Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Du lịch (mã số: 981010.01) với đề tài "Nghiên cứu xung đột giữa cư dân và các bên liên quan tại điểm đến du lịch cộng đồng khu vực miền núi Thanh Hoá" do nghiên cứu sinh Dương Thị Hiền thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trần Đức Thanh, bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2023.
Về tính cấp thiết, loại hình du lịch dựa vào cộng đồng (du lịch cộng đồng - DLCĐ) được nghiên cứu trên thế giới từ đầu thập niên 1980 và xuất hiện tại Việt Nam từ những năm 1990. Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 và Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030 xác định phát triển du lịch bền vững theo định hướng du lịch sinh thái và du lịch cộng đồng. Tại Thanh Hóa, khu vực miền núi được xác định là vùng khó khăn, thu nhập bình quân đầu người năm 2022 đạt 3,6 triệu đồng/tháng (thấp hơn mức bình quân 4,2 triệu đồng/tháng của cả nước, xếp hạng 30/63 tỉnh thành). Phát triển DLCĐ tại đây được xem là cứu cánh tạo sinh kế cho người dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, hoạt động phát triển du lịch làm nảy sinh nhiều tác động tiêu cực: doanh nghiệp xây dựng trái phép, ô nhiễm nguồn nước, cư dân bị hạn chế tiếp cận tài nguyên, phân chia lợi ích thiếu công bằng và xáo trộn văn hóa bản địa, dẫn tới mâu thuẫn giữa các bên.
Về khoảng trống nghiên cứu, qua tra cứu tại Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia, không có tài liệu nào tại Việt Nam xuất hiện với cụm từ khóa kết hợp giữa "du lịch cộng đồng", "xung đột" và "các bên liên quan". Trên các hệ thống quốc tế (Web of Science, Scopus, ScienceDirect), số lượng nghiên cứu trực tiếp về chủ đề này còn ít. Đa phần các nghiên cứu quốc tế trước đây sử dụng phương pháp định tính đơn lẻ, chưa kiểm chứng bằng mô hình định lượng thực chứng về vai trò của mức độ tham gia, cảm nhận lợi ích và tổn hại đến xung đột giữa cư dân và các bên liên quan.
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là xác định thực trạng xung đột giữa cư dân địa phương và các bên liên quan tại các điểm đến DLCĐ khu vực miền núi Thanh Hóa; đánh giá, kiểm chứng vai trò của các yếu tố tác động (mức độ tham gia, cảm nhận lợi ích và cảm nhận tổn hại từ du lịch) đến xung đột giữa cộng đồng và các bên liên quan; từ đó đề xuất các hàm ý quản trị nhằm kiểm soát xung đột hướng tới phát triển bền vững.
Luận án tập trung trả lời 3 câu hỏi nghiên cứu:
- Cư dân và các bên liên quan tại điểm đến du lịch cộng đồng khu vực miền núi Thanh Hóa xung đột với nhau về các vấn đề gì?
- Mức độ tham gia của cư dân ảnh hưởng tới sự xung đột giữa cư dân và các bên liên quan như thế nào?
- Cảm nhận của cư dân về lợi ích và tổn hại từ du lịch ảnh hưởng tới sự xung đột giữa cư dân và các bên liên quan như thế nào?
Đối tượng nghiên cứu: Sự xung đột giữa cư dân và các bên liên quan tại điểm đến du lịch cộng đồng khu vực miền núi Thanh Hóa; các yếu tố ảnh hưởng đến sự xung đột giữa cư dân và các bên liên quan.
Khách thể nghiên cứu: Cư dân địa phương (nhóm lao động nông - lâm nghiệp truyền thống, nhóm làm du lịch, công chức, viên chức); đại diện doanh nghiệp du lịch (chủ homestay, quản lý lưu trú, lữ hành); cán bộ quản lý nhà nước tại địa phương (cán bộ văn hóa xã, chuyên viên Phòng Văn hóa & Thông tin huyện); khách du lịch nội địa.
Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Khu vực miền núi tỉnh Thanh Hóa, tập trung khảo sát trường hợp tại 6 bản thuộc hai huyện Bá Thước và Quan Hóa (bản Báng, bản Đôn, bản Mười, bản Hang, bản Kho Mường, bản Ấm Hiêu). Các địa bàn này đại diện cho các giai đoạn khác nhau trong chu kỳ sống điểm đến theo mô hình TALC của Butler (1980).
- Thời gian: Khảo sát thực địa thu thập dữ liệu từ tháng 4 năm 2021 đến tháng 3 năm 2022. Dữ liệu thực trạng được cập nhật đến hết năm 2021. Quá trình hồi tưởng nhận thức và hành vi xung đột của đáp viên được giới hạn từ khi du lịch xuất hiện tại địa phương (đầu thập niên 2000) đến tháng 3 năm 2022.
- Nội dung: Tập trung phân tích xung đột giữa các nhóm (inter-group conflict) dưới góc nhìn của cư dân địa phương đối với 3 nhóm: doanh nghiệp du lịch, chính quyền địa phương và khách du lịch.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Quy trình thu thập và sàng lọc tài liệu thứ cấp được tác giả thực hiện theo mô hình PRISMA qua 4 bước: tìm kiếm trên các cơ sở dữ liệu điện tử (Web of Science, Scopus, ScienceDirect, IEEE Xplore, Sage, SpringerLink, ProQuest, Google Scholar, Scinapse, Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia) thu được 190 tài liệu; loại bỏ 97 tài liệu trùng lặp còn 93 bài; sàng lọc tiêu đề và tóm tắt loại bỏ 20 bài không phù hợp còn 73 bài; đánh giá toàn văn theo 5 tiêu chí của Boote & Beile (2005) (mức độ bao quát, tính tổng hợp, phương pháp, sự quan trọng, luận giải) loại bỏ 17 bài. Kết quả giữ lại 56 bài báo khoa học có bình duyệt để thực hiện phân tích nội dung (content analysis) bằng phần mềm MAXQDA 2020.
| Khu vực |
Số lượng nghiên cứu |
Tỷ lệ (%) |
Quốc gia cụ thể |
| Châu Á - Thái Bình Dương |
33 |
58,9% |
Trung Quốc (11), Indonesia (5), Ấn Độ (1), Hàn Quốc (4), Malaysia (2), Philippines (1), Tajikistan (1), Thái Lan (2), Hong Kong (2), New Zealand (1), Úc (1), Israel (1), Việt Nam (1) |
| Châu Phi |
7 |
12,5% |
Botswana (1), Ethiopia (1), Malawi (1), Nam Phi (1), Tanzania (2), Zimbabwe (1) |
| Châu Âu |
5 |
8,9% |
Vương quốc Anh (2), Ba Lan (2), Thụy Điển (1) |
| Bắc Mỹ |
3 |
5,4% |
Hoa Kỳ (3) |
| Nam Mỹ |
2 |
3,6% |
Costa Rica (1), Peru (1) |
| Đa quốc gia |
5 |
8,8% |
Không xác định cụ thể |
| Tổng |
56 |
100% |
|
Về phương pháp, trong 56 công trình có 43 nghiên cứu định tính (15 bài dùng phỏng vấn sâu, 8 bài tổng quan hệ thống, 2 bài phân tích diễn ngôn, 18 bài phối hợp các kỹ thuật định tính), 10 nghiên cứu định lượng khảo sát bằng bảng hỏi và 3 nghiên cứu kết hợp định tính - định lượng.
Nội dung các công trình đi trước được phân chia thành 5 nhóm chủ đề:
- Bản chất và nguyên nhân xung đột: Xung đột giữa cư dân và du khách được tiếp cận qua mô hình Chỉ số bực mình IRRIDEX của Doxey (1975) và chu kỳ TALC của Butler (1980); Coser (1956) và Yang et al. (2013) chỉ ra xung đột chuẩn mực giá trị xuất hiện ngay từ giai đoạn khám phá; Shen et al. (2017) và Tsaur et al. (2018) nêu các hành vi gây ồn, xô đẩy, xâm phạm chuẩn mực xã hội; Ye et al. (2013) phân tích vai trò kép của khoảng cách văn hóa; Kim & Kang (2020) chỉ ra việc xâm phạm không gian riêng tư và đẩy giá đất tại điểm đến bão hòa. Xung đột giữa cư dân và chính quyền được phân tích bởi Xu et al. (2014), Xue & Kerstetter (2018), Jinsheng & Siriphon (2019), Wang & Yotsumoto (2019) do cách tiếp cận ngoại sinh, phân phối doanh thu vé thiếu công bằng, quy định xây dựng phân biệt đối xử; Dredge (2010), Kreiner et al. (2015), Zhang et al. (2015), Liu et al. (2017), Hlengwa & Mazibuko (2018), Mannon & Glass-Coffin (2019) nêu nguyên nhân từ sự yếu kém trong quản lý tài nguyên và di sản; Nguyen Thi Ngoc Dung (2019) phân tích xung đột trong mô hình chỉ đạo từ trên xuống (top-down) ở Thái Nguyên. Xung đột giữa cư dân và doanh nghiệp du lịch về chia sẻ lợi ích, ô nhiễm môi trường và đất đai được chứng minh bởi Sitikarn (2008), Engström & Boluk (2012), Kinseng et al. (2018), Lo & Janta (2020). Xung đột nội bộ cộng đồng giữa người làm du lịch và không làm du lịch được đề cập bởi Snyder & Sulle (2011), Ebrahimi & Khalifah (2014), Lee & Son (2016), Feng & Li (2020).
- Hệ quả của xung đột: Nhóm tác giả Apostolidis & Brown (2021), Canavan (2017), Prior & Marcos-Cuevas (2016), Yang et al. (2013), Tsaur et al. (2018), Hsiu-Yu (2019), Tesfaye (2017) khẳng định xung đột gây suy giảm hợp tác, lãng phí tài nguyên và làm giảm mức độ hài lòng của du khách; ngược lại, Gascón (2012) nhìn nhận xung đột tạo ra động lực thay đổi tích cực; Okazaki (2008) phân loại xung đột thành hai mặt: phá hoại hoặc mang tính xây dựng.
- Khung lý thuyết xung đột: Vận dụng mô hình Vòng tròn xung đột của Moore (2003) vào quản lý lãnh thổ du lịch được thực hiện bởi Almeida et al. (2017) và Piotr et al. (2020).
- Yếu tố ảnh hưởng tới xung đột: Tsaur et al. (2018) phát triển thang đo xung đột giữa cư dân và du khách; các nghiên cứu vận dụng Thuyết Trao đổi xã hội (SET) và SET mở rộng gồm Ko & Stewart (2002), Gursoy & Rutherford (2004), Thyne et al. (2006), Lee (2013), Gan (2020), Nugroho & Numata (2020), Wang et al. (2021) phân tích vai trò của cảm nhận lợi ích, tổn hại và sự tham gia của cộng đồng.
- Quản lý xung đột: Cơ chế đồng quản lý được đề xuất bởi Castro & Nielsen (2001), Ernawati et al. (2018), Feng & Li (2020), Feti et al. (2020); thúc đẩy sự tham gia và minh bạch thông tin được khẳng định bởi Bhalla et al. (2016), Bello et al. (2017), Burgoyne et al. (2017), Fan et al. (2019), Lo & Janta (2020); giải quyết xung đột nhóm khách bởi Needham et al. (2017).
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Các công trình tại Việt Nam chủ yếu tiếp cận tiềm năng, giải pháp phát triển chung hoặc khảo sát định tính; thiếu vắng nghiên cứu kiểm định thực chứng mối quan hệ giữa các yếu tố tiền đề (mức độ tham gia, cảm nhận lợi ích, cảm nhận tổn hại) với các loại hình xung đột giữa cư dân và 3 nhóm bên liên quan. Luận án tập trung xây dựng thang đo và kiểm chứng mô hình cấu trúc tại khu vực miền núi Thanh Hóa.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý luận, luận án sử dụng 2 lý thuyết nền tảng:
- Thuyết Xung đột xã hội (Social Conflict Theory) kế thừa từ Coser (1956) để giải thích sự đối lập về mục tiêu, giá trị, lợi ích và quyền lực giữa các nhóm xã hội tham gia vào hoạt động du lịch.
- Thuyết Trao đổi xã hội (Social Exchange Theory - SET) và mô hình trao đổi xã hội mở rộng của Lee (2013) làm nền tảng xem xét mối quan hệ trao đổi: cư dân ủng hộ du lịch khi nhận thấy lợi ích vượt trội chi phí, và xung đột xuất hiện khi chi phí/tổn hại vượt qua lợi ích nhận được.
- Các mô hình bổ trợ: Mô hình Chỉ số bực mình IRRIDEX của Doxey (1975), Mô hình chu kỳ sống điểm đến du lịch TALC của Butler (1980), Mô hình Vòng tròn xung đột của Moore (2003).
Về phương pháp nghiên cứu, luận án áp dụng hướng tiếp cận hỗn hợp (mixed methods):
- Nghiên cứu định tính: Phân tích tài liệu thứ cấp theo mô hình PRISMA; thực hiện 34 cuộc phỏng vấn sâu với các bên liên quan tại 6 bản thuộc hai huyện Bá Thước và Quan Hóa; mã hóa dữ liệu phỏng vấn bằng phần mềm MAXQDA 2020 để nhận diện các biểu hiện xung đột thực tế tại địa phương.
- Nghiên cứu định lượng:
- Phát triển thang đo: Kế thừa các thang đo yếu tố tiền đề gồm sự tham gia của cộng đồng (community involvement), cảm nhận lợi ích (perceived benefit) và cảm nhận tổn hại (perceived cost) từ các nghiên cứu trước (Lee, 2013). Xây dựng và chuẩn hóa thang đo mới đo lường xung đột giữa cư dân và các bên liên quan gồm 21 biến quan sát thuộc 3 thành phần: xung đột giữa cư dân và du khách (10 biến), xung đột giữa cư dân và doanh nghiệp du lịch (6 biến), xung đột giữa cư dân và chính quyền địa phương (5 biến).
- Khảo sát thử nghiệm: Thực hiện qua 2 giai đoạn (khảo sát sơ bộ lần 1 và lần 2) để sàng lọc biến và đánh giá độ tin cậy Cronbach’s Alpha, hệ số tải chéo, giá trị phân biệt (tiêu chuẩn Fornell-Larcker, tỷ số HTMT).
- Khảo sát chính thức: Thu thập dữ liệu qua 448 bảng hỏi tự điền hợp lệ từ cư dân bản địa tại 6 điểm nghiên cứu theo phương pháp chọn mẫu phân tầng.
- Kỹ thuật xử lý số liệu: Đánh giá mô hình đo lường và mô hình cấu trúc tuyến tính bình phương nhỏ nhất từng phần (PLS-SEM) trên phần mềm SmartPLS; kiểm định hệ số tin cậy nhất quán nội tại (Cronbach's Alpha, Composite Reliability), phương sai trích xuất trung bình (AVE), hệ số tải ngoài (outer loadings), kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến (hệ số VIF) của biến tiềm ẩn và biến quan sát, kiểm định các giả thuyết nghiên cứu thông qua kỹ thuật bootstrapping.
Nguồn dữ liệu: Dữ liệu sơ cấp gồm 34 bản ghi phỏng vấn sâu và 448 phiếu điều tra xã hội học; dữ liệu thứ cấp gồm 56 bài báo quốc tế thuộc danh mục PRISMA, gần 200 tài liệu tham khảo bổ trợ, số liệu thống kê và văn bản báo cáo từ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thanh Hóa cùng Đề án phát triển du lịch cộng đồng của UBND các huyện liên quan.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Tổng quan nghiên cứu về xung đột giữa các bên liên quan trong phát triển du lịch cộng đồng
Chương này trình bày chi tiết quy trình thu thập, gạn lọc 56 bài báo khoa học quốc tế có bình duyệt theo chuẩn PRISMA; thống kê mô tả xu hướng nghiên cứu theo thời gian, tạp chí xuất bản, khu vực địa lý và phương pháp luận; tổng thuật sâu sắc 5 nhóm nội dung chính: bản chất - nguyên nhân xung đột, hệ quả xung đột, các khung lý thuyết, các yếu tố ảnh hưởng và các mô hình quản lý xung đột; từ đó xác định khoảng trống lý luận và thực tiễn của đề tài tại Việt Nam.
Chương 2. Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu
Chương 2 làm rõ các khái niệm cốt lõi: du lịch cộng đồng, điểm đến du lịch cộng đồng, các bên liên quan; hệ thống hóa các lý thuyết nền (Thuyết Xung đột xã hội, Thuyết Trao đổi xã hội, IRRIDEX, TALC, Vòng tròn xung đột); tổng hợp các nội dung xung đột giữa cư dân với du khách, doanh nghiệp và chính quyền địa phương; xây dựng mô hình nghiên cứu giả thuyết về mối quan hệ giữa 3 biến tiền đề (sự tham gia của cư dân, cảm nhận lợi ích, cảm nhận tổn hại) tác động đến 3 nhóm xung đột liên quan.
Chương 3. Địa bàn và phương pháp nghiên cứu
Chương này khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và hiện trạng phát triển DLCĐ tại 11 huyện miền núi Thanh Hóa, tập trung phân tích 6 địa bàn nghiên cứu trường hợp (bản Báng, bản Đôn, bản Mười, bản Hang, bản Kho Mường, bản Ấm Hiêu) tương ứng với các giai đoạn khác nhau trong chu kỳ sống điểm đến; trình bày quy trình nghiên cứu hỗn hợp gồm kỹ thuật phỏng vấn sâu 34 đối tượng, phương pháp mã hóa bằng MAXQDA 2020; quy trình xây dựng bảng hỏi, 2 bước khảo sát sơ bộ để hiệu chỉnh thang đo, thiết kế chọn mẫu phân tầng 448 quan sát chính thức và quy trình phân tích PLS-SEM trên phần mềm SmartPLS.
Chương 4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 4 công bố kết quả phát triển thang đo 21 biến quan sát; mô tả đặc điểm nhân khẩu học của mẫu khảo sát chính thức; phân tích hiện trạng xung đột định tính và định lượng giữa cư dân với du khách (bất đồng văn hóa, ô nhiễm tiếng ồn, rác thải), với doanh nghiệp (tranh chấp đất đai, chiếm dụng không gian, xả thải ô nhiễm nguồn nước, phân phối doanh thu thiếu công bằng) và với chính quyền (thiếu hỗ trợ thực chất, thiếu minh bạch, xử lý vi phạm của doanh nghiệp chưa kiên quyết); trình bày các thông số kiểm định mô hình đo lường và mô hình cấu trúc PLS-SEM (hệ số tải, độ tin cậy, AVE, Fornell-Larcker, HTMT, VIF, kết quả kiểm định các giả thuyết); thảo luận, đối chiếu các phát hiện với các nghiên cứu đi trước.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận:
- Luận án hệ thống hóa cơ sở lý luận về xung đột giữa các bên liên quan tại điểm đến du lịch cộng đồng, làm rõ các dạng thức mâu thuẫn liên nhóm giữa cư dân với khách du lịch, doanh nghiệp du lịch và chính quyền địa phương trong bối cảnh các điểm đến miền núi của một quốc gia đang phát triển.
- Phát triển và kiểm định bộ thang đo đo lường xung đột giữa cư dân và các bên liên quan gồm 21 biến quan sát chia làm 3 nhóm (10 biến cư dân - du khách, 6 biến cư dân - doanh nghiệp du lịch, 5 biến cư dân - chính quyền địa phương), bảo đảm độ tin cậy và giá trị hội tụ, giá trị phân biệt. Bộ thang đo này cung cấp công cụ đo lường có thể kế thừa cho các nghiên cứu tiếp theo.
- Kiểm chứng thực nghiệm mô hình tác động của các yếu tố tiền đề: chứng minh mối quan hệ tác động của mức độ tham gia của cộng đồng, cảm nhận lợi ích và cảm nhận tổn hại đến mức độ xung đột giữa cư dân và các bên liên quan thông qua mô hình PLS-SEM, bổ sung bằng chứng thực chứng cho Thuyết Trao đổi xã hội mở rộng.
Về mặt thực tiễn và giải pháp:
- Luận án phác thảo bức tranh thực trạng về xung đột tại các điểm đến du lịch cộng đồng khu vực miền núi Thanh Hóa, chỉ rõ những mâu thuẫn nảy sinh trên các khía cạnh kinh tế, văn hóa - xã hội và tài nguyên - môi trường giữa người dân bản địa với doanh nghiệp, du khách và chính quyền.
- Luận án đề xuất hệ thống hàm ý quản trị cho các nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý du lịch tại địa phương: tăng cường sự tham gia thực chất của người dân vào quá trình lập quy hoạch và ra quyết định; xây dựng cơ chế phân phối lợi ích công bằng giữa doanh nghiệp bên ngoài và cộng đồng bản địa; kiểm soát chặt chẽ quy hoạch xây dựng homestay và xả thải gây ô nhiễm môi trường; cung cấp thông tin văn hóa bản địa cho du khách nhằm giảm thiểu khoảng cách ứng xử.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về hạn chế:
- Dữ liệu nghiên cứu về xung đột chỉ được tiếp cận và đo lường từ góc nhìn đơn phương của cư dân địa phương (nhóm chủ thể yếu thế), chưa thực hiện khảo sát định lượng đối sánh từ góc nhìn ngược lại của doanh nghiệp du lịch, chính quyền và du khách.
- Khách thể du khách trong nghiên cứu chỉ giới hạn ở khách du lịch nội địa, do thời điểm khảo sát thực địa (4/2021 - 3/2022) trùng với giai đoạn dịch Covid-19 bùng phát, Việt Nam chưa mở cửa đón khách quốc tế.
- Địa bàn khảo sát định lượng mới chỉ tập trung tại 6 bản thuộc hai huyện Bá Thước và Quan Hóa, chưa bao quát toàn bộ 11 huyện miền núi của tỉnh Thanh Hóa.
Về hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng khảo sát đa chiều, đo lường nhận thức về xung đột từ phía doanh nghiệp du lịch, du khách và cán bộ quản lý để so sánh tương quan giữa các bên liên quan.
- Bổ sung nhóm khách thể là khách du lịch quốc tế trong bối cảnh bình thường mới để phân tích sâu hơn các xung đột văn hóa và rào cản giao tiếp.
- Mở rộng phạm vi khảo sát sang các điểm đến DLCĐ tại các địa phương khác ở Việt Nam để kiểm chứng tính phổ quát của thang đo xung đột 21 thành phần.
Giá trị tham khảo
Nghiên cứu mang lại giá trị tham khảo học thuật cho nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Du lịch, Xã hội học và Quản lý văn hóa về quy trình tổng quan tài liệu theo chuẩn PRISMA, kỹ thuật phân tích định tính bằng MAXQDA, quy trình chuẩn hóa thang đo và ứng dụng mô hình PLS-SEM trên phần mềm SmartPLS.
Đối với cơ quan quản lý nhà nước (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thanh Hóa, Phòng Văn hóa & Thông tin, UBND các huyện miền núi) và Ban quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên, luận án cung cấp căn cứ dữ liệu thực tế về các mâu thuẫn đất đai, môi trường và chia sẻ lợi ích, phục vụ công tác quy hoạch điểm đến, xây dựng quy chế quản lý homestay và thiết lập mô hình đồng quản lý du lịch cộng đồng bền vững.
Câu hỏi thường gặp
-
Đối tượng khách du lịch tham gia khảo sát trong luận án gồm những nhóm nào?
Trả lời: Khách thể du khách trong luận án chỉ giới hạn ở khách du lịch nội địa. Do thời gian thực địa diễn ra từ tháng 4 năm 2021 đến tháng 3 năm 2022 trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19, Việt Nam chưa mở cửa đón khách quốc tế, nên nghiên cứu chưa thể khảo sát đối tượng du khách quốc tế.
-
Bộ thang đo xung đột giữa cư dân và các bên liên quan do tác giả phát triển gồm bao nhiêu biến quan sát?
Trả lời: Thang đo hoàn chỉnh gồm 21 biến quan sát, phân bổ thành 3 nhóm thành phần: xung đột giữa cư dân và du khách (10 biến quan sát), xung đột giữa cư dân và doanh nghiệp du lịch (6 biến quan sát), và xung đột giữa cư dân và chính quyền địa phương (5 biến quan sát).
-
Bối cảnh kinh tế - xã hội và quy mô du lịch khu vực miền núi Thanh Hóa ở thời điểm nghiên cứu có đặc điểm gì?
Trả lời: Khu vực miền núi Thanh Hóa có thu nhập bình quân đầu người năm 2022 đạt 3,6 triệu đồng/tháng, thấp hơn mức 4,2 triệu đồng/tháng của cả nước. Trong giai đoạn dịch bệnh, khu vực đón 1.000 lượt khách năm 2020 và 950.000 lượt khách năm 2021; số lượng doanh nghiệp homestay tăng từ 105 cơ sở (năm 2020) lên 125 cơ sở (năm 2021).
-
Quy trình PRISMA trong luận án đã chọn lọc bao nhiêu công trình và phân bố địa bàn ra sao?
Trả lời: Từ 190 tài liệu ban đầu, quy trình PRISMA qua 4 bước đã chọn lọc được 56 bài báo học thuật có bình duyệt. Trong đó, khu vực Châu Á - Thái Bình Dương chiếm tỷ lệ lớn nhất với 33 bài (58,9%), tiếp theo là Châu Phi 7 bài (12,5%), Châu Âu 5 bài (8,9%), Bắc Mỹ 3 bài (5,4%), Nam Mỹ 2 bài (3,6%) và 5 bài nghiên cứu đa quốc gia (8,8%).
-
Cỡ mẫu và địa bàn khảo sát định lượng chính thức của luận án được thực hiện như thế nào?
Trả lời: Nghiên cứu định lượng chính thức sử dụng bảng hỏi tự điền với cỡ mẫu 448 phiếu hợp lệ từ cư dân bản địa, được phân bổ theo phương pháp chọn mẫu phân tầng tại 6 bản: bản Báng, bản Đôn, bản Mười, bản Hang, bản Kho Mường và bản Ấm Hiêu, thuộc hai huyện Bá Thước và Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Dương Thị Hiền là công trình nghiên cứu hệ thống về vấn đề xung đột giữa cư dân và các bên liên quan tại các điểm đến du lịch cộng đồng miền núi Thanh Hóa thông qua phương pháp tiếp cận hỗn hợp. Tác giả đã vận dụng Thuyết Xung đột xã hội và Thuyết Trao đổi xã hội mở rộng để xây dựng và kiểm định thành công bộ thang đo 21 biến quan sát đo lường xung đột của cư dân với khách du lịch, doanh nghiệp và chính quyền địa phương. Kết quả phân tích mô hình cấu trúc PLS-SEM đã chứng minh vai trò tác động của mức độ tham gia, cảm nhận lợi ích và cảm nhận tổn hại đối với xung đột tại điểm đến. Luận án cung cấp hệ thống dữ liệu thực nghiệm và luận cứ khoa học có giá trị phục vụ công tác quản lý, điều tiết lợi ích và định hướng phát triển du lịch cộng đồng bền vững tại khu vực miền núi.