CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan nghiên cứu về Rừng ngập mặn trên thế giới và ở Việt Nam 1. Nghiên cứu phân bố rừng ngập mặn trên thế giới Theo Hamilton và Casey (2016) [62] thống kê của FAO (2007) [42], diện tích rừng ngập mặn trên thế giới có khoảng 152,310 km2 và rừng ngập mặn phân bố rải rác ở 124 quốc gia trên thế giới, phần lớn là phát triển các nước ở châu Á, Chow và Jeffrey (2018) [36].
Tuy nhiên, tác giả Alongi (2002) [22] dẫn theo Mark Spalding thì năm 2010 thì rừng ngập mặn phân bố ở 123 quốc gia và vùng lãnh thổ trên toàn cầu với diện tích tổng cộng 152.000 km2 kéo dài từ 32°N đến 38°S và phân bố trên vùng ven biển Tây Bắc Thái Bình Dương và bờ biển châu Phi, rừng ngập mặn bị hạn chế bởi khí hậu khô cằn, Saenger (2002) [101]. Chúng che phủ đến 75% bờ biển nhiệt đới và cận nhiệt đới (hình 1.1), Giri và cộng sự (1996) [52], Spalding (1997) [106]. Rừng ngập mặn thường xanh râm mát thường nằm dọc theo vùng chuyển tiếp giữa đất liền và biển trong vùng ven biển cửa sông, cửa sông và môi trường rạn, có đặc điểm là gió mạnh, ngập nước khác nhau, nhiệt độ cao và đất bùn yếm khí, Lugo và Snedaker (1974) [18], Kathiresan và Bingham (2001) [78]. Rừng ngập mặn phát triển trong vùng xích đạo đạt được sinh khối tối đa.
Những điều kiện thuận lợi này cho phép cây cối tăng trưởng tối ưu, với tán cây đạt đến độ cao 30-40m, FAO (2007) [42], Tomlinson (1986) [110] đồng thời, do mức nhiệt độ thấp hơn nên lượng sinh khối giảm với độ lớn ngày càng gia tăng, Alongi (2002) [22], Blasco và cộng sự (1996) [32]. Trong các điều kiện môi trường kém thuận lợi, rừng ngập mặn hình thành những vùng đồi mồi bị cằn cỗi với tán cây có độ cao 1-2 m, phân bố rừng ngập mặn trên thế giới được thể hiện trên Hình 1. Nguồn: Tomlinson (1986) [110] Hình 1.1: Phân bố rừng ngập mặn trên thế giới và sự đa dạng của các loài cây 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Các số liệu thống kê cho thấy, rừng ngập mặn phân bố rộng nhất ở châu Á (39%), Châu Phi (21%), Bắc và Trung Mỹ (15%), Nam Mỹ (12,6%) và Châu Đại Dương (Úc, Papua New Guinea, New Zealand, đảo Nam Thái Bình Dương) (12,4%), Ngô Đình Quế và Võ Đại Hải (2012) [15]. Theo một số tác giả thì sự phân bố của rừng ngập mặn ở khu vực giữa Malaysia và Bắc Australia được coi là trung tâm tiến hóa của khu hệ thực vật ngập mặn, Hou (1958) [67].
Sự chuyển đổi mục đích sử dụng đất và chuyển đổi cơ cấu canh tác đã dẫn đến mất mát rộng rãi của rừng ngập mặn. Người ta ước tính khoảng 20% diện tích rừng ngập mặn đã bị mất trong khoảng thời gian từ năm 1980 – 2005 (FAO, 2007 ) mặc dù tỷ lệ mất mát chậm lại trong những năm gần đây. Khoảng 1850 km 2 đã bị mất hàng năm vào những năm 1980 tương đương 1,4% tổng diện tích và giảm xuống còn 1.185km 2 /năm (0,72%) vào những năm 1990. Từ năm 2000 đến năm 2005, thiệt hại 1020 km 2 /năm (0,66%), FAO (2007) [42].
Biến động diện tích rừng ngập măn thế giới từ năm 1980 – 2005 Ước tính chính Biến động Biến động hằng Biến động hằng xác gần đây 1980 1990 hằng năm 1980 2000 2005 TT Khu vực năm 1999 - 2005 năm 2000 - 2005 nhất - 1990 1000ha Năm 1000ha 1000ha 1000ha % 1000ha 1000ha % 1000ha 1000ha % 1 Châu Phi 3243 1997 3670 3428 -24 -0,68 3218 -21 -0,63 3160 -12 -0,63 2 Châu Á 6048 2002 7769 6741 -103 -1,41 6163 -58 -0,89 5858 -61 -1,01 3 Bắc và 2358 2000 2951 2592 -36 -1,29 2352 -24 -0,97 2263 -18 -0,77 Trung Mĩ 4 Châu Đại 2019 2003 2181 2090 -9 -0,42 2012 -8 -0,38 1972 -8 -0,39 Dương 5 Nam Mỹ 2038 1992 2222 2073 -15 -0,69 1996 -8 -0,38 1978 -4 -0,18 Thế giới 15705 2000 18794 16925 -187 -1,04 15740 -118 -0,72 15231 -102 -0,66 Nguồn: Phan Thị Thanh Hương (2018) [12]. Biến động diện tích RNM trên thế giới thể hiện trong biểu đồ hình 1.2: Biến động diện tích rừng ngập mặn trên thế giới. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nghiên cứu của tác giả Hamilton và Casey (2016) [62] cho thấy rừng ngập mặn độ che phủ cây giảm từ 173.067 km2 năm 2000 xuống còn 167,387 km2 vào năm 2012. Nhờ ngoại suy những số liệu trước đó ước tính độ che phủ của rừng ngập mặn là 163.
Một số nghiên cứu tiêu biểu về phân bố và hiện trạng rừng trên thế giới như: Nghiên cứu về hiện tại và tương lai của của rừng ngập mặn trên thế giới của, Alongi (2002) [22], tác giả chỉ ra tầm quan trọng của rừng ngập mặn đối với con người và thiên nhiên, sự biến động của rừng ngập mặn trong 50 năm qua trên thế giới và dự đoán trong tương lai việc phát triển nuôi trồng thủy hải sản, việc khai thác quá mức thủy sản và rừng có tổ chức thiếu bền vững sẽ gây ra thiệt hại rất lớn về rừng ngập mặn ven biển. Ảnh hưởng đến môi trường đặc biệt là các yếu tố thủy văn, vấn đề ô nhiễm và nóng lên toàn cầu, Alongi (2002) [22]. Theo Giri, tổng diện tích rừng ngập mặn trong năm 2000 là 137.760 km 2 ở 118 quốc gia và vùng lãnh thổ ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới trên thế giới, Giri và cộng sự (2011) [55]. Năm 2010, Spalding đã đưa ra cuốn sách bản đồ thế giới về rừng ngập mặn.
Tác giả cũng đã nghiên cứu chi tiết về hệ sinh thái rừng ngập mặn, quan hệ giữa rừng ngập mặn và con người và cuối cùng là lập bản đồ về rừng ngập mặn trên thế giới và cho từng nước trong các khu vực khu vực trên thế giới, Spalding (2010) [107]. Nghiên cứu về phân bố Rừng ngập mặn ở Việt Nam 1. Phân bố rừng ngập mặn Hệ sinh thái rừng ngập mặn phân bố dọc bờ biển Việt Nam thuộc 28 tỉnh và thành phố. Theo Phan Nguyên Hồng (2000) [11] dựa vào các yếu tố địa lý, khảo sát thực địa và phân tích ảnh viễn thám đã chia rừng ngập mặn Việt Nam thành 4 khu vực, và 12 tiểu khu: Khu vực I: Ven biển Đông Bắc, từ mũi Ngọc đến mũi Đồ Sơn.
Khu vực này được chia làm 3 tiểu khu. Tiểu khu 1: từ Móng Cái đến Cửa Ông; Tiểu khu 2: từ Cửa Ông đến Cửa Lục (dài khoảng 40km); Tiểu khu 3: từ Cửa Lục đến mũi Đồ Sơn (dài khoảng 55 km). Khu vực II: Ven biển đồng bằng Sông Hồng từ mũi Đồ Sơn đến mũi Lạch Trường. Khu vực này được chia làm 2 tiểu khu.
Tiểu khu 1: từ mũi Đồ Sơn đến cửa sông Văn Úc; Tiểu khu 2: từ cửa sông Văn Úc đến cửa Lạch Trường, nằm trong khu vực bồi tụ của hệ sông Hồng. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khu vực III: Ven biển Trung bộ, từ mũi Lạch Trường đến mũi Vũng Tàu. Chia làm 3 tiểu khu. Tiểu khu 1: từ Lạch Trường đến mũi Ròn; Tiểu khu 2: từ mũi Ròn đến mũi đèo Hải Vân; Tiểu khu 3: từ mũi đèo Hải Vân đến mũi Vũng Tàu.
Khu vực IV: Ven biển Nam bộ, từ mũi Vũng Tàu đến mũi Nải – Hà Tiên, chia 4 tiểu khu. Tiểu khu 1: từ mũi Vũng Tàu đến cửa sông Soài Rạp (Ven biển Đông Nam Bộ); Tiểu khu 2: từ cửa sông Soài Rạp đến cửa sông Mỹ Thanh (ven biển đồng bằng sông Cửu Long); Tiểu khu 3: từ cửa sông Mỹ Thanh đến cửa sông Bảy Háp (Tây Nam bán đảo Cà Mau); Tiểu khu 4: từ cửa sông Bảy Háp (mũi Bà Quan) đến mũi Nải – Hà Tiên (bờ biển phía tây bán đảo Cà Mau). Hiện trạng rừng ngập mặn Ở nước ta, rừng ngập mặn chỉ chiếm khoảng 1,5% tổng diện tích rừng của cả nước (14,4 triệu ha), Phạm Thu Thuỷ và cộng sự (2019) [16]. Tuy nhiên, chúng đóng vai trò rất quan trọng trong bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ bờ biển, đặc biệt trong giảm nhẹ các tác động và ứng phó với biến đổi khí hậu.
Xét về tính đa dạng hệ thực vật, rừng ngập mặn Việt Nam có 36 loài cây ngập mặn thực thụ thuộc 20 chi và 14 họ và 77 loài thực vật tham gia, Phạm Thu Thuỷ và cộng sự (2019) [16]. Diện tích rừng ngập mặn ở Việt Nam đã giảm đáng kể, từ 408.290 ha vào năm 2000, sau 15 năm, diện tích rừng ngập mặn cả nước chỉ còn khoảng 57. Suy giảm rừng ngập mặn là kết quả của nhiều nguyên nhân, trong đó có cả hậu quả của việc sử dụng chất diệt cỏ (chất độc da cam) trong thời gian chiến tranh; chuyển đổi rừng ngập mặn sang canh tác nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản; lấn biển và đô thị hóa, Phạm Thu Thuỷ và cộng sự (2019) [16]. Diện tích rừng ngập mặn ở nước ta từ năm 1943 đến 2015 thể hiện ở bảng 1.2: Diện tích rừng ngâp mặn tại Việt Nam giai đoạn 1943 – 2015 TT Năm Diện tích rừng (ha) Nguồn 1 1943 408.000 Hong và San (1993) [66] 3 1975 286.400 Hong và San (1993) [66] 4 2000 155.290 Phạm Thu Thuỷ và cộng sự (2019) [16] 5 2005 63.263 Bộ Nông nghiệp và PTNT (2006) [2] 6 2010 96.260 Bộ Nông nghiệp và PTNT (2011) [3] 7 2015 57.211 Bộ Nông nghiệp và PTNT (2016) [4] 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ở Việt Nam cũng đã có nhiều nghiên cứu về phân bố và hiện trạng của rừng ngập mặn.
Phan Nguyên Hồng là một trong những tác giả đi đầu trong việc nghiên cứu các vấn đề về rừng ngập mặn tại Việt Nam. Ông có một số nghiên cứu tiêu biểu vào năm 1993, năm 1999, Hong và San (1993) [66], Phan Nguyên Hồng (2000) [11]. Các kết quả nghiên cứu của ông còn được kế thừa nhiều trong các nghiên cứu sau này về sinh thái rừng ngập mặn, Hong và San (1993) [66]. Số liệu thống kê cho thấy hệ sinh thái rừng ngập mặn trên thế giới giảm mạnh so với những năm 80 tuy nhiên do có sự chú ý nhiều hơn của các cơ quan tổ chức vào những năm gần đây nên diện tích rừng ngập mặn tuy chưa cao nhưng đã có xu hướng tăng lên.
Nhận xét: Trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, đã có nhiều công trình nghiên cứu công phu về phân bố, hiện trạng rừng ngập mặn. Mặc dù gần đây, việc nghiên cứu về rừng ngập mặn đã được phát triển nhiều thông qua sự hỗ trợ của các thành tựu khoa học công nghệ, nhưng các công trình này vẫn có giá trị khoa học rất lớn, cung cấp các cơ sở lý luận và thực tiễn cho quá trình nghiên cứu rừng ngập mặn.