Tổng quan luận án

Mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra (CQĐT) và Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) là mối quan hệ tố tụng đặc thù giữa hai chủ thể cùng thực hiện chức năng buộc tội trong tố tụng hình sự (TTHS). Mối quan hệ này hình thành ngay từ giai đoạn giải quyết nguồn tin về tội phạm và chi phối toàn bộ tiến trình tố tụng. Việc thực hiện hiệu quả mối quan hệ này là cơ sở bảo đảm cho hoạt động buộc tội chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, hạn chế oan sai và chống bỏ lọt tội phạm, đồng thời bảo đảm quyền con người, quyền công dân.

Trong hệ thống CQĐT, Cơ quan Cảnh sát điều tra (CQCSĐT) giữ vai trò chủ đạo, có thẩm quyền thụ lý và điều tra đối với các tội phạm được quy định tại 262/314 điều luật về tội phạm cụ thể của Bộ luật Hình sự (chiếm 83,4%). Số liệu thống kê của Bộ Công an cho thấy trung bình mỗi năm CQCSĐT tiếp nhận, giải quyết hơn 78.500 nguồn tin về tội phạm (chiếm khoảng 93% cả nước); trực tiếp khởi tố và điều tra khoảng 70.000 bị can (chiếm 95% tổng số vụ án hình sự và 97% tổng số bị can cả nước). Tuy nhiên, thực tiễn hoạt động điều tra vẫn bộc lộ những hạn chế như tình trạng oan sai, bỏ lọt tội phạm hoặc bức cung, nhục hình. Nguyên nhân xuất phát từ việc cơ chế phối hợp, kiểm soát giữa CQCSĐT và VKSND chậm đổi mới theo yêu cầu cải cách tư pháp; quy định pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của hai cơ quan còn vướng mắc. Trước yêu cầu của Nghị quyết số 49-NQ/TW, Kết luận số 92-KL/TW, Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức VKSND năm 2014, Luật Tổ chức CQĐT hình sự năm 2015 và Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015, việc nghiên cứu toàn diện mối quan hệ tố tụng giữa CQCSĐT và VKSND là yêu cầu cấp thiết.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định: Từ khi thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp theo Nghị quyết số 49-NQ/TW đến thời điểm nghiên cứu, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, chuyên biệt và toàn diện về mối quan hệ tố tụng giữa CQCSĐT và VKSND trong toàn bộ quá trình TTHS dựa trên các nền tảng chính trị - pháp lý mới.

Mục đích nghiên cứu: Làm sáng tỏ cơ sở lý luận về mối quan hệ tố tụng giữa CQCSĐT và VKSND; đánh giá thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thi hành ở Việt Nam; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện mối quan hệ này theo định hướng cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) và hội nhập quốc tế.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về mối quan hệ tố tụng giữa CQĐT và VKS/cơ quan công tố ở trong nước và nước ngoài; làm rõ kết quả đạt được và những vấn đề cần tiếp tục giải quyết.
  2. Phân tích mô hình, đặc trưng TTHS Việt Nam; làm rõ vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của CQCSĐT và VKSND; xây dựng khái niệm, đặc điểm, nội dung và hình thức của mối quan hệ tố tụng giữa hai cơ quan.
  3. Đánh giá các yếu tố tác động và thực trạng thực hiện mối quan hệ tố tụng giữa CQCSĐT và VKSND trong tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án, giải quyết khiếu nại, tố cáo và tương trợ tư pháp hình sự; chỉ ra ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân.
  4. Làm rõ các yêu cầu đặt ra và đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện mối quan hệ tố tụng giữa CQCSĐT và VKSND trong thời gian tới.

Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn của mối quan hệ tố tụng giữa CQCSĐT và VKSND trong TTHS Việt Nam.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Về nội dung: Mối quan hệ tố tụng giữa CQCSĐT và VKSND từ khi tiếp nhận nguồn tin về tội phạm cho đến khi hoàn thành điều tra vụ án hình sự và giải quyết khiếu nại, tố cáo về TTHS.
  • Về không gian: Hệ thống CQCSĐT và VKSND trên phạm vi toàn quốc.
  • Về thời gian: Khảo sát, đánh giá thực trạng trong khoảng thời gian 10 năm, từ năm 2008 đến năm 2018.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo 4 nhóm chính:

Nhóm nghiên cứu về mô hình TTHS và tổ chức bộ máy cơ quan tư pháp ở nước ngoài:

  • Công trình của Michel Fromont (2006) về các hệ thống pháp luật cơ bản; G. Kelly về hệ thống pháp luật nước Anh; Jolowick về mô hình tố tụng; G. Kessel về tranh tụng hình sự tại Mỹ; Donald Chiasson (2003) về so sánh pháp luật TTHS.
  • Nghiên cứu của Simon Butt, Luke Nottage, Kent Anderson, Makoto Ibusuki, David Johnson, Byung-Sun Cho, Tom Ginsburg, Butler (2010) về hệ thống tư pháp các nước Trung Quốc, Indonesia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Liên bang Nga và Đông Âu.
  • Các tác giả chỉ ra: Mô hình thẩm vấn (Pháp, Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc) trao quyền chỉ đạo điều tra cho công tố, ĐTV chịu sự điều hành của Công tố viên; mô hình tranh tụng (Anh, Mỹ, Australia) phân định rành mạch, công tố không trực tiếp can thiệp điều tra mà đóng vai trò thẩm định, truy tố; mô hình VKS (Nga, Trung Quốc) thực hiện đồng thời chức năng buộc tội và kiểm sát tư pháp.

Nhóm nghiên cứu về cải cách tổ chức, hoạt động Cảnh sát và Công tố:

  • Báo cáo của TS. Call (2002) thuộc Viện Hòa bình thế giới (LHQ) về nâng cao hiệu quả và trách nhiệm của cảnh sát; Báo cáo của GS. Butler (2010) về tư pháp Nga và Đông Âu; Sổ tay của Bộ Tư pháp Hoa Kỳ (2000) về phối hợp điều tra ma túy; Allan Y. Jiao (2010) về kiểm soát tham nhũng và lạm quyền của cảnh sát New York và Hồng Kông; các bài viết của TS. Ngô Phi Phi, J. Herrmann, David H. Bayley, Clifford D. Shearing, Stephen Johnson, Lohanna Mendelson, PGS.TS. Nguyễn Ngọc Chí.

Nhóm công trình trong nước về mô hình TTHS và tổ chức cơ quan tư pháp:

  • Đề tài cấp nhà nước do TS. Nguyễn Văn Quyền chủ nhiệm (2016) về quyền tư pháp trong Nhà nước pháp quyền XHCN; Sách chuyên khảo của TS. Lê Hữu Thể và TS. Nguyễn Thị Thủy (2013); Đề án mô hình TTHS của Ban cán sự Đảng VKSND tối cao (2011); Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Thủy (2014); Bình luận khoa học BLTTHS của GS. Võ Khánh Vinh (2004); Sách chuyên khảo về BLTTHS 2015 của PGS.TS. Nguyễn Hòa Bình (2016); Đề tài cấp Bộ của PGS.TS. Bùi Nguyên Khánh (2010); các bài viết của PGS.TS. Trần Đình Nhã, PGS.TS. Trần Thành Hưng, TS. Đinh Thị Mai, ThS. Dư Hoàng Châu, GS.TS. Trần Ngọc Đường.

Nhóm công trình nghiên cứu trực tiếp về chức năng, thẩm quyền và quan hệ giữa CQĐT và VKSND:

  • Đề tài cấp bộ và sách chuyên khảo của GS.TS. Nguyễn Ngọc Anh (2009); Đề án thu gọn đầu mối CQĐT của Đảng ủy Công an Trung ương; Đề án chuyển VKS thành Viện Công tố của VKSND tối cao; Luận án tiến sĩ của Lê Thị Tuyết Hoa (2014), Lê Minh Long (2013), Đào Hữu Dân (2002), Nguyễn Tiến Sơn (2010); Sách của TS. Lê Hữu Thể, TS. Nguyễn Hải Phong, ThS. Nguyễn Thị Mai Nga; bài viết của TS. Nguyễn Kim Sáu, TS. Triệu Văn Đạt, Vũ Huy Thuận, Bùi Thị Tú Oanh.

Khoảng trống nghiên cứu được lựa chọn giải quyết: Các công trình trước đây chủ yếu nghiên cứu quan hệ giữa CQĐT nói chung với VKS, hoặc khảo sát trong phạm vi hẹp trước năm 2005. Chưa có công trình nào đánh giá toàn diện mối quan hệ tố tụng chuyên biệt giữa CQCSĐT và VKSND theo tinh thần Hiến pháp 2013, BLTTHS 2015, Luật Tổ chức VKSND 2014 và Luật Tổ chức CQĐT hình sự 2015, nhằm xây dựng giải pháp đồng bộ về phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực tư pháp.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; quan điểm, chủ trương của Đảng về cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN; hệ thống lý luận khoa học luật hình sự và TTHS.

Các khái niệm và khung lý thuyết chủ đạo:

  • Lý thuyết về mô hình TTHS: Phân tích mô hình thẩm vấn, mô hình tranh tụng và xác định mô hình TTHS Việt Nam hiện hành là mô hình thẩm vấn kết hợp các yếu tố tranh tụng.
  • Khái niệm quyền công tố và thực hành quyền công tố (THQCT): Quyền công tố là quyền năng pháp lý nhà nước giao cho VKSND để buộc tội cá nhân, pháp nhân phạm tội từ khi giải quyết nguồn tin tội phạm đến khi có bản án hiệu lực. THQCT là hoạt động cụ thể của VKSND triển khai quyền năng đó trên thực tế.
  • Khái niệm mối quan hệ tố tụng: Là mối quan hệ giữa CQCSĐT và VKSND trong thực hiện chức năng buộc tội và kiểm sát việc tuân theo pháp luật, mang tính chất phối hợp và chế ước lẫn nhau.

Phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng xuyên suốt các chương để luận giải lý luận, khái niệm, đặc điểm, nội dung và các quy định pháp luật điều chỉnh quan hệ tố tụng.
  • Phương pháp so sánh luật học: Phân tích, đối chiếu mô hình TTHS, quy định pháp luật và kinh nghiệm tổ chức cơ quan điều tra, cơ quan công tố của nhiều quốc gia trên thế giới với Việt Nam.
  • Phương pháp thống kê: Thu thập, tổng hợp và phân tích dữ liệu về tiếp nhận tin báo, khởi tố, điều tra, đình chỉ, trả hồ sơ điều tra bổ sung từ các nguồn thống kê chính thức.
  • Phương pháp điều tra khảo sát: Khảo sát ý kiến, nhận thức của đội ngũ chuyên gia, Điều tra viên (ĐTV) và Kiểm sát viên (KSV) về thực tiễn quan hệ tố tụng.
  • Phương pháp lịch sử và hệ thống hóa: Phân tích sự phát triển của các quy định pháp luật TTHS qua các giai đoạn lịch sử và sắp xếp các luận điểm theo kết cấu chặt chẽ.

Nguồn tư liệu và dữ liệu:

  • Văn bản pháp luật: Hiến pháp 2013, BLHS, BLTTHS (năm 2003 và 2015), Luật Tổ chức VKSND 2014, Luật Tổ chức CQĐT hình sự 2015 và các thông tư liên tịch.
  • Dữ liệu thực tiễn: Báo cáo, số liệu thống kê trong 10 năm (2008 - 2018) do Cục Thống kê tội phạm VKSND tối cao và Văn phòng CQCSĐT Bộ Công an cung cấp.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến luận án

Chương 1 tổng thuật các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài. Luận án phân nhóm các tài liệu quốc tế và trong nước nghiên cứu về mô hình TTHS, cơ cấu tổ chức bộ máy tư pháp, xu hướng cải cách cảnh sát - viện kiểm sát/công tố, và mối quan hệ giữa hoạt động điều tra với công tố. Tác giả chỉ ra rằng các công trình trước đây là tiền đề khoa học quan trọng nhưng chưa giải quyết triệt để mối quan hệ giữa CQCSĐT và VKSND trong bối cảnh các đạo luật tư pháp mới năm 2014, 2015 có hiệu lực. Chương này xác định rõ 4 vấn đề trọng tâm mà luận án trực tiếp thực hiện.

Chương 2: Những vấn đề lý luận về mối quan hệ tố tụng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự Việt Nam

Chương 2 tập trung xây dựng cơ sở lý luận về mối quan hệ tố tụng giữa hai cơ quan. Tác giả phân tích đặc trưng của hai mô hình TTHS chính trên thế giới:

Tiêu chí Mô hình Tố tụng Thẩm vấn Mô hình Tố tụng Tranh tụng
Phân chia giai đoạn Chia thành 3 giai đoạn rõ rệt: điều tra, truy tố, xét xử Không chia tách cứng nhắc thành các giai đoạn
Vai trò của Công tố/VKS trong điều tra Chỉ đạo, giám sát trực tiếp hoặc cùng tiến hành điều tra Không giám sát điều tra; đóng vai trò thẩm định chứng cứ độc lập
Thu thập chứng cứ Chủ yếu do CQĐT, VKS, Tòa án tiến hành Bên buộc tội và bên gỡ tội có quyền thu thập chứng cứ ngang nhau
Phiên tòa xét xử Thẩm phán nghiên cứu hồ sơ trước; xét hỏi giữ vai trò chủ đạo Thẩm phán làm trọng tài; phán quyết dựa trên kết quả tranh luận tại tòa
Ưu điểm / Hạn chế chính Tránh bỏ lọt tội phạm; dễ định kiến, quyền bào chữa hạn chế Bảo đảm dân chủ, công khai; dễ dẫn đến bỏ lọt tội phạm

Từ việc phân tích mô hình TTHS Việt Nam là mô hình thẩm vấn kết hợp các yếu tố tranh tụng, chương 2 làm rõ:

  • Vị trí, chức năng của CQCSĐT: Là cơ quan thuộc hệ thống hành pháp (Bộ Công an) nhưng thực hiện hoạt động tư pháp, chịu trách nhiệm chính trong khởi tố, điều tra, thu thập chứng cứ chứng minh tội phạm (chiếm 83,4% các điều luật tội phạm cụ thể trong BLHS).
  • Vị trí, chức năng của VKSND: Cơ quan độc lập thực hiện hai chức năng hiến định là THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp. Luận án phân tích 4 quan điểm về quyền công tố và khẳng định quan điểm: quyền công tố gắn liền với hoạt động điều tra, định hướng hoạt động điều tra nhằm phục vụ việc buộc tội tại tòa án.
  • Bản chất mối quan hệ tố tụng: Là mối quan hệ giữa hai cơ quan cùng thực hiện chức năng buộc tội, có sự phân định rành mạch về nhiệm vụ, thẩm quyền nhưng có sự phối hợp chặt chẽ và kiểm soát, chế ước lẫn nhau. Hình thức của mối quan hệ thể hiện qua các văn bản tố tụng, quy chế phối hợp liên ngành, các cuộc họp trao đổi nghiệp vụ và việc trực tiếp tham gia các hoạt động tố tụng.

Chương 3: Thực trạng mối quan hệ tố tụng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay

Chương 3 phân tích thực trạng pháp luật, cơ cấu tổ chức bộ máy và thực tiễn thực hiện mối quan hệ tố tụng trong giai đoạn 2008 - 2018 dựa trên nguồn số liệu thống kê thực tế:

Khâu công tác Thực trạng phối hợp và kiểm soát Hạn chế, vướng mắc phát hiện
Tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm CQCSĐT thụ lý trung bình 78.500 nguồn tin/năm (93% cả nước); VKSND kiểm sát việc thụ lý, kiểm tra xác minh Một số nguồn tin chưa được phân loại chính xác, tình trạng chậm gửi thông báo tiếp nhận, VKSND khó kiểm soát toàn bộ nguồn tin ban đầu
Khởi tố, áp dụng biện pháp ngăn chặn CQCSĐT lập hồ sơ đề nghị; VKSND phê chuẩn hoặc trực tiếp khởi tố, phê chuẩn lệnh bắt, tạm giữ, tạm giam Việc phê chuẩn đôi lúc còn chậm trễ; quan điểm đánh giá chứng cứ ban đầu giữa ĐTV và KSV chưa thống nhất
Tiến hành hoạt động điều tra KSV tham gia khám nghiệm hiện trường, tử thi, đối chất, nhận dạng; VKSND đề ra yêu cầu điều tra Yêu cầu điều tra của VKSND có lúc còn chung chung; KSV ít khi trực tiếp tham gia đầy đủ các hoạt động điều tra bắt buộc
Kết thúc điều tra và trả hồ sơ điều tra bổ sung Tỷ lệ điều tra kết thúc đề nghị truy tố đạt cao đối với các vụ án nghiêm trọng Vẫn tồn tại tỷ lệ trả hồ sơ để điều tra bổ sung giữa hai cơ quan do chưa thu thập đầy đủ chứng cứ hoặc vi phạm thủ tục

Luận án chỉ ra các nguyên nhân hạn chế: Hệ thống pháp luật còn chồng chéo, một số quy định về quyền hạn của KSV khi trực tiếp tiến hành điều tra chưa cụ thể; áp lực công việc lớn, biên chế ĐTV và KSV còn thiếu; cơ sở vật chất phục vụ điều tra còn hạn chế; cơ chế phối hợp liên ngành có lúc thiếu đồng bộ.

Chương 4: Hoàn thiện mối quan hệ tố tụng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự Việt Nam thời gian tới

Chương 4 xác định các yêu cầu từ Nghị quyết số 49-NQ/TW, Kết luận số 92-KL/TW, Hiến pháp năm 2013 và đưa ra các nhóm giải pháp:

  • Yêu cầu và định hướng: Tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra; gắn công tố với điều tra; bảo đảm nguyên tắc phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực; tôn trọng tính độc lập theo luật định của ĐTV và KSV; bảo đảm quyền con người, quyền công dân.
  • Hoàn thiện pháp luật TTHS: Hướng dẫn cụ thể quy trình VKSND kiểm sát nguồn tin tội phạm ngay từ cơ sở; quy định rõ giá trị pháp lý và chế tài bắt buộc đối với yêu cầu điều tra của KSV; hoàn thiện thủ tục KSV tham gia các hoạt động điều tra bắt buộc (đối chất, nhận dạng, thực nghiệm điều tra).
  • Hoàn thiện tổ chức bộ máy và nâng cao năng lực cán bộ: Sắp xếp bộ máy CQCSĐT theo hướng thu gọn đầu mối; đào tạo nâng cao kỹ năng điều tra cho KSV và kỹ năng thu thập chứng cứ theo yêu cầu tranh tụng cho ĐTV; tăng cường ứng dụng khoa học kỹ thuật và bảo đảm điều kiện cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận:

  • Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về mối quan hệ tố tụng giữa CQCSĐT và VKSND dưới góc độ mô hình TTHS Việt Nam (mô hình kết hợp giữa thẩm vấn và tranh tụng).
  • Xây dựng định nghĩa hoàn chỉnh, phân tích các đặc điểm, nội dung, hình thức và các yếu tố chi phối mối quan hệ tố tụng giữa CQCSĐT và VKSND trong giai đoạn hiện nay.
  • Luận giải tính tất yếu của việc tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra gắn với kiểm soát quyền lực nhà nước, phòng ngừa lạm quyền và bảo đảm quyền con người.

Đóng góp về mặt thực tiễn:

  • Cung cấp bức tranh toàn diện, có hệ thống về thực trạng thực hiện mối quan hệ tố tụng giữa hai cơ quan trong 10 năm (2008 - 2018) qua các nguồn số liệu thống kê chính thống.
  • Nhận diện những hạn chế, tồn tại trong tiếp nhận nguồn tin, áp dụng biện pháp ngăn chặn, điều tra và giải quyết khiếu nại tố cáo, từ đó phân tích các nguyên nhân chủ quan và khách quan.
  • Đề xuất hệ thống các kiến nghị, giải pháp sửa đổi quy định pháp luật TTHS, kiện toàn tổ chức bộ máy và đổi mới quy chế phối hợp liên ngành giữa Bộ Công an và VKSND tối cao.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài:

  • Đề tài tập trung nghiên cứu mối quan hệ tố tụng giữa VKSND với CQCSĐT mà không bao hàm toàn bộ các cơ quan điều tra khác (như Cơ quan An ninh điều tra, CQĐT trong Quân đội, CQĐT của VKSND tối cao).
  • Số liệu khảo sát thực tiễn giới hạn trong mốc thời gian 10 năm (2008 - 2018), do đó chưa bao quát được toàn bộ quá trình áp dụng thực tế lâu dài của các đạo luật tư pháp mới sau năm 2018.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Nghiên cứu đánh giá toàn diện hiệu quả thực thi thực tế của BLTTHS năm 2015 và Luật Tổ chức CQĐT hình sự năm 2015 trong giai đoạn sau năm 2018 đối với toàn bộ hệ thống các CQĐT.
  • Nghiên cứu sâu cơ chế kiểm soát của Tòa án đối với các biện pháp cưỡng chế, hạn chế quyền con người trong giai đoạn điều tra theo xu hướng mở rộng tranh tụng.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cho nhiều đối tượng:

  • Cơ quan lập pháp và các ban soạn thảo: Tham khảo các luận cứ khoa học để tiếp tục hoàn thiện, sửa đổi, bổ sung BLTTHS, Luật Tổ chức CQĐT hình sự, Luật Tổ chức VKSND và các văn bản hướng dẫn thi hành.
  • Đội ngũ cán bộ thực tiễn (Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Kiểm sát viên): Tham khảo nội dung đánh giá thực trạng, nhận diện các dạng vi phạm và phương pháp phối hợp nghiệp vụ trong tiếp nhận nguồn tin, thu thập chứng cứ và giải quyết vụ án hình sự.
  • Cơ sở đào tạo và nghiên cứu: Cung cấp nguồn tài liệu học thuật phục vụ giảng dạy, nghiên cứu chuyên khảo trong các học viện, trường đại học luật, an ninh, cảnh sát và kiểm sát.

Câu hỏi thường gặp

  1. Luận án định vị mô hình tố tụng hình sự Việt Nam thuộc mô hình nào? Luận án khẳng định mô hình TTHS Việt Nam về cơ bản thuộc mô hình TTHS thẩm vấn, nhưng đã tiếp thu và tích hợp các yếu tố của mô hình tranh tụng. Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được luật hóa, đòi hỏi bản án phải căn cứ vào kết quả kiểm tra chứng cứ và tranh luận dân chủ tại phiên tòa.

  2. CQCSĐT đảm nhận khối lượng công việc như thế nào trong hệ thống tư pháp hình sự Việt Nam? Theo số liệu thống kê được nêu trong luận án, CQCSĐT thụ lý các tội phạm quy định tại 262/314 điều luật tội phạm cụ thể của BLHS (chiếm 83,4%). Trung bình mỗi năm CQCSĐT tiếp nhận, giải quyết hơn 78.500 nguồn tin tội phạm (93% cả nước) và trực tiếp điều tra khoảng 70.000 bị can (chiếm 95% số vụ án và 97% số bị can của toàn quốc).

  3. Quyền công tố và THQCT trong giai đoạn điều tra được luận án định nghĩa như thế nào? Quyền công tố là quyền năng pháp lý nhà nước giao cho VKSND để buộc tội người phạm tội. THQCT là tổng thể các hoạt động cụ thể của VKSND theo quy định pháp luật để thực hiện việc buộc tội từ khâu giải quyết nguồn tin tội phạm đến khi bản án có hiệu lực hoặc vụ án bị đình chỉ. Trong giai đoạn điều tra, công tố gắn liền với điều tra nhằm định hướng thu thập chứng cứ bảo đảm việc buộc tội tại tòa án.

  4. Khác biệt cơ bản về vai trò của công tố trong giai đoạn điều tra giữa mô hình thẩm vấn và mô hình tranh tụng là gì? Ở mô hình thẩm vấn, cơ quan công tố/VKS có vai trò chỉ đạo, định hướng, giám sát chặt chẽ hoạt động điều tra và có thể trực tiếp tiến hành điều tra. Ngược lại, ở mô hình tranh tụng, cơ quan công tố không giám sát và không can thiệp sâu vào quá trình điều tra của cảnh sát, mà chỉ đóng vai trò tư vấn pháp lý và độc lập đánh giá chứng cứ sau khi cảnh sát kết thúc điều tra để quyết định truy tố.

  5. Luận án sử dụng dữ liệu thực tiễn trong giai đoạn nào và từ nguồn cơ quan nào? Luận án sử dụng dữ liệu thực tiễn và số liệu thống kê trong giai đoạn 10 năm (từ năm 2008 đến năm 2018), được thu thập chủ yếu từ Cục Thống kê tội phạm VKSND tối cao và Văn phòng CQCSĐT Bộ Công an.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Đào Anh Tới là công trình nghiên cứu chuyên khảo về mối quan hệ tố tụng giữa CQCSĐT và VKSND trong TTHS Việt Nam. Luận án đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về mô hình tố tụng, chức năng buộc tội và cơ chế phối hợp, kiểm soát quyền lực giữa hai cơ quan. Dựa trên số liệu thống kê 10 năm (2008 - 2018), công trình đã phân tích toàn diện thực trạng áp dụng pháp luật, chỉ rõ các vướng mắc và đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện các quy định TTHS đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN.