viết mộc mạc của ông.
  • Ở miền Nam trước năm 1975, thơ Nguyễn Bính được phân tích trong giáo trình và sách văn học sử của Trần Tuấn Kiệt (Thi ca Việt Nam hiện đại, 1967), Nguyễn Tấn Long (Việt Nam thi nhân tiền chiến, quyển Thượng, 1968), Phạm Thế Ngũ (Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, 1961), tập trung vào các chủ đề bề mặt như cảnh sắc thôn quê, người phụ nữ, nỗi buồn.
  • Tại miền Bắc sau năm 1975, hướng thi pháp học và phong cách học văn học phát triển với các công trình của Nguyễn Đăng Mạnh (1980, bộ công cụ 4 thành tố tiếp cận phong cách), Đỗ Lai Thúy (Con mắt thơ, 1992), Chu Văn Sơn (Ba đỉnh cao Thơ mới, 2003), Đoàn Đức Phương (Nguyễn Bính – hành trình sáng tạo thi ca, 2005); các tiểu luận thi pháp học của Thụy Khuê ở hải ngoại (Thi pháp Nguyễn Bính, Nguyễn Bính mười hai bến nước); cùng các luận văn thạc sĩ chuyên ngành văn học của Bùi Tấn Văn (2011), Nguyễn Thị Kim Dung (2016), Lê Thị Thu Hiến (2006), Lê Thị Hằng (2008). Trần Đình Sử đóng góp hệ thống chuyên luận thi pháp học như Thi pháp thơ Tố Hữu (1987), Thi pháp Truyện Kiều (2002), Thi pháp văn học trung đại Việt Nam (1998), Những thế giới nghệ thuật thơ (1995). Các nghiên cứu phong cách của Phan Ngọc (Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều, 1985) và Hà Minh Đức (Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại, 1974; Văn chương – tài năng và phong cách, 2001) cũng được tổng kết.
  1. Tiếp cận ngôn ngữ thơ từ góc độ ngôn ngữ học:
  • Lý thuyết ngôn ngữ học thi ca quốc tế: Roman Jakobson với luận điểm về chức năng thi ca đưa nguyên lý tương đương của trục tuyển lựa chiếu lên trục kết hợp, mô hình giao tiếp 6 nhân tố và 6 chức năng (Ngôn ngữ học và thi học, bản dịch của Cao Xuân Hạo, 2001); Iu. M. Lotman với chuyên luận Cấu trúc văn bản nghệ thuật (khảo cứu tính lặp lại ngữ âm, nhịp điệu, cú pháp, cấp độ âm luật).
  • Các công trình Việt ngữ học: Chuyên luận Ngôn ngữ thơ (1987) của Nguyễn Phan Cảnh; Ngôn ngữ thơ Việt Nam (1998) của Hữu Đạt; Vần thơ Việt Nam dưới ánh sáng ngôn ngữ học (1991, 2005) của Mai Ngọc Chừ; Nhịp điệu ngôn ngữ thơ văn Việt Nam (2015) của Vũ Thị Sao Chi; Thi luật thơ lục bát trong Truyện Kiều (2015) của Lý Toàn Thắng; Âm tiết tiếng Việt và ngôn từ thi ca (2017) của Nguyễn Quang Hồng và Phan Diễm Phương; Ngôn ngữ văn chương (2011) của Hoàng Kim Ngọc và Hoàng Trọng Phiến; Ngôn ngữ với văn chương của Bùi Minh Toán. Các luận án tiến sĩ tiêu biểu gồm nghiên cứu của Hoàng Kim Ngọc (2003), Hồ Văn Hải (2004), Nguyễn Thị Phương Thùy (2008). Về tác giả Nguyễn Bính dưới góc độ ngôn ngữ, mới chỉ có các khóa luận, luận văn quy mô nhỏ như khảo sát từ đồng nghĩa của Vũ Thị Hòa (2007), phương tiện nối kết của Đỗ Anh Vũ (2008), chất chân quê của Trần Yến Ngọc (2010).

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Các công trình trước đó chủ yếu dừng lại ở phân tích mỹ học, cảm thụ văn chương hoặc nghiên cứu cục bộ từng phương diện ngữ pháp, từ vựng riêng lẻ. Luận án xác lập vị trí là công trình đầu tiên khảo sát đồng bộ hệ thống thi phẩm trước 1945 của Nguyễn Bính từ điểm nhìn ngôn ngữ học cấu trúc và phong cách học, kết hợp định lượng thống kê với định tính ngữ nghĩa trên ba bình diện ngữ âm, ngữ pháp và từ vựng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết của luận án được xây dựng từ sự kế thừa các thành tựu Việt ngữ học và thi học cấu trúc:

  • Định nghĩa về thơ: Kế thừa quan điểm của Hữu Đạt, luận án xác lập khái niệm thao tác: "Thơ là một thể loại văn học, là một chỉnh thể văn bản ngôn từ có sự tương xứng giữa nội dung và hình thức biểu hiện. Thơ mang đặc trưng của tư duy hình tượng với sự tham gia của vần điệu và các quy luật hòa phối ngữ âm trong từng ngôn ngữ, về nội dung có nhiệm vụ hướng con người đến Chân, Thiện, Mỹ, đến những giá trị vững bền của đời sống; về hình thức cần đảm bảo các nguyên tắc: thẩm mỹ, công phu, sáng tạo".
  • Lý thuyết về vần thơ: Vận dụng định nghĩa và phân loại của Mai Ngọc Chừ (Vần thơ Việt Nam dưới ánh sáng ngôn ngữ học). Theo mức độ hòa âm, vần được chia thành: vần chính (đồng nhất thanh điệu theo âm vực bằng/trắc, đồng nhất âm chính và âm cuối; chia làm 4 kiểu cấu trúc), vần thông (đồng nhất thanh điệu, âm cuối hoặc âm chính đồng nhất đặc trưng âm học; chia làm 4 kiểu cấu trúc), và vần ép (thanh điệu và âm cuối tương đồng nhưng nguyên âm âm chính không đồng nhất đặc trưng âm sắc và âm lượng).
  • Lý thuyết về nhịp điệu: Vận dụng nghiên cứu của Vũ Thị Sao Chi, luận án thu gọn 9 tiêu chí nhận diện nhịp điệu âm thành bộ 7 tiêu chí: ngừng/ngắt nhịp, trường độ, cao độ và đường nét (kết hợp tiêu chí cao độ, đường nét và phối hợp thanh điệu), tốc độ, cường độ, điểm nhấn, và hiệp vần. Luận án cũng phân tích nhịp điệu ý – sự lặp lại có tính chu kỳ của hình ảnh, trạng thái, mô típ ngữ nghĩa.
  • Lý thuyết về trường từ vựng và trường nghĩa: Kế thừa quan điểm của J. Weisgerber, Đỗ Hữu Châu (trường từ vựng ngữ nghĩa biểu vật, biểu niệm, ngoại vi trường) và Nguyễn Thiện Giáp (phân định trường nghĩa có nội hàm rộng hơn trường từ vựng).
  • Khái niệm tín hiệu thẩm mỹ: Tiếp thu định nghĩa của Đỗ Ngọc Thư và Bình Thành về cấu trúc tín hiệu nghệ thuật trên hai bình diện: hằng thể trừu tượng và biến thể biểu hiện cụ thể trong văn bản.
  • Phân loại các lớp từ: Vận dụng khung phân loại của Nguyễn Thiện Giáp trong Từ vựng học tiếng Việt để nhận diện lớp từ điển tích điển cố thuộc nhóm từ ngữ cổ/lịch sử và từ vựng sách vở.

Phương pháp nghiên cứu thực tế:

  • Phương pháp chủ đạo: Phương pháp miêu tả ngôn ngữ học, triển khai từ miêu tả hình thức bên ngoài (định lượng hóa dữ liệu văn bản) đến phân tích các giá trị biểu đạt nội dung tư tưởng (định tính hóa).
  • Các phương pháp và thao tác liên ngành bổ trợ:
    • Phương pháp thống kê: Lập bảng tần số, tính tỷ lệ phần trăm về các thể thơ, loại vần, mô hình ngắt nhịp, cấu trúc nhan đề, từ loại, hư từ, địa danh, tín hiệu thẩm mỹ.
    • Phân tích tu từ học và thi pháp học ngôn ngữ: Khảo sát giá trị biểu cảm của thanh điệu, ngữ điệu, dấu câu, các biện pháp điệp ngữ, chuyển loại từ vựng.
    • Phương pháp so sánh: Đối chiếu số liệu hòa âm của Nguyễn Bính với 97 bài ca dao lục bát; so sánh độ dài bài thơ và tần số sử dụng hư từ giữa Nguyễn Bính với Huy Cận (Lửa thiêng), Xuân Diệu (Thơ thơ, Gửi hương cho gió), và so sánh từ ngữ động vật với thơ Đoàn Văn Cừ.
    • Phân tích thể loại và phân tích diễn ngôn.

Nguồn tư liệu khảo sát: Toàn văn 272 bài thơ của Nguyễn Bính trước năm 1945 trong Nguyễn Bính toàn tập (2008), cùng tư liệu đối sánh trích từ Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam của Vũ Ngọc Phan (2004) và các tập thơ lãng mạn đương thời.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và Cơ sở lí thuyết

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở nghiên cứu và lý luận qua 5 nội dung chính:

  • Tổng quan khái niệm thơ và ngôn ngữ thơ: Trình bày các quan điểm phương Tây (Aristotle, Roman Jakobson, Iu. M. Lotman), phương Đông (Bạch Cư Dị) và các tác giả, nhà phê bình, nhà ngôn ngữ học Việt Nam (Tố Hữu, Lưu Trọng Lư, Thanh Tịnh, Chế Lan Viên, Lê Đạt, Trần Dần, Lê Hữu Trác, Phạm Quang Trung, Mã Giang Lân, Phan Ngọc, Nguyễn Phan Cảnh, Hữu Đạt).
  • Phân tích hai hướng tiếp cận ngôn ngữ thơ từ góc độ văn học và ngôn ngữ học ở Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến nay.
  • Tổng kết tình hình nghiên cứu về tác giả Nguyễn Bính qua các giai đoạn lịch sử tại miền Bắc, miền Nam trước năm 1975 và sau năm 1975.
  • Thiết lập khung cơ sở lý thuyết vận dụng trong luận án: định nghĩa ngôn ngữ thơ; lý thuyết vần thơ (vần chính, vần thông, vần ép theo Mai Ngọc Chừ); lý thuyết nhịp điệu âm và nhịp điệu ý (theo Vũ Thị Sao Chi); lý thuyết trường từ vựng và trường nghĩa (theo Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp); lý thuyết tín hiệu thẩm mỹ và các lớp từ ngữ tiếng Việt.
  • Khái quát thân thế và sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Bính (1918 - 1966): Tên khai sinh Nguyễn Trọng Bính, quê Vụ Bản, Nam Định; bắt đầu làm thơ từ 13 tuổi; nhận giải khuyến khích Tự lực văn đoàn năm 1937, giải nhất Nam Xuyên năm 1944; để lại di sản 33 tập tác phẩm gồm thơ, truyện thơ, kịch thơ, kịch bản chèo; nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 2000. Khẳng định phạm vi tư liệu 272 bài thơ giai đoạn trước 1945 là khu vực tập trung các đỉnh cao nghệ thuật của tác giả.

Chương 2: Đặc điểm hình thức thơ Nguyễn Bính

Chương 2 đi sâu khảo sát các bình diện cấu trúc hình thức của 272 bài thơ trước năm 1945, thể hiện qua các phát hiện và hệ thống số liệu cụ thể:

  1. Thống kê thể loại thơ: Lục bát và thất ngôn là hai thể loại chiếm ưu thế tuyệt đối trong sáng tác của Nguyễn Bính.
Thể thơ Số lượng bài Tỷ lệ (%)
Thất ngôn 130 47,8%
Lục bát 122 44,9%
Ngũ ngôn 10 3,7%
Tự do 4 1,5%
Bốn chữ 3 1,1%
Hát nói 2 0,7%
Song thất lục bát 1 0,4%
Tổng cộng 272 100%

Hai thể thơ thất ngôn và lục bát chiếm 252/272 bài (tương đương 93% tổng số tác phẩm). Trong 130 bài thất ngôn, cấu trúc thể loại được phân chia thành: thất ngôn nhiều khổ (105 bài), thất ngôn bốn câu (15 bài), thất ngôn trường thiên (8 bài), và thất ngôn bát cú Đường luật (2 bài).

  1. Đặc điểm vần thơ thất ngôn: Khảo sát 1137 cặp/lần hiệp vần trong ba tiểu nhóm thất ngôn (nhiều khổ, bốn câu, bát cú; không tính thể trường thiên):
  • Vần chính: 652 cặp, chiếm 57%.
  • Vần thông: 485 cặp, chiếm 43%.
  • Vần ép: 0 cặp, chiếm 0%.

Luận án chỉ ra 4 bài thơ thất ngôn đạt tỷ lệ gieo vần chính tuyệt đối 100%: 1 bài chữ Hán thất ngôn bát cú (Lời một người sư nữ nhớ nhà) và 3 bài thất ngôn bốn chữ/nhiều khổ (Cô hái mơ, Gái xuân, Đề thơ trên mảnh quạt vàng). Khảo sát cấu trúc ngữ âm và thanh điệu ở hai bài thơ tiêu biểu cho thấy tính nhạc cao:

Bài thơ Bằng Trắc Không đứt gẫy Đứt gẫy Âm vực cao Âm vực thấp
Cô hái mơ 64 (57%) 48 (43%) 103 (91%) 9 (9%) 73 (65%) 39 (35%)
Gái xuân 42 (75%) 14 (25%) 52 (93%) 4 (7%) 43 (77%) 13 (23%)

Sự áp đảo của thanh bằng, thanh không đứt gẫy (thanh không dấu, thanh huyền, thanh sắc, thanh nặng) và âm vực cao kết hợp với vần chính tạo nên âm hưởng vang mở cho tác phẩm. Trong 610 khổ thơ thất ngôn (không tính 2 bài bát cú), phân bố mô hình vần được thống kê như sau:

Mô hình vần Số lượng khổ Tỷ lệ (%)
AABA 441 72%
BACA 157 26%
BABA 12 2%
Tổng cộng 610 100%

Mô hình AABA chiếm ưu thế tuyệt đối, phản ánh dấu ấn cấu trúc của thơ tứ tuyệt Đường luật. Ngoài ra, xuất hiện 3 trường hợp vần trắc trong khổ thất ngôn mang dụng ý nghệ thuật nhấn mạnh tâm trạng (Vô tình, Trong vườn cúc).

  1. Những bài thơ thất ngôn trường thiên: Nguyễn Bính có 8 bài thất ngôn trường thiên có độ dài không giới hạn theo cấu trúc thể cổ phong: Tạ Từ (34 câu, khuôn vần "an" - "ang"), Đêm mưa đất khách (38 câu, độc vận "a", vần chính toàn bài), Hành phương Nam (43 câu, 32 câu vần "ay", 11 câu vần "ơi"), Bài thơ vần Rẫy (44 câu, vần "ây"), Trời mưa ở Huế (60 câu, vần "ay"), Oan nghiệt (72 câu, 40 câu vần "ôi" - "ơi", 20 câu vần "a", 12 câu vần "on"), Xuân vẫn tha hương (96 câu, khuôn vần "ương"), Xuân tha hương (100 câu, khuôn vần "ong" - "ung" - "ông"). Trong đó có 6/8 bài thơ sử dụng độc vận duy nhất từ đầu đến cuối tác phẩm. So với các bài thơ dài nhất của Huy Cận (Nhạc sầu, 37 câu) và Xuân Diệu (Vội vàng, 39 câu), các tác phẩm trường thiên của Nguyễn Bính có quy mô câu thơ vượt trội và duy trì một khuôn vần liên tục.

  2. Đặc điểm vần thơ lục bát: Khảo sát 122 bài lục bát (từ bài ngắn nhất 2 câu như Hoa cỏ may đến bài dài nhất 110 câu như Lỡ bước sang ngang), tổng hợp được 1899 cặp hiệp vần:

  • Vần chính: 1094 cặp, chiếm 58%.
  • Vần thông: 805 cặp, chiếm 42%.
  • Vần ép: 0 cặp, chiếm 0%.

So sánh với 97 bài ca dao lục bát trong tư liệu của Vũ Ngọc Phan (104 cặp vần: vần chính 79 cặp chiếm 76%, vần thông 24 cặp chiếm 23%, vần ép 1 cặp chiếm 1%), thơ lục bát Nguyễn Bính không có vần ép, duy trì mức độ hòa âm cao. Về vị trí gieo vần, quy tắc chuẩn (tiếng thứ 6 câu bát vần với tiếng thứ 6 câu lục, tiếng thứ 8 câu bát vần với tiếng thứ 6 câu lục sau) là chủ đạo. Tuy nhiên, có 11 trường hợp gieo vần lưng ở chữ thứ 4 câu bát bắt vần với chữ thứ 6 câu lục qua 7 bài thơ (tiêu biểu bài Ngưu Lang Chức Nữ có 4 lần). Về kỷ lục vần chính tuyệt đối, bài lục bát ngắn nhất đạt chuẩn này là Xa cách (4 câu), bài dài nhất là Đường rừng chiều (10 câu lục bát với 9 cặp vần chính tuyệt đối: cơm – thơm, rừng – ngừng, ngừng – lưng, chiều – diều, diều – liều, mây – cây, cây – gầy, xe – chè, chè – lè). Đoạn cuối bài Qua nhà cũng ghi nhận 10 câu lục bát liên tiếp dùng vần chính.

  1. Nhịp điệu và nghệ thuật ngắt nhịp: Bên cạnh nhịp chẵn truyền thống (2/2/2 ở câu lục; 2/2/2/2, 4/4 ở câu bát), Nguyễn Bính sử dụng linh hoạt các biến thể nhịp ngắt lẻ:
  • Nhịp phá cách ở câu lục: nhịp 1/1/4 (4 lần), nhịp 1/5 (6 lần), nhịp 2/1/3 (3 lần), nhịp 3/1/2 (1 lần), nhịp 1/2/3 (1 lần), nhịp 2/1/1/1 (1 lần).
  • Nhịp phá cách ở câu bát: nhịp 3/3/2 (23 lần), nhịp 3/5 (6 lần), nhịp 5/3 (1 lần), nhịp 1/7 (1 lần), nhịp 2/1/5 (2 lần), nhịp 4/1/3 (1 lần), nhịp 1/1/1/1/1/1/1/1 (1 lần), nhịp 1/3/4 (1 lần).
  • Sử dụng kết lửng chỉ bằng một câu lục 6 chữ để khép lại thi phẩm (Lơ đãng, Một con sông lạnh).
  • Trong thể thất ngôn: Bên cạnh nhịp truyền thống 4/3 và 2/2/3, nhịp ngắt biến thể xuất hiện phổ biến là nhịp 2/5 (188 lần), nhịp 5/2 (16 lần), nhịp 3/1/3 (2 lần), nhịp 1/1/2/3 (3 lần), nhịp 2/4/1 (2 lần), nhịp 2/3/2 (1 lần), nhịp 2/2/1/2 (1 lần), nhịp 1/1/1/1/1/2 (1 lần), nhịp 1/1/5 (1 lần), nhịp 1/1/1/1/1/1/1 (1 lần), nhịp 1/3/3 (3 lần), nhịp 2/1/4 (1 lần). Ngoài ra còn có thủ pháp đột ngột rút ngắn câu thơ xuống 3 tiếng (Nhạc xuân) hoặc xen kẽ câu 6 tiếng vào bài thất ngôn (Chiều quê, Lá mùa thu).
  1. Cấu trúc nhan đề tác phẩm: Khảo cứu 273 nhan đề thi phẩm trước năm 1945:
Cấu trúc nhan đề Danh từ Động từ Tính từ Cảm từ Tổng cộng Tỷ lệ (%)
Nhan đề là Từ 16 15 13 1 45 16,5%
Nhan đề là Ngữ 129 63 6 0 198 72,5%
Nhan đề là Câu - - - - 30 11,0%
Tổng số 145 78 19 1 273 100%

Nhan đề dạng Ngữ chiếm đa số (72,5%), trong đó ngữ danh từ chiếm tỷ lệ cao nhất (129 nhan đề), đóng vai trò cung cấp lượng thông tin định hướng vừa phải cho việc tiếp nhận thi phẩm. Nhan đề là Câu đều là cấu trúc câu đơn ngắn gọn. Chương này cũng tổng hợp vị trí dấu ba chấm, câu hỏi, điệp ngữ, tần số hư từ và so sánh tương quan thực từ - hư từ với thơ Huy Cận.

Chương 3: Đặc điểm ngữ nghĩa thơ Nguyễn Bính

Chương 3 khảo cứu ngữ nghĩa học qua các trường từ vựng và tín hiệu biểu trưng:

  • Các yếu tố ngôn ngữ chỉ không gian nghệ thuật: Phân loại không gian trong nhan đề, các không gian chung, không gian nông thôn truyền thống văn hóa (giếng thơi, giàn trầu, bờ tre, vườn dâu, khung cửi), không gian nông thôn cụ thể, không gian thành thị, không gian phiêu bạt (quán trọ, sông bến, nẻo đường quan tái), các địa danh cụ thể và địa danh điển tích, không gian ước lệ tượng trưng.
  • Các yếu tố ngôn ngữ chỉ thời gian nghệ thuật: Phân tích thời gian chu kỳ ngày (ban ngày, buổi chiều, đêm và biểu tượng đêm); thời gian chu kỳ năm (bốn mùa trong thơ và qua nhan đề, hệ thống tín hiệu từ vựng miêu tả mùa thu).
  • Ba tín hiệu thẩm mỹ đặc sắc: Khảo sát chi tiết cấu trúc hằng thể và biến thể ngữ nghĩa của ba tín hiệu "vườn", "bướm" và "rượu".
  • Các yếu tố ngôn ngữ chỉ con người và thiên nhiên: Khảo sát lớp từ định danh con người (đối sánh với định danh nhân vật nữ trong thơ Xuân Diệu); lớp từ ngữ chỉ thực vật và động vật (đối sánh với các từ ngữ chỉ động vật trong thơ nông thôn của Đoàn Văn Cừ).
  • Lớp từ ngữ điển tích điển cố: Phân loại, miêu tả tần số và phân tích giá trị biểu đạt của lớp từ ngữ sách vở/lịch sử trong việc tạo phong vị cổ điển cho các bài thơ trữ tình.

Kết quả và những đóng góp mới

Những đóng góp mới về mặt khoa học được tác giả tự xác định trong phần Mở đầu của luận án bao gồm:

  1. Đóng góp về lý luận và khoa học:
  • Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu về toàn bộ sáng tác thơ trước Cách mạng của Nguyễn Bính từ góc nhìn ngôn ngữ học một cách hệ thống, bao quát cả hai mặt hình thức ngữ âm, ngữ pháp và ngữ nghĩa từ vựng.
  • Kết quả nghiên cứu xác lập các bằng chứng ngôn ngữ học định lượng cụ thể (tỷ lệ vần, mô hình ngắt nhịp, tỷ lệ từ loại nhan đề, phân bố thanh điệu) để chứng minh phong cách ngôn ngữ cá nhân của Nguyễn Bính; kết hợp phong cách học truyền thống với các nguyên lý thi học cấu trúc.
  • Gợi mở một mô hình phân tích liên ngành giữa ngôn ngữ học, phong cách học văn bản nghệ thuật và thi pháp học tác giả cho việc nghiên cứu các tác gia thi ca Việt Nam hiện đại khác.
  1. Đóng góp về mặt thực tiễn:
  • Đóng góp nguồn tư liệu ngữ liệu được phân loại, thống kê chi tiết phục vụ nghiên cứu ngôn ngữ văn học và cấu trúc ngôn ngữ thơ tiếng Việt.
  • Ứng dụng trực tiếp vào việc đổi mới phương pháp giảng dạy môn Ngữ văn ở trường phổ thông cũng như các bậc đại học và sau đại học thông qua trường hợp tác gia Nguyễn Bính.
  • Cung cấp dẫn chứng và số liệu cụ thể phục vụ công tác biên soạn giáo trình, tài liệu chuyên khảo về ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ học nghệ thuật.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Căn cứ vào phạm vi và nội dung trình bày trong văn bản luận án, các hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp nối được ghi nhận như sau:

  • Về phạm vi ngữ liệu: Luận án chỉ giới hạn khảo sát 272 bài thơ trữ tình sáng tác trong giai đoạn trước năm 1945 dựa trên bộ sách Nguyễn Bính toàn tập (2008). Toàn bộ các tác phẩm thuộc thể loại truyện thơ (Cây đàn tỳ bà, Cô gái Ba Tư, Thạch xương bồ), kịch thơ (Bóng giai nhân, Nguyễn Trãi), truyện ngắn và toàn bộ mảng sáng tác thơ sau năm 1945 (gồm 12 tập thơ và các kịch bản sân khấu) không thuộc diện khảo cứu của công trình.
  • Về phạm vi thể loại: Trong hệ thống thể loại thơ trước 1945, luận án tập trung khảo sát định lượng chi tiết ở hai thể loại chiếm đa số là thất ngôn và lục bát (chiếm 93%); 5 thể thơ còn lại (ngũ ngôn, tự do, bốn chữ, hát nói, song thất lục bát) chiếm số lượng nhỏ nên chỉ được đề cập khi cần thiết.
  • Về mức độ so sánh: Việc đối sánh ngôn ngữ thơ mới chỉ tiến hành cục bộ ở một số chỉ tiêu cụ thể với các tác giả đương thời (đối sánh độ dài câu thơ và hư từ với Huy Cận; đối sánh định danh nhân vật nữ với Xuân Diệu; đối sánh từ ngữ chỉ động vật với Đoàn Văn Cừ; đối sánh hòa âm với 97 bài ca dao lục bát).
  • Hướng nghiên cứu tiếp nối: Luận án gợi mở việc mở rộng mô hình phân tích phong cách học ngôn ngữ sang các giai đoạn sáng tác sau 1945 của Nguyễn Bính để theo dõi sự biến chuyển ngôn ngữ nghệ thuật của tác giả giữa hai thời kỳ lịch sử; đồng thời áp dụng khung miêu tả ngữ âm - ngữ pháp - ngữ nghĩa này cho các tác gia khác trong phong trào Thơ Mới 1932 - 1945.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn cho các nhóm đối tượng và lĩnh vực cụ thể:

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Ngôn ngữ Việt Nam, Lý luận ngôn ngữ và Văn học Việt Nam: Cung cấp phương pháp luận kết hợp giữa nghiên cứu định lượng thống kê ngôn ngữ học với nghiên cứu phong cách nghệ thuật văn bản; cung cấp thao tác phân loại vần, phân tích nhịp điệu, trường từ vựng và tín hiệu thẩm mỹ.
  • Đối với giảng viên đại học và giáo viên Ngữ văn trường phổ thông: Tài liệu cung cấp các luận cứ ngôn ngữ học cụ thể để giảng dạy các tác phẩm của Nguyễn Bính (như Chân quê, Mưa xuân, Cô hái mơ, Lỡ bước sang ngang), tránh lối bình giảng thuần túy cảm tính.
  • Các phần nội dung đáng tham khảo nhất trong luận án:
    • Hệ thống tiêu chí và bảng biểu khảo sát vần thơ thất ngôn (Bảng 2.3, 2.6) và lục bát (Bảng 2.7); tiêu chí phân định vần chính, vần thông của Mai Ngọc Chừ áp dụng trên ngữ liệu thực tế.
    • Phân tích 8 bài thơ thất ngôn trường thiên độc vận và bảng thống kê nhịp ngắt phá cách bằng dấu câu trong thơ lục bát (Bảng 2.9) và thất ngôn (Bảng 2.10).
    • Khung khảo sát ngữ nghĩa về các trường không gian, thời gian và ba tín hiệu thẩm mỹ "vườn", "bướm", "rượu" ở Chương 3.

Câu hỏi thường gặp

  1. Luận án khảo sát bao nhiêu bài thơ của Nguyễn Bính và số lượng cụ thể theo từng thể loại là bao nhiêu? Luận án khảo sát tổng cộng 272 bài thơ sáng tác trước năm 1945 (loại trừ truyện thơ và 5 bài thơ dịch). Phân bố thể loại gồm: 130 bài thất ngôn, 122 bài lục bát, 10 bài ngũ ngôn, 4 bài thơ tự do, 3 bài bốn chữ, 2 bài hát nói và 1 bài song thất lục bát. Hai thể thất ngôn và lục bát chiếm 252 bài (93% tổng số ngữ liệu).

  2. Trong thể thơ thất ngôn của Nguyễn Bính, mô hình gieo vần nào chiếm tỷ lệ cao nhất? Khảo sát 610 khổ thơ thất ngôn (loại trừ 2 bài thất ngôn bát cú), mô hình phân bố vần AABA chiếm tỷ lệ cao nhất với 441 khổ (chiếm 72%). Mô hình BACA chiếm 157 khổ (26%), và mô hình BABA chiếm 12 khổ (2%). Tác giả chỉ ra mô hình AABA là sự tiếp nối hình thức của thơ tứ tuyệt Đường luật.

  3. Điểm đặc thù về hình thức của 8 bài thơ thất ngôn trường thiên trong thơ Nguyễn Bính là gì? Cả 8 bài thất ngôn trường thiên đều có độ dài câu thơ lớn (từ 34 đến 100 câu), viết theo thể cổ phong Đường luật. Đặc biệt, có 6/8 bài duy trì độc vận (chỉ dùng duy nhất một khuôn vần từ đầu đến cuối bài): Tạ Từ (34 câu, vần an/ang), Đêm mưa đất khách (38 câu, vần a chính tuyệt đối), Bài thơ vần Rẫy (44 câu, vần ây), Trời mưa ở Huế (60 câu, vần ay), Xuân vẫn tha hương (96 câu, vần ương), và Xuân tha hương (100 câu, vần ong/ung/ông). Hai bài còn lại cũng rất ít đổi vần (Hành phương Nam 2 vần, Oan nghiệt 3 vần).

  4. Tỷ lệ hòa âm giữa vần chính và vần thông trong thơ lục bát của Nguyễn Bính được thống kê như thế nào? Trong 122 bài thơ lục bát với 1899 cặp hiệp vần, vần chính chiếm 1094 cặp (tương ứng 58%), vần thông chiếm 805 cặp (tương ứng 42%), hoàn toàn không có vần ép (0%). Khi đối chiếu với 97 bài ca dao lục bát (có 1% vần ép), mức độ hòa âm của lục bát Nguyễn Bính đạt độ chuẩn mực cao hơn về mặt ngữ âm.

  5. Ba tín hiệu thẩm mỹ nào được luận án dành riêng một tiểu mục để khảo sát chuyên sâu? Luận án dành tiểu mục riêng tại Chương 3 để khảo cứu ba tín hiệu thẩm mỹ trung tâm là "vườn", "bướm" và "rượu", phân tích vai trò của chúng trong việc kiến tạo thế giới nghệ thuật và phong cách biểu cảm của thi sĩ Nguyễn Bính trước năm 1945.

Kết luận

Luận án tiến sĩ "Ngôn ngữ thơ Nguyễn Bính (Dựa trên cứ liệu trước 1945)" của Đỗ Anh Vũ là công trình nghiên cứu chuyên sâu về mặt ngôn ngữ học đối với di sản thi ca trước Cách mạng của Nguyễn Bính. Thông qua việc phân tích định lượng và miêu tả ngữ học trên 272 bài thơ, luận án đã làm sáng tỏ các quy luật tổ chức hình thức ngữ âm (sự áp đảo của vần chính, mô hình vần AABA, nhịp ngắt lẻ phá cách, thể trường thiên độc vận), đặc điểm cấu trúc ngữ pháp (cú pháp nhan đề dạng ngữ, nghệ thuật dấu câu) và đặc trưng tổ chức ngữ nghĩa (các trường không gian, thời gian, tín hiệu thẩm mỹ, lớp từ điển tích). Công trình góp phần xác lập cơ sở khoa học ngôn ngữ cho phong cách thơ Nguyễn Bính, đồng thời cung cấp nguồn ngữ liệu và phương pháp tham khảo phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy ngôn ngữ nghệ thuật tiếng Việt.