Tổng quan luận án

Đề tài "Xưng hô trong văn bản hành chính tiếng Việt" do nghiên cứu sinh Nguyễn Văn Tuyên thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Bùi Minh Toán, bảo vệ năm 2020 tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ học (mã số: 9.20).

Về tính cấp thiết, tác giả luận án chỉ ra rằng trong vài thập niên gần đây, Việt ngữ học đã chú trọng nghiên cứu ngôn ngữ theo chức năng giao tiếp gắn với ngữ cảnh thực tiễn. Xưng hô là nhân tố quan trọng trong giao tiếp, giúp các nhân vật định vị khung giao tiếp, hình thành diễn ngôn, định hướng lựa chọn ngôn ngữ, đồng thời phản ánh mối quan hệ liên cá nhân, vị thế xã hội và đặc trưng văn hóa dân tộc. Trong đời sống xã hội, văn bản hành chính (VBHC) là loại hình văn bản được sử dụng phổ biến, có chức năng và phương thức hành chức mang tính đặc thù so với các phong cách chức năng khác. Do chịu sự chế định nghiêm ngặt của pháp luật và trình bày theo quy phạm chặt chẽ, VBHC thường được nhìn nhận thuần túy ở tính khuôn mẫu, chuẩn mực. Tuy nhiên, hoạt động xưng hô và các biểu thức xưng hô (đặc biệt là hành vi xưng) là thành tố bắt buộc phải xuất hiện trong VBHC để xác lập tư cách pháp lí và trách nhiệm của các bên tham gia giao tiếp.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: mặc dù VBHC đã được khảo sát ở nhiều phương diện (kĩ thuật soạn thảo, ngữ pháp câu, hành động ngôn từ), cho đến thời điểm thực hiện luận án, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách chuyên sâu, toàn diện và có hệ thống về vấn đề xưng hô trong VBHC tiếng Việt.

Mục đích nghiên cứu của luận án là nghiên cứu một cách toàn diện và hệ thống về xưng hô trong VBHC tiếng Việt để làm sáng tỏ đặc điểm xưng hô của VBHC và hoạt động giao tiếp trong lĩnh vực hành chính, từ đó góp phần xây dựng khuôn mẫu nhằm chuẩn hóa VBHC tiếng Việt.

Để thực hiện mục đích trên, tác giả xác định 5 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Tìm hiểu và hệ thống hóa những vấn đề lí luận cần thiết về xưng hô trong giao tiếp ngôn ngữ: khái niệm xưng hô, phương tiện dùng để xưng hô, chức năng của xưng hô, các nhân tố chi phối đến xưng hô trong giao tiếp.
  2. Tìm hiểu và hệ thống hóa những vấn đề lí luận cơ bản về VBHC: khái niệm, chức năng, đặc điểm của VBHC và phân loại VBHC tiếng Việt.
  3. Khảo sát và phân loại các biểu thức ngôn ngữ (BTNN) và cách thức xưng, hô trong VBHC tiếng Việt.
  4. Phân tích, miêu tả các biểu thức xưng hô, cách xưng hô trong VBHC tiếng Việt.
  5. Phân tích và đánh giá về tính tương thích, lịch sự trong xưng hô của VBHC tiếng Việt.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là vấn đề xưng hô trong VBHC tiếng Việt.

Về phạm vi nghiên cứu:

  • Phạm vi tư liệu: Luận án tiến hành khảo sát 543 VBHC của các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế và công dân (đơn từ). Tất cả các văn bản được lựa chọn khảo sát đều thỏa mãn tiêu chí có sự xuất hiện đồng thời của cả biểu thức xưng (BTX) và biểu thức hô (BTH).
  • Phạm vi thời gian: Các văn bản được ban hành từ năm 2009 đến hết năm 2019.
  • Nguồn thu thập: Sưu tầm trực tiếp tại các cơ quan, ban ngành của Nhà nước và khai thác qua cơ sở dữ liệu trang thuvienphapluat.
  • Thể loại văn bản khảo sát gồm: Văn bản quy phạm pháp luật (nghị quyết, nghị định, thông tư, quyết định); Văn bản cá biệt (nghị quyết cá biệt, quyết định cá biệt, chỉ thị cá biệt); Văn bản hành chính thông thường (chỉ thị, quy chế, quy định, thông báo, hướng dẫn, kế hoạch, báo cáo, tờ trình, công văn, công điện, bản cam kết, bản đề nghị, bản tường trình, văn bản hợp đồng, giấy ủy quyền, giấy nghỉ phép, giấy đi đường, giấy biên nhận, phiếu gửi, phiếu chuyển, thư công, đơn từ).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án điểm lại lịch sử nghiên cứu trên hai trục nội dung chính: nghiên cứu về từ ngữ xưng hô và nghiên cứu về văn bản hành chính.

Về tình hình nghiên cứu từ ngữ xưng hô:

  • Nghiên cứu trên thế giới:
    • Hướng ngôn ngữ - văn hóa và ngôn ngữ - nhân chủng học: W. H. R. Rivers, A. L. Kroeber nghiên cứu các mối quan hệ thân tộc và nhận định từ thân tộc (grandmother, grandfather, uncle, father, mother, sister, brother) mang tính xã hội do hôn nhân quy định chứ không thuần túy là quan hệ sinh học huyết thống.
    • Hướng ngôn ngữ học cấu trúc: M. B. Emeneau trong "Studies in Vietnamese Grammar" khảo sát đại từ tiếng Việt, tập trung vào đại từ xưng hô và nhóm từ xưng hô lâm thời gốc danh từ ("đại từ cương vị"); L. C. Thompson trong "A Vietnamese Grammar" và "A Vietnamese Reference Grammar" khảo sát các đại từ nhân xưng (ta, tôi, họ, hắn...) và danh từ thân tộc, phân chia đại từ xưng hô thành nhóm chuyên dụng và lâm thời.
    • Hướng ngôn ngữ học chức năng: Lương Văn Hy (1990) trong "Thực dụng diễn từ và ý nghĩa ngữ học - hệ thống quy chiếu về người trong tiếng Việt" đề xuất nghiên cứu từ xưng hô như một "hệ thống quy chiếu về người" đồng bộ trên ba bình diện ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng, bao gồm đại từ nhân xưng, danh từ chung (thân tộc, cương vị) và danh từ riêng đối lập nhau theo các cặp đặc trưng thay đổi/không thay đổi, đồng nhất/không đồng nhất.
  • Nghiên cứu ở trong nước:
    • Lớp từ xưng hô và đại từ nhân xưng tiếng Việt được nghiên cứu bởi Nguyễn Văn Chiến ("Lớp TXH tiếng Việt trong lí thuyết và thực tế đối với các ngôn ngữ khác loại hình", 1993; "TXH trong tiếng Việt") và Nguyễn Phú Phong ("Đại từ nhân xưng tiếng Việt").
    • Hướng so sánh đối chiếu xưng hô giữa các ngôn ngữ dân tộc: Phạm Ngọc Thưởng (1998, "Các cách xưng hô trong tiếng Nùng"), Phạm Ngọc Hàm (2004, "Đặc điểm và cách sử dụng của lớp từ ngữ xưng hô tiếng Hán trong sự so sánh với tiếng Việt"), Lã Thị Thanh Mai (2014, "Đặc điểm xưng hô của người Hàn và người Việt"), Nguyễn Minh Thuyết và Kim Young Soo (1996, "Mấy nhận xét về TXH tiếng Việt và tiếng Hàn Quốc"), Hoàng Anh Thi (1995, "Một số đặc điểm văn hóa Nhật - Việt qua việc khảo sát hệ thống TXH").
    • Hướng nghiên cứu phương ngữ: Lê Thanh Kim (2002, "TXH và cách xưng hô trong các phương ngữ tiếng Việt").
    • Hướng nghiên cứu phạm vi xã hội chuyên biệt: Bùi Minh Yến (2001, "Từ xưng hô trong gia đình đến xưng hô ngoài xã hội của người Việt"), Trương Thị Diễm ("TXH có nguồn gốc danh từ thân tộc trong cộng đồng công giáo Việt"), Nguyễn Văn Khang ("Xưng và gọi trong hoạt động hành chính ở một xã thuộc đồng bằng Bắc Bộ; tôn ti và bình đẳng"). Trong "Ngôn ngữ học xã hội", Nguyễn Văn Khang phân xuất 13 kiểu xưng hô và phân tích tác động của bối cảnh, quyền lực và thân hữu.

Về tình hình nghiên cứu văn bản hành chính:

  • Trên thế giới: Tác giả xác nhận chưa có công trình nào nghiên cứu về VBHC tiếng Việt và xưng hô trong VBHC tiếng Việt.
  • Trong nước: Tác giả phân chia thành ba nhóm công trình:
    1. Nhóm quy cách và kĩ thuật soạn thảo: Bùi Khắc Việt ("Kĩ thuật và ngôn ngữ soạn thảo văn bản quản lí nhà nước"), Nguyễn Văn Thâm ("Soạn thảo và xử lí văn bản quản lí Nhà nước"), Giáo trình của Học viện Hành chính Quốc gia ("Giáo trình Kĩ thuật xây dựng và ban hành văn bản").
    2. Nhóm phong cách học tiếng Việt: Đinh Trọng Lạc chủ biên ("Phong cách học tiếng Việt"), Cù Đình Tú ("Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt").
    3. Nhóm nghiên cứu chuyên sâu về các bình diện cụ thể trong VBHC: Đỗ Thị Thanh Nga (2003, "Câu trong VBHC"), Vũ Ngọc Hoa (2012, "Hành động ngôn từ cầu khiến trong VBHC"), Nguyễn Thị Hà (2010, "Khảo sát chức năng ngôn ngữ văn bản quản lí nhà nước qua phương pháp phân tích diễn ngôn").

Vị trí và khoảng trống giải quyết: Luận án định vị là công trình chuyên biệt đầu tiên đi sâu khảo sát hệ thống biểu thức xưng hô, phân loại cấu trúc xưng hô theo vị thế giao tiếp, phân tích mối quan hệ tương thích và nguyên tắc lịch sự trong VBHC tiếng Việt trên nguồn ngữ liệu thực nghiệm quy mô 543 văn bản.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng cơ sở lí luận dựa trên sự tích hợp giữa lí thuyết ngữ dụng học, ngôn ngữ học xã hội và phong cách học chức năng:

  1. Khái niệm và bản chất của xưng hô:
  • Luận án kế thừa và tổng hợp quan niệm của Đỗ Hữu Châu, Từ điển tiếng Việt, Nguyễn Văn Khang, Nguyễn Văn Chiến, Phạm Ngọc Thưởng, các tác giả Hàn Quốc (Park Jeong Un, Lee Seon Ung, Lee Mu Yong, Han Kap Su).
  • Định nghĩa thao tác: Xưng là hành động người nói dùng một BTNN để đưa mình vào trong lời nói, tự quy chiếu (ngôi 1) và chịu trách nhiệm về lời nói; Hô là hành động người nói dùng một BTNN để đưa người nghe vào cuộc thoại, chỉ người đối thoại (ngôi 2); Xưng hô là hành động ngôn ngữ mà người nói tự xưng mình và gọi người khác khi giao tiếp để biểu thị tính chất mối quan hệ. Luận án phân biệt xưng hô (diễn ra thường xuyên, liên tục) với hô gọi (hành vi phát tín hiệu thu hút chú ý, tần suất thấp).
  • Phương tiện xưng hô: Gồm đại từ xưng hô, danh từ chỉ người, danh từ chỉ chức nghiệp, họ và tên riêng (kế thừa phân loại của Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Văn Khang, Trần Kim Phượng).
  • Ba chức năng của xưng hô: Chức năng định vị (J. Lyons, Đỗ Hữu Châu); Chức năng chiếu vật (G. Green, Nguyễn Thiện Giáp, Đỗ Hữu Châu); Chức năng thể hiện quan hệ liên nhân theo trục tung (quyền uy/vị thế xã hội) và trục hoành (thân cận/khoảng cách) theo mô hình của Đỗ Hữu Châu.
  • Các nhân tố chi phối: Hoàn cảnh giao tiếp (nghi thức và phi nghi thức), nhân vật giao tiếp, đề tài và mục đích giao tiếp, cách thức giao tiếp.
  • Lí thuyết lịch sự: Luận án kết hợp quan điểm phương Tây (B. Fraser về chiến lược làm dịu; R. Lakoff về quy tắc không áp đặt và tạo sự thoải mái; G. Leech về nguyên tắc chi phí - lợi ích và các phương châm giao tiếp; P. Brown và S. Levinson về thể diện âm tính - dương tính) và quan điểm phương Đông (Matsumoto, Gu về khái niệm "Lễ", khiêm nhường và tôn kính, lịch sự chuẩn mực). Từ nghiên cứu của Nguyễn Thiện Giáp và Vũ Thị Thanh Hương, tác giả tiếp cận lịch sự trong tiếng Việt ở cả hai bình diện: lịch sự chiến lược và lịch sự chuẩn mực.
  1. Khái niệm, đặc điểm và phân loại văn bản hành chính:
  • Luận án tiếp thu định nghĩa theo nghĩa rộng của Vũ Thị Sao Chi, Bùi Minh Toán, Lê A, Đỗ Việt Hùng, Vương Đình Quyền, Đoàn Trọng Truyến: VBHC là văn bản dùng trong hoạt động tổ chức, quản lí, điều hành xã hội, thực hiện giao tiếp giữa cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, xã hội, kinh tế và công dân trên cơ sở pháp lí.
  • Chức năng: Chức năng thông tin, chức năng quản lí, chức năng pháp lí.
  • Đặc điểm: Tính minh xác về nhân tố giao tiếp, tính khuôn mẫu (Phạm Tất Thắng), tính quy thức, tính quan phương, tính hiệu lực.
  • Phân loại theo hiệu lực pháp lí và tên loại: Văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL), Văn bản cá biệt (VBCB), Văn bản hành chính thông thường (VBHCTT).
  • Phân loại VBHC dưới góc độ xưng hô:
    • Loại 1: VBHC chỉ có BTX mà không có BTH (Hiến pháp, luật, lệnh, thông cáo, chương trình, đề án, biên bản, điều lệ, nội quy, giấy chứng nhận, thẻ, văn bằng, chứng chỉ...).
    • Loại 2: VBHC có cả BTX và BTH. Loại này gồm hai tiểu loại: (i) Vai xưng và vai hô tách bạch bằng từ ngữ riêng biệt theo chức vụ; (ii) Hai vai xưng hô gộp lại, dùng đại từ gộp "chúng tôi" hoặc kí hiệu quy ước "bên A", "bên B" (loại hình hợp đồng).
  1. Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu:
  • Phương pháp miêu tả: Phác họa hệ thống đặc điểm xưng hô trong VBHC tiếng Việt.
  • Phương pháp phân tích diễn ngôn: Lí giải việc sử dụng từ ngữ và biểu thức xưng hô gắn với ngữ cảnh, thể loại và vị thế giao tiếp; phân tích phương thức thể hiện tính lịch sự.
  • Thủ pháp so sánh: So sánh xưng hô trong VBHC với giao tiếp thường nhật; so sánh giữa các loại VBHC với nhau.
  • Thủ pháp mô hình hóa: Mô hình hóa các BTNN dùng để xưng và hô.
  • Thủ pháp khảo sát, thống kê ngôn ngữ học: Xác định tần số xuất hiện của các BTNN để xưng và hô trong 543 VBHC.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận

Chương 1 hệ thống hóa toàn diện các công trình nghiên cứu về từ ngữ xưng hô và VBHC tiếng Việt trong và ngoài nước, xác lập cơ sở lí thuyết ngôn dụng cho đề tài. Tác giả luận giải bản chất của hành vi xưng hô qua ba chức năng (định vị, chiếu vật, quan hệ liên nhân), bốn nhân tố chi phối và hệ thống lí thuyết lịch sự hai bình diện (chiến lược và chuẩn mực).

Chương này cũng phân tích các thuộc tính của phong cách hành chính công vụ và đề xuất khung phân loại VBHC dưới góc độ xưng hô.

Nhóm văn bản theo góc độ xưng hô Đặc điểm cấu trúc xưng hô Thể loại văn bản cụ thể
VBHC chỉ có BTX, không có BTH Người ban hành xưng chức vụ, kí tên/đóng dấu để xác lập tính pháp lí; không hướng tới người tiếp nhận cụ thể. Hiến pháp, luật, lệnh, thông cáo, chương trình, đề án, biên bản, điều lệ, nội quy, giấy chứng nhận, thẻ, chứng minh thư, căn cước công dân, văn bằng, chứng chỉ...
VBHC có cả BTX và BTH: Vai xưng và vai hô tách bạch Biểu thức xưng và biểu thức hô được thể hiện bằng các từ ngữ riêng biệt, tách bạch theo cương vị/tổ chức. VBQPPL (nghị quyết, nghị định, thông tư, quyết định); VBCB (nghị quyết, quyết định, chỉ thị cá biệt); VBHCTT (chỉ thị, quy chế, thông báo, hướng dẫn, kế hoạch, báo cáo, tờ trình, công văn, công điện, cam kết, đề nghị, tường trình, giấy ủy quyền, phiếu gửi, thư công...).
VBHC có cả BTX và BTH: Hai vai xưng và hô gộp lại Hai bên cùng xuất hiện với tư cách xưng và hô; dùng đại từ gộp "chúng tôi" hoặc kí hiệu quy ước "bên A", "bên B"; cùng kí tên ở cuối văn bản. Hợp đồng kinh tế, hợp đồng thuê khoán chuyên môn, hợp đồng lao động, hợp đồng dịch vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Chương 2: Xưng trong văn bản hành chính tiếng Việt

Chương 2 tập trung khảo sát hành vi xưng trong VBHC. Tác giả định nghĩa xưng trong VBHC là cách mà chủ thể ban hành văn bản (cá nhân hoặc đơn vị) sử dụng BTNN để thể hiện chính bản thân mình và chịu trách nhiệm pháp lí về văn bản. Vai xưng là vai của người chịu trách nhiệm pháp lí, người ký tên đóng dấu (không phải người soạn thảo như thư kí, văn thư).

Khảo sát trên 543 VBHC với tổng số 1.375 lượt xưng, cơ cấu mẫu phân bổ như sau:

STT Loại văn bản hành chính Số lượng văn bản Tỉ lệ (%)
I Văn bản quy phạm pháp luật 98 18,60%
II Văn bản cá biệt 76 13,79%
III Văn bản hành chính thông thường 369 67,60%
1 Tờ trình 25 4,24%
2 Bản cam kết, bản đề nghị, bản tường trình 24 4,42%
3 Giấy ủy quyền, giấy giới thiệu, giấy nghỉ phép, giấy đi đường, giấy biên nhận, giấy mời 26 4,79%
4 Phiếu gửi, phiếu chuyển 24 4,42%
5 Đơn xin nghỉ học, đơn xin nghỉ phép, đơn xin bảo vệ luận án... 25 4,60%
Tổng Toàn bộ mẫu khảo sát 543 100%

Qua ngữ liệu, tác giả nhận diện và phân loại 7 nhóm BTNN dùng để xưng trong VBHC:

  1. Đại từ nhân xưng: Sử dụng hạn chế trong VBHCTT do cá nhân tạo lập, mang tính trung hòa, chuẩn mực gồm "tôi" (số ít), "chúng tôi" (số nhiều); trong môi trường sư phạm sử dụng danh từ thân tộc lâm thời "em" (số ít), "chúng em" (số nhiều).
  2. Danh từ chỉ chức vụ.
  3. Biểu thức định danh cơ quan, đơn vị, tổ chức.
  4. Biểu thức phối hợp từ chỉ chức vụ với tên riêng.
  5. Biểu thức phối hợp tên riêng với từ chỉ chức vụ và tên cơ quan, đơn vị, tổ chức.
  6. Biểu thức phối hợp học hàm, học vị kết hợp với tên riêng, chức vụ và tên cơ quan, đơn vị, tổ chức.
  7. Biểu thức phối hợp từ chỉ chức vụ với tên cơ quan, đơn vị, tổ chức.

Về phân bố vị trí, các BTX xuất hiện ở:

  • Vị trí đầu văn bản (tiêu ngữ, định danh cơ quan ban hành).
  • Vị trí giữa văn bản (phần nội dung điều hành, trần thuật, cam kết).
  • Vị trí kết thúc văn bản (chức danh, chữ kí, họ tên người có thẩm quyền).

Về tương quan vị thế giao tiếp, hành vi xưng được phân tích qua 3 cấu hình: vị thế ngang bằng (giữa các cá nhân hoặc giữa các cơ quan, tổ chức cùng cấp); vị thế vai trên đối với vai dưới (cá nhân lãnh đạo hoặc cơ quan cấp trên ban hành chỉ thị, quyết định); vị thế vai dưới đối với vai trên (cá nhân cấp dưới, công dân làm đơn từ, tờ trình gửi cấp có thẩm quyền).

Chương 3: Hô trong văn bản hành chính tiếng Việt và một số vấn đề trong quan hệ giữa xưng và hô ở VBHC tiếng Việt

Chương 3 khảo sát hành vi hô trong 543 VBHC với tổng số 1.347 lượt hô. Hô trong VBHC được định nghĩa là cách người phát ngôn dùng BTNN để chỉ định đối tượng tiếp nhận văn bản, xác lập người/đơn vị có quyền hạn, nghĩa vụ thi hành hoặc phối hợp công tác.

Nội dung chương triển khai các vấn đề:

  • Các BTNN để hô: Khảo sát hệ thống biểu thức định danh người nhận, chức danh, cơ quan, tổ chức tiếp nhận văn bản.
  • Vị trí của biểu thức ngôn ngữ để hô: Xuất hiện chủ yếu tại mục "Kính gửi", "Nơi nhận" ở phần đầu hoặc cuối văn bản, và xuất hiện trực tiếp trong phần nội dung điều hành ở thân văn bản (các điều khoản thi hành).
  • Hô trong mối quan hệ với vị thế giao tiếp: Phân tích cấu trúc biểu thức hô ở vị thế ngang bằng (giữa các cơ quan ngang hàng), hô vai dưới (cấp trên giao việc cho cấp dưới) và hô vai trên (cấp dưới gửi lên cấp trên với các chỉ tố kính ngữ bắt buộc).
  • Tương thích giữa xưng và hô trong VBHC: Sự hài hòa giữa BTX và BTH nhằm đảm bảo tính chính xác, đúng thẩm quyền, phù hợp với tính chất pháp lí của thể loại văn bản và thứ bậc hành chính.
  • Tính lịch sự trong xưng hô ở VBHC: Phân tích sự kết hợp giữa lịch sự chuẩn mực (tuân thủ nghiêm ngặt chức danh, thể thức, kính ngữ hành chính) và lịch sự chiến lược (sử dụng lối diễn đạt giảm mức độ áp đặt, gia tăng sự tôn trọng đối với người tiếp nhận).

Kết quả và những đóng góp mới

Về lí luận:

  • Luận án góp phần làm sâu sắc và phong phú thêm lí thuyết giao tiếp ngôn ngữ và đặc điểm phong cách ngôn ngữ hành chính tiếng Việt.
  • Làm sáng tỏ lí thuyết về xưng hô trong giao tiếp chuyên biệt: chỉ rõ hệ thống các BTNN dùng để xưng và hô, cách thức xưng hô theo vị thế quyền lực và thứ bậc hành chính, cũng như tính quy phạm về lịch sự trong VBHC.
  • Đề xuất tiêu chí phân loại mới đối với VBHC tiếng Việt dựa trên góc độ xưng hô (văn bản chỉ có BTX và văn bản có cả BTX và BTH).

Về thực tiễn:

  • Cung cấp nguồn tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu Việt ngữ học và giảng dạy tiếng Việt, đặc biệt trong các học phần phong cách học và tiếng Việt thực hành.
  • Cung cấp cơ sở ngôn ngữ học để chuẩn hóa ngôn từ và xây dựng khuôn mẫu quy chuẩn trong quy trình soạn thảo, ban hành VBHC tiếng Việt.

Về kiến nghị, giải pháp: Luận án đề xuất việc chuẩn hóa và sử dụng thống nhất các biểu thức xưng hô trong văn bản quản lí nhà nước nhằm khắc phục tình trạng dùng từ ngữ tùy tiện, không đúng cương vị pháp lí hoặc vi phạm quy tắc lịch sự hành chính.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về hạn chế:

  • Luận án giới hạn phạm vi ngữ liệu khảo sát trong 543 VBHC giai đoạn 2009–2019 và tập trung chủ yếu vào các văn bản có đồng thời cả BTX và BTH.
  • Nhóm văn bản chỉ có BTX (như văn bằng, chứng chỉ, căn cước công dân, nội quy...) chỉ được dùng để phân loại lí luận mà chưa đi sâu khảo sát định lượng chi tiết như nhóm văn bản có cả BTX và BTH.

Về hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng khảo sát ngữ liệu VBHC ở các giai đoạn lịch sử khác nhau để phân tích sự biến đổi của biểu thức xưng hô theo tiến trình lịch sử.
  • Thực hiện so sánh đối chiếu hệ thống biểu thức xưng hô trong VBHC tiếng Việt với VBHC của các ngôn ngữ khác trên thế giới.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Ngôn ngữ học, Việt ngữ học, Ngôn ngữ học xã hội, Ngữ dụng học.
  • Giảng viên giảng dạy các môn Phong cách học tiếng Việt, Tiếng Việt thực hành, Kĩ thuật xây dựng và ban hành văn bản hành chính tại các trường đại học, học viện.
  • Cán bộ, công chức, viên chức làm công tác văn phòng, soạn thảo văn bản và quản lí hành chính nhà nước.

Phần nội dung đáng tham khảo nhất gồm: hệ thống 7 nhóm biểu thức ngôn ngữ để xưng (Chương 2), hệ thống biểu thức ngôn ngữ để hô và các phân tích về tính tương thích, chuẩn mực lịch sự trong văn bản hành chính (Chương 3).

Câu hỏi thường gặp

1. Vai xưng trong văn bản hành chính tiếng Việt được luận án xác định là ai? Theo luận án, vai xưng trong VBHC là vai của chủ thể chịu trách nhiệm pháp lí về văn bản, người ký tên và đóng dấu dưới văn bản (thủ trưởng cơ quan, người có thẩm quyền hoặc cá nhân đứng tên), chứ không phải là người trực tiếp biên soạn, chấp bút văn bản (thư kí, trợ lí, nhân viên văn thư).

2. Dưới góc độ xưng hô, văn bản hành chính tiếng Việt được phân thành những loại nào? Luận án phân chia thành hai loại chính: (1) VBHC chỉ có biểu thức xưng mà không có biểu thức hô (Hiến pháp, luật, nội quy, giấy chứng nhận, bằng cấp...); (2) VBHC có cả biểu thức xưng và biểu thức hô (gồm tiểu loại tách bạch vai xưng - hô và tiểu loại gộp hai vai xưng - hô như hợp đồng).

3. Đại từ nhân xưng được sử dụng trong văn bản hành chính tiếng Việt trong trường hợp nào? Đại từ nhân xưng chỉ được dùng trong các văn bản hành chính thông thường do cá nhân tạo lập (như đơn từ, bản cam kết, tường trình). Luận án chỉ ra các đại từ được sử dụng gồm: "tôi" (số ít), "chúng tôi" (số nhiều); trong môi trường nhà trường có thể dùng danh từ thân tộc lâm thời "em" (số ít), "chúng em" (số nhiều) để thể hiện vai giao tiếp thầy - trò.

4. Quy mô và nguồn ngữ liệu khảo sát thực nghiệm của luận án gồm những gì? Luận án khảo sát 543 VBHC ban hành trong giai đoạn từ năm 2009 đến hết năm 2019, được thu thập từ các cơ quan Nhà nước và cơ sở dữ liệu thuvienphapluat, gồm 98 VBQPPL (18,60%), 76 VBCB (13,79%) và 369 VBHCTT (67,60%).

5. Luận án tiếp cận lí thuyết lịch sự trong xưng hô hành chính dựa trên những cơ sở nào? Luận án kết hợp lí thuyết lịch sự phương Tây (B. Fraser, R. Lakoff, G. Leech, P. Brown & S. Levinson) và lí thuyết lịch sự phương Đông (Matsumoto, Gu), từ đó vận dụng quan điểm của Nguyễn Thiện Giáp và Vũ Thị Thanh Hương để khảo sát lịch sự trong VBHC trên cả hai bình diện: lịch sự chiến lược và lịch sự chuẩn mực.

Kết luận

Luận án "Xưng hô trong văn bản hành chính tiếng Việt" của tác giả Nguyễn Văn Tuyên là công trình nghiên cứu chuyên sâu về hành vi xưng hô trong phong cách ngôn ngữ hành chính. Thông qua việc khảo sát định lượng 1.375 lượt xưng và 1.347 lượt hô trên 543 văn bản giai đoạn 2009–2019, luận án đã xác lập hệ thống các biểu thức ngôn ngữ để xưng và hô, vị trí phân bố cũng như cơ chế vận hành của chúng theo vị thế giao tiếp. Kết quả nghiên cứu làm sáng tỏ mối quan hệ giữa tính tương thích và nguyên tắc lịch sự trong văn bản, cung cấp cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu ngôn ngữ học và chuẩn hóa quy trình soạn thảo văn bản hành chính tiếng Việt.