phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận án có kết cấu gồm 3 chương: 5 Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận Trong chương này, chúng tôi trình bày hai nội dung lớn: Thứ nhất, điểm lại những công trình đã được nghiên cứu liên quan đến đề tài, cụ thể là những nghiên cứu về từ ngữ xưng hô, về VBHC và về xưng hô trong VBHC tiếng Việt. Thứ hai, chúng tôi tập trung trình bày các vấn đề lí luận về xưng hô trong giao tiếp như: khái niệm xưng hô, chức năng của xưng hô, các nhân tố chi phối việc xưng hô, các phương tiện xưng hô trong giao tiếp, lịch sự trong giao tiếp ngôn ngữ. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng tìm hiểu những vấn đề lí luận về VBHC như: khái niệm, đặc điểm, chức năng của VBHC, các loại VBHC tiếng Việt. Chƣơng 2: Xƣng trong văn bản hành chính tiếng Việt Trong chương này, chúng tôi tập trung vào các vấn đề cụ thể như: khái niệm xƣng trong VBHC, các BTNN để xưng trong V HC, vị trí của BTNN dùng để xưng trong V HC, xƣng trong mối quan hệ với vị thế giao tiếp trong VBHC.
Những nghiên cứu ở chương này s được minh họa qua việc xử lí ngữ liệu với các con số định lượng cụ thể. Chƣơng 3: Hô trong văn bản hành chính tiếng Việt và một số vấn đề trong quan hệ giữa xƣng và hô trong văn bản hành chính Trong chương này, luận án tập trung vào việc xác định khái niệm hô trong VBHC, các BTNN để hô trong VBHC, vị trí của các BTNN dùng để hô trong VBHC, hô trong quan hệ với vị thế giao tiếp trong VBHC. So với xƣng thì BTH trong VBHC có tần suất thấp hơn, nên ở chương này, luận án phối hợp để trình bày thêm một số vấn đề trong quan hệ giữa xƣng và hô trong V HC như: tương thích và lịch sự trong xưng hô của VBHC. Chương 3 của luận án cũng được minh họa bằng các số liệu thống kê cụ thể qua việc khảo sát và phân tích ngữ liệu.
6 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu về từ ngữ xƣng hô 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Theo tìm hiểu của chúng tôi, khi nghiên cứu về từ ngữ xưng hô các nhà nghiên cứu về ngôn ngữ trên thế giới đã theo các hướng nghiên cứu sau: Trước hết là nghiên cứu theo hướng ngôn ngữ - văn hóa và ngôn ngữ- nhân chủng học, với những nhà nghiên cứu tiêu biểu như: W.
Trong công trình nghiên cứu về các mối quan hệ trong gia đình, thân tộc và ngoài xã hội các tác giả đã bước đầu đề cập đến các đại từ nhân xưng và những từ ngữ được dùng để xưng hô trong các mối quan hệ thân tộc như: Grandmother, grandfather, uncle, father, mother, sister, brother. Đáng chú ý, các tác giả đã cho rằng các từ thân tộc không mang tính chất về quan hệ sinh học, đặc biệt là huyết thống, mà đây là những từ mang tính xã hội. Do đó, mỗi cá nhân không được xếp vào các phạm trù thân thích nào đó theo quan hệ huyết thống của chúng. Vì chúng là các thành viên trong những nhóm xã hội nhất định, được quy định bởi hôn nhân.
Tuy nhiên, có thể thấy, những nghiên cứu trên cũng chỉ mới là bước đầu. Kế tiếp là phải kể đến các quan điểm của các nhà nghiên cứu về ngôn ngữ học cấu trúc như: M.Emeneau, trong công trình nổi tiếng Studies in Vietnamese Grammar [dẫn theo 68, tr. 9], đã quan tâm nhiều về đại từ trong tiếng Việt, đặc biệt là tập trung bàn về đại từ xưng hô và nhóm TXH lâm thời có nguồn gốc danh từ. Qua đó, ông đã nhận ra sự hạn chế của các đại từ nhân xưng đích thực và vai trò quan trọng của các TXH lâm thời mà ông cho là “Đại từ cương vị”.C Thompson cũng đã có những nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt như: A Vietnamese Grammar và A Vietnamese Reference Grammar [dẫn theo 7 68.
Trong các công trình nghiên cứu của mình, tác giả đã đề cập đến các đại từ nhân xưng trong tiếng Việt như: ta, tôi, họ, hắn. cùng các danh từ thân tộc. Đối với danh từ thân tộc, ông nhận thấy giữa danh từ chung và danh từ riêng có hai mặt đối lập là thay đổi và không thay đổi, đồng nhất và không đồng nhất.C Thompson nhận thấy rằng: “Số lượng các đại từ xưng hô thực thụ là quá ít và đại từ tôi, ta với thái độ xưng hô thể hiện sự kính trọng hay thái độ bề trên, ở ngôi thứ nhất không có đại từ tương ứng với nó ở ngôi thứ hai (chỉ người nghe) và ngôi thứ ba (chỉ người được nói đến), do đó phải thay bằng các từ thuộc từ loại hoặc các danh từ” [dẫn theo 68, tr. Có thể nhận thấy, với khuynh hướng cấu trúc, các tác giả M.Thompson đã chỉ ra được các “chất liệu”, các “phương tiện vật chất” cơ bản được dùng để thực hiện hành vi xưng hô trong tiếng Việt, đó là các “đại từ nhân xưng” (personal pronouns), đồng thời đã phân chia đại từ nhân xưng thành hai nhóm: đại từ xưng hô chuyên dụng và đại từ xưng hô lâm thời để nghiên cứu.
Gần với đề tài luận án là hướng nghiên cứu theo quan điểm ngôn ngữ học chức năng của tác giả Lương Văn Hy (1990) với công trình nghiên cứu về Thực dụng diễn từ và ý nghĩa ngữ học - hệ thống quy chiếu về ngƣời trong tiếng Việt [123] đã đề xuất hướng nghiên cứu từ xưng hô - cái mà ông gọi là “hệ thống quy chiếu về người” một cách đồng bộ trên ba bình diện ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng. Đồng thời ông cũng cho rằng, hệ thống quy chiếu ngôi tiếng Việt bao gồm ba tiểu loại ngữ pháp: đại từ nhân xưng, danh từ chung (danh từ thân tộc và danh từ cương vị) và danh từ riêng đối lập nhau trên hai phương diện là thay đổi/ không thay đổi, đồng nhất/không đồng nhất,. Tuy tác giả đã đi sâu vào phân tích và chỉ ra chức năng thay thế của danh từ chung và đại từ nhân xưng, nhưng quan điểm của ông còn cứng nhắc khi xem xét về vấn đề từ loại và miêu tả các TXH thân tộc còn sơ lược. Nhưng sự đóng góp của ông trong việc nghiên cứu TXH tiếng Việt và hướng tiếp cận mới khi nghiên cứu về TXH là đáng ghi nhận.
Trên cơ sở quan điểm của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ nêu trên, khi nghiên cứu về xưng hô trong V HC tiếng Việt chúng tôi đã tham khảo về cách 8 phân chia và sử dụng về đại từ nhân xưng, danh từ thân tộc và các danh từ khác làm phương tiện xưng hô của các nhà nghiên cứu nước ngoài để áp dụng những vấn đề thực tiễn vào cơ sở lí luận của luận án. Tình hình nghiên cứu ở trong nƣớc Ở Việt Nam, từ ngữ xưng hô trong tiếng Việt đã được các nhà Việt ngữ học quan tâm nghiên cứu. Các công trình ngữ pháp tiếng Việt nghiên cứu về đại từ thường phân xuất thành lớp đại từ xưng hô. Lớp từ này trong tiếng Việt tuy không biến đổi hình thái, nhưng qua cách dùng trong giao tiếp thường được phân biệt theo ba ngôi và theo số : ngôi 1 (số ít) và ngôi 1 (số nhiều), ngôi 2 (số ít) và ngôi 2 (số nhiều), ngôi 3 (số ít) và ngôi 3 (số nhiều).
Ngoài các đại từ xưng hô, tiếng Việt còn dùng danh từ thân tộc, tên riêng, từ chỉ nghề nghiệp, chức vụ. Các tác giả Nguyễn Văn Chiến trong Lớp TXH tiếng Việt trong lí thuyết và thực tế đối với các ngôn ngữ khác loại hình [16] hay Nguyễn Phú Phong trong Đại từ nhân xƣng tiếng Việt [69] trong các nghiên cứu của mình đã dành cho lớp TXH tiếng Việt một vị trí thích đáng. Một số công trình nghiên cứu về đặc điểm xưng hô trong ngôn ngữ của một dân tộc, hoặc so sánh đối chiếu xưng hô trong hai ngôn ngữ với nhau. Các luận án tiến sĩ của Phạm Ngọc Thưởng: Các cách xƣng hô trong tiếng Nùng bảo vệ năm 1998 tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội [91]; Phạm Ngọc Hàm: Đặc điểm và cách sử dụng của lớp từ ngữ xƣng hô tiếng Hán trong sự so sánh với tiếng Việt bảo vệ năm 2004 tại Viện Ngôn ngữ học [36]; Lã Thị Thanh Mai: Đặc điểm xƣng hô của ngƣời Hàn và ngƣời Việt bảo vệ năm 2014 tại Học viện Khoa học xã hội, thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam [61]; bài viết Mấy nhận xét về TXH tiếng Việt và tiếng Hàn Quốc của Nguyễn Minh Thuyết và Kim Young Soo trong sách Tƣơng đồng văn hóa Việt Nam - Hàn Quốc, Nxb Hà Nội, 1996 [89]; bài Một số đặc điểm văn hóa Nhật - Việt qua việc khảo sát hệ thống TXH của Hoàng Anh Thi trên Tạp chí Ngôn ngữ, số 1/1995 [86].
thuộc loại này. Những công trình này chỉ ra sự đồng nhất và khác biệt về hệ thống TXH và đặc điểm trong cách xưng hô của các dân tộc. Những đặc điểm đó gắn liền với các đặc điểm văn hóa dân tộc. 9 Có những công trình nghiên cứu về xưng hô và TXH trong nội bộ tiếng Việt, nhưng quan tâm đến sự khác biệt trong xưng hô giữa các phương ngữ: luận án tiến sĩ của Lê Thanh Kim: TXH và cách xƣng hô trong các phƣơng ngữ tiếng Việt, bảo vệ năm 2002 tại Viện Ngôn ngữ học [56.
Công trình này cho thấy các phương ngữ của tiếng Việt có những khác biệt về hệ thống TXH và cách xưng hô khi giao tiếp trong gia đình, trong quan hệ vợ chồng, anh em, trong dòng họ thân tộc và rộng ra trong xã hội. Nhiều công trình dành cho TXH và cách xưng hô của người Việt trong các phạm vi và lĩnh vực giao tiếp khác nhau. Sự liên thông và sự khác biệt giữa xưng hô trong gia đình và xưng hô ngoài xã hội của người Việt đã được luận án tiến sĩ của Bùi Minh Yến: Từ xƣng hô trong gia đình đến xƣng hô ngoài xã hội của ngƣời Việt bảo vệ năm 2001 tại Viện Ngôn ngữ học [112] chú ý đến. Có những lĩnh vực hẹp hơn trong giao tiếp ngôn ngữ của người Việt đã được chú ý đến về mặt TXH như bài viết TXH có nguồn gốc danh từ thân tộc trong cộng đồng công giáo Việt của Trương Thị Diễm [20] hoặc Xƣng và gọi trong hoạt động hành chính ở một xã thuộc đồng bằng Bắc Bộ; tôn ti và bình đẳng [53].