mở đầu mang tính chất lí luận, hai chƣơng sau một chƣơng đi vào miêu tả hình thức tác phẩm (vần, nhịp, thể thơ), chƣơng còn lại đi vào miêu tả ngữ nghĩa (các lớp từ vựng, các biện pháp tu từ). Có thể kể ra một số luận văn tiêu biểu nhƣ: Đặc điểm ngôn ngữ thơ Giang Nam (Dƣơng Thị Hƣơng, Đại học Vinh, 2007), Đặc điểm ngôn ngữ thơ Vũ Quần Phương trong Vết thời gian (Trần Thị Mai, Đại học Vinh, 2011), Đặc điểm ngôn ngữ thơ Huy Cận trong Lửa thiêng và Vũ trụ ca (Đại học Vinh, 2009), Đặc điểm ngôn ngữ thơ Lưu Quang Vũ (Nguyễn Thị Thanh Bình, Đại học Vinh, 2008), Đặc điểm ngôn ngữ thơ Tố Hữu trong tập Gió lộng (Trần Đình Thạo, Đại học Vinh, 2011), Đặc điểm ngôn ngữ thơ Chế Lan Viên qua Di cảo thơ (Ngô Văn Huỳnh, Đại học Vinh, 2001). Một loạt các tác giả tên tuổi khác trong nền thơ Việt Nam thế kỷ XX cũng đƣợc chọn làm đổi tƣợng để khảo sát và nghiên cứu trong các luận văn thạc sĩ khác của Đại học Vinh nhƣ: Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Duy, Tản Đà, Thu Bồn, Hữu Thỉnh. Tổng quan tình hình nghiên cứu về Nguyễn Bính Những nghiên cứu, hay nói đúng hơn là những nhận định, đánh giá đầu tiên về Nguyễn Bính có lẽ thuộc về Hoài Thanh – Hoài Chân trong tuyển tập Thi nhân Việt Nam: “Và thơ Nguyễn Bính đã đánh thức người nhà quê vẫn ẩn náu trong lòng ta (…).
Cái đẹp kín đáo của những vần thơ Nguyễn Bính tuy cảm được một số đông công chúng mộc mạc khó lọt vào con mắt của các nhà thông thái thời nay. Tình cờ đọc thơ Nguyễn Bính họ sẽ bảo: “Thơ như thế này có gì?”. Họ có ngờ đâu đã bỏ rơi một điều mà người ta không thể hiểu được bằng lí trí, một điều đáng quý vô ngần: hồn xưa của đất nước”. Cùng thời với Hoài Thanh – Hoài Chân, Vũ Ngọc Phan trong cuốn Nhà văn Việt Nam hiện đại cũng đã chỉ ra thứ “tình quê xác thực” đƣợc toát lên từ những câu thơ mang dáng vẻ “thực thà”, “hai lần hai là bốn” của Nguyễn Bính.
Vũ Ngọc Phan cũng đã đánh giá rất cao những bài thơ viết về làng quê của Nguyễn Bính. 14 Sau những nhận định đánh giá của Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan, tình hình nghiên cứu về Nguyễn Bính nói riêng cũng nhƣ các nhà thơ trong phong trào Thơ Mới nói chung bị hạn chế ở miền Bắc trong nhiều thập kỷ, một phần vì lí do chiến tranh, phần khác vì do quan niệm tƣ tƣởng của ta trong một thời gian dài không muốn đề cập đến văn thơ lãng mạn. Nhƣng cũng ở miền Nam trong những thập niên 60, thơ Nguyễn Bính và việc nghiên cứu thơ ông đƣợc chú ý hơn. Thơ Nguyễn Bính đƣợc đƣa vào giáo trình của Đại học Văn khoa Sài Gòn.
Có thể kể đến phần viết về Nguyễn Bính của Trần Tuấn Kiệt trong Thi ca Việt Nam hiện đại (Sài Gòn, 1967), phần viết về Nguyễn Bính của Nguyễn Tấn Long trong Việt Nam thi nhân tiền chiến (quyển Thƣợng) (NXB Sống mới, Sài Gòn, 1968), phần viết về Nguyễn Bính của Phạm Thế Ngũ trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (Quốc học tùng thƣ xuất bản, Huế, 1961). Nhìn chung, các tác giả nói trên mới chỉ dừng lại ở những miêu tả bề mặt của nội dung thơ Nguyễn Bính nhƣ: chất làng quê trong thơ Nguyễn Bính, hình tƣợng ngƣời phụ nữ trong thơ Nguyễn Bính, nỗi buồn trong thơ Nguyễn Bính. Sau 1975, ở miền Bắc, những nghiên cứu về Nguyễn Bính xuất hiện nhiều hơn. Đỗ Lai Thuý với tập Con mắt thơ (Phê bình phong cách Thơ mới, 1992) đã có một chƣơng khá thú vị về Nguyễn Bính.
Chu Văn Sơn với Ba đỉnh cao Thơ mới (2003) đã đánh giá Nguyễn Bính nhƣ một nhân vật không thể không nhắc đến khi bàn về giai đoạn văn học nửa đầu thế kỷ XX. Đoàn Đức Phƣơng lại có một công trình khác về Nguyễn Bính mang tên Nguyễn Bính – hành trình sáng tạo thi ca (NXB Giáo dục, 2005), thực chất là sự công bố luận án tiến sĩ văn học bảo vệ trƣớc đó không lâu. Ở hải ngoại mấy năm gần đây, Thụy Khuê là ngƣời có những bài viết về Nguyễn Bính đáng lƣu ý nhất, trong đó nổi lên hai bài Thi pháp Nguyễn Bính và Nguyễn Bính mười hai bến nước. Nghiên cứu thơ Nguyễn Bính từ cấp độ luận văn thạc sĩ đã có một số đề tài đƣợc thực hiện nhƣng chủ yếu từ góc nhìn của chuyên ngành văn học, có thể kể đến một số đề tài tiêu biểu nhƣ sau: Giá trị của một số tín hiệu thẩm mỹ tiêu biểu trong thơ Nguyễn Bính (Bùi Tấn Văn, 2011), Một số phƣơng diện chủ yếu trong phong cách thơ Nguyễn Bính trƣớc năm 1945 (Nguyễn Thị Kim Dung, 15 2016), Mặc cảm tha hƣơng trong thơ Nguyễn Bính trƣớc Cách mạng (Lê Thị Thu Hiến, 2006), Hệ thống biểu tƣợng trong thơ Nguyễn Bính trƣớc Cách mạng (Lê Thị Hằng, 2008).
Những luận văn thạc sĩ nghiên cứu về thơ Nguyễn Bính từ góc độ ngôn ngữ học có ít hơn, có thể kể tới các đề tài: Từ đồng nghĩa trong thơ Nguyễn Bính (Vũ Thị Hoà, Khoá luận tốt nghiệp, Khoa Ngôn ngữ học, ĐHKHXH&NV, HN, 2007), Những phương tiện nối kết trong văn bản nghệ thuật (dựa trên cứ liệu thơ Nguyễn Bính ) (Đỗ Anh Vũ, Luận văn thạc sĩ ngôn ngữ, Khoa Ngôn ngữ, ĐHKHXH&NV, HN, 2008), Chất chân quê trong thơ Nguyễn Bính từ góc độ ngôn ngữ (Trần Yến Ngọc, 2010) Nhìn chung, các luận văn trên đều tiếp cận thơ Nguyễn Bính từ góc độ ngôn ngữ tác giả và/hoặc ngôn ngữ tác phẩm, cố gắng làm rõ phong cách riêng của Nguyễn Bính trong tƣơng quan với các nhà thơ lãng mạn cùng thời. Khung lí thuyết đƣợc các tác giả vận dụng chủ yếu vẫn đi theo con đƣờng phong cách học truyền thống với phƣơng pháp miêu tả làm chủ đạp. Tóm lại, chƣa có một công trình nào nghiên cứu về sự nghiệp thơ Nguyễn Bính giai đoạn trƣớc 1945 từ góc nhìn ngôn ngữ học một cách thực sự toàn diện và đầy đủ. Cơ sở lí thuyết Đứng trƣớc tình hình nghiên cứu về ngôn ngữ thơ nói chung, tác phẩm của Nguyễn Bính nói riêng nhƣ đã trình bày phía trên, luận án của chúng tôi quyết định tiếp cận thế giới thơ của Nguyễn Bính trên ba bình diện: ngữ âm, ngữ pháp và từ vựng ngữ nghĩa.
Ở mỗi phần, chúng tôi đều có sự kế thừa và vận dụng một phần lý thuyết tƣơng ứng của những tác giả đi trƣớc trong giới Việt ngữ học. Ngôn ngữ thơ là gì? Xuất phát từ một định nghĩa về thơ nhƣ chúng tôi đã trình bày trong phần trƣớc, ngôn ngữ thơ, theo đó, cần đƣợc hiểu là ngôn ngữ của tác phẩm thi ca, đƣợc dùng trong thi ca. Ngôn ngữ thơ vì thế, đƣợc xem là một thứ ngôn ngữ nghệ thuật có độ trau chuốt từ hình thức đến nội dung. Về hình thức, phải đảm bảo đƣợc các tính chất nhƣ vần, nhịp, hòa âm.
Về nội dung, ngôn ngữ của thơ 16 phải thể hiện đƣợc tính chất đặc trƣng là tƣ duy bằng hình tƣợng, cũng nhƣ thể hiện đƣợc nguyên lý đem trục tuyển lựa chiếu lên trục kết hợp theo tinh thần của Jakobson. Sự kết hợp hài hòa nhuẫn nhuyễn giữa phần hình thức và phần nội dung của ngôn ngữ thơ sẽ tạo ra những tác phẩm với nội dung tích cực, khẳng định những giá trị Chân, Thiện, Mỹ trong cuộc sống con ngƣời. Tìm hiểu ngôn ngữ thơ nói chung, ngôn ngữ thơ của một tác giả nói riêng, sẽ kéo theo một loạt các khái niệm cơ bản mà chúng tôi sẽ lần lƣợt trình bày trong những phần tiếp theo dƣới đây: vần thơ (thi vận), nhịp điệu (thi điệu), tín hiệu thẩm mỹ, các lợp từ trong tiếng Việt. Vần thơ (Thi vận) Tán thành quan điểm về vần của Mai Ngọc Chừ trong công trình Vần thơ Việt Nam dưới ánh sáng ngôn ngữ học, chúng tôi sử dụng định nghĩa về vần của ông: “Vần là sự hòa âm, sự cộng hƣởng nhau theo những quy luật ngữ âm nhất định giữa hai từ hoặc hai âm tiết ở trong hay cuối dòng thơ và thực hiện những chức năng nhất định nhƣ liên kết các dòng thơ, gợi tả, nhấn mạnh sự ngừng nhịp”.