Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học "Pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng của các ngân hàng thương mại Việt Nam" do nghiên cứu sinh Viên Thế Giang thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Đức Minh, chuyên ngành Luật Kinh tế (mã số 62 38 01 07) tại Học viện Khoa học Xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (Hà Nội, 2014).
+----------------------------------------------------------------------------------------------------+
| THÔNG TIN TỔNG QUAN LUẬN ÁN |
+----------------------+-----------------------------------------------------------------------------+
| Đề tài | Pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng |
| | của các ngân hàng thương mại Việt Nam |
| Tác giả | Viên Thế Giang |
| Người hướng dẫn | PGS. Nguyễn Đức Minh |
| Chuyên ngành | Luật Kinh tế (Mã số: 62 38 01 07) |
| Cơ sở đào tạo | Học viện Khoa học Xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam |
| Năm hoàn thành | 2014 |
+----------------------+-----------------------------------------------------------------------------+
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong hệ thống các tổ chức có hoạt động ngân hàng, ngân hàng thương mại (NHTM) giữ vai trò chủ đạo khi được phép thực hiện toàn bộ các nghiệp vụ ngân hàng cơ bản gồm nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán. Hoạt động kinh doanh ngân hàng mang tính chất đặc thù, tiềm ẩn rủi ro cao và tác động trực tiếp đến sự ổn định kinh tế vĩ mô. Khi tham gia thị trường, các NHTM được Nhà nước bảo đảm quyền tự chủ kinh doanh, bình đẳng trong hợp tác và cạnh tranh theo quy định của pháp luật.
Cùng với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, áp lực cạnh tranh giữa các NHTM ngày càng gia tăng, dẫn đến sự xuất hiện của nhiều hành vi cạnh tranh không lành mạnh (CTKLM). Các hành vi này có nguy cơ đe dọa đến việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, làm suy giảm tính an toàn của hệ thống tổ chức tín dụng (TCTD), xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân. Bên cạnh đó, thị trường ngân hàng Việt Nam vẫn đang trong quá trình chuyển đổi, chịu sự điều tiết mạnh mẽ từ Ngân hàng Nhà nước; tình trạng bất cân xứng thông tin và việc lợi dụng vai trò trung gian tài chính để trục lợi làm gia tăng nguy cơ vi phạm chuẩn mực đạo đức kinh doanh.
Khoản 3 Điều 9 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 đã quy định nghiêm cấm hành vi CTKLM trong hoạt động ngân hàng và giao Chính phủ hướng dẫn chi tiết về hành vi cũng như biện pháp xử lý. Tuy nhiên, các nghiên cứu lý luận và thực tiễn pháp lý về chống CTKLM trong hoạt động ngân hàng của các NHTM tại Việt Nam trước thời điểm luận án được công bố còn tản mạn, chưa có công trình nào giải quyết toàn diện cơ sở khoa học để cụ thể hóa các hành vi CTKLM và thiết lập cơ chế xử lý tương ứng. Luận án được thực hiện nhằm lấp đầy khoảng trống khoa học này.
Mục tiêu, câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật chống CTKLM trong hoạt động ngân hàng của các NHTM Việt Nam, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện khung pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi phù hợp với bối cảnh phát triển của Việt Nam.
Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định gồm 4 nội dung:
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về CTKLM và pháp luật chống CTKLM trong hoạt động ngân hàng; phân tích sự cần thiết điều chỉnh pháp luật, các nhân tố chi phối và cấu trúc các chế định pháp luật liên quan.
- Đánh giá thực trạng các quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam về chống CTKLM trong hoạt động ngân hàng theo tiêu chí chất lượng và tính khả thi; nhận diện các bất cập, hạn chế và phân tích các biểu hiện CTKLM trên thực tế.
- Nghiên cứu kinh nghiệm lập pháp và thực thi pháp luật chống CTKLM trong hoạt động ngân hàng của một số quốc gia trên thế giới nhằm rút ra bài học tham khảo cho Việt Nam.
- Đề xuất các quan điểm, định hướng và giải pháp cụ thể nhằm xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật chống CTKLM trong hoạt động ngân hàng của các NHTM Việt Nam.
Luận án thiết lập 3 giả thuyết nghiên cứu:
- Giả thuyết 1: Pháp luật về chống CTKLM trong hoạt động ngân hàng có nhiều điểm khác biệt so với các lĩnh vực kinh doanh thông thường.
- Giả thuyết 2: Các quy định pháp luật hiện hành về chống CTKLM trong hoạt động ngân hàng của các NHTM ở Việt Nam chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu điều chỉnh thực tiễn.
- Giả thuyết 3: Việc xây dựng các quy định mang tính chuyên biệt để chống CTKLM trong hoạt động ngân hàng của các NHTM ở Việt Nam là đòi hỏi cần thiết.
Luận án trả lời 3 câu hỏi nghiên cứu trọng tâm:
- Bản chất của CTKLM trong hoạt động ngân hàng là gì? Khái niệm, đặc điểm và nội dung cấu thành của pháp luật chống CTKLM trong hoạt động ngân hàng được xác định như thế nào?
- Khung pháp luật hiện hành về chống CTKLM trong hoạt động ngân hàng có đáp ứng được yêu cầu thực tế hay không? Thực tiễn thực thi pháp luật tại các NHTM Việt Nam đang phát sinh những vấn đề gì?
- Tại sao cần ban hành văn bản quy định riêng về CTKLM trong hoạt động ngân hàng? Những hành vi cụ thể nào cần được luật hóa và cần thực hiện những giải pháp nào để tổ chức thi hành pháp luật hiệu quả?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các quy định pháp luật về CTKLM trong hoạt động ngân hàng và những biểu hiện cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động kinh doanh của các NHTM Việt Nam. Khái niệm NHTM được hiểu theo Khoản 3 Điều 4 Luật các Tổ chức tín dụng, bao gồm NHTM nhà nước, NHTM cổ phần và NHTM có vốn đầu tư nước ngoài.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào 3 khía cạnh: (i) Mô tả và nhận diện hành vi CTKLM trong hoạt động ngân hàng; (ii) Phân tích nội dung pháp luật chống CTKLM; (iii) Nghiên cứu cơ chế thực thi pháp luật. Khái niệm "hoạt động ngân hàng" được giới hạn theo Luật các TCTD năm 2010 gồm: nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Pháp luật chống CTKLM trong hoạt động ngân hàng được tiếp cận dưới góc độ là một chế định của Luật Cạnh tranh áp dụng cho lĩnh vực ngân hàng, kết hợp giữa công pháp và tư pháp.
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu lý luận và thực tiễn từ thời điểm Việt Nam chính thức chuyển đổi sang mô hình hệ thống ngân hàng hai cấp vận hành theo cơ chế thị trường đến năm 2014.
- Phạm vi không gian: Hệ thống các ngân hàng thương mại hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu liên quan theo 6 hướng tiếp cận chính:
| Hướng nghiên cứu |
Tác giả, công trình và thời gian công bố |
Nội dung chính và giá trị kế thừa |
| Lý luận chung về CTKLM và pháp luật chống CTKLM |
Nguyễn Như Phát (2001, 2006); Nguyễn Như Phát & Bùi Nguyên Khánh (2001); Đặng Vũ Huân (2002); Phạm Duy Nghĩa (2004); Lê Anh Tuấn (2009); Lê Danh Vĩnh và cộng sự (2006); Tăng Văn Nghĩa (2009). |
Hệ thống hóa lịch sử, khái niệm, bản chất của CTKLM và khung lý luận về pháp luật cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường. Luận án kế thừa để phát triển cơ sở lý luận riêng cho lĩnh vực ngân hàng. |
| Mối quan hệ giữa cạnh tranh ngân hàng và ổn định tài chính |
Xavier Vives; Thorsten Beck (2008, Hội nghị G20 Bali); Ngô Quốc Kỳ (2002); Nguyễn Văn Tuyến (2006); MUTRAP II (2006 - Báo cáo SERV 3 ASIE/2003/00711); CEPS (2009); Maria-Eleni K. Delis & Fotios Pasiouras (2009). |
Phân tích tính hai mặt giữa tự do hóa cạnh tranh và nguy cơ đổ vỡ hệ thống; chỉ ra tính đặc thù của quan hệ giữa các ngân hàng (vừa hợp tác vừa cạnh tranh) và vai trò can thiệp của Ngân hàng Trung ương. |
| Hành vi CTKLM trong hoạt động ngân hàng |
Nguyễn Kiều Giang (2007); Viên Thế Giang (2009, 2011). |
Đánh giá các biểu hiện CTKLM cụ thể đối chiếu với Luật Cạnh tranh, phân tích mức độ tác động của các hành vi này đến thị trường tài chính. |
| Chính sách và pháp luật cạnh tranh ngành ngân hàng |
Elena Carletti & Xavier Vives; Mamico Yokoi-Arai & Takeshi Kawana; Kiều Hữu Thiện (2012). |
Nghiên cứu so sánh việc áp dụng luật cạnh tranh đối với ngân hàng tại EU, châu Á; mối quan hệ giữa cơ quan quản lý cạnh tranh và Ngân hàng Trung ương. |
| Thực trạng và thực tiễn thực hiện pháp luật |
Nguyễn Thanh Tú; Viên Thế Giang; Kiều Hữu Thiện (2012). |
Khảo sát thực trạng quy định, cơ chế xử phạt hành chính; phân tích điều tra thực nghiệm về mức độ nhận thức thấp đối với CTKLM trong hệ thống ngân hàng. |
| Giải pháp hoàn thiện pháp luật |
Viên Thế Giang (2012). |
Đề xuất sơ khởi về nhu cầu hoàn thiện pháp luật chống CTKLM trong hoạt động ngân hàng nhưng chưa bao quát toàn diện các khía cạnh thể chế. |
Khoảng trống nghiên cứu được lựa chọn giải quyết
Mặc dù các công trình trước đây đã phân tích cạnh tranh dưới góc độ kinh tế học hoặc bình luận quy định chung của Luật Cạnh tranh, song chưa có công trình nào giải quyết đồng bộ các vấn đề sau:
- Xây dựng khung lý thuyết hoàn chỉnh về CTKLM và pháp luật chống CTKLM trong lĩnh vực ngân hàng;
- Phân định rõ nét mối quan hệ giữa Luật Cạnh tranh (luật chung) và Luật các TCTD (luật chuyên ngành);
- Xác định vị trí, vai trò của chuẩn mực đạo đức kinh doanh ngân hàng như một nguồn bổ khuyết cho các quy phạm pháp luật thực định;
- Đề xuất mô hình lập pháp và cơ chế phối hợp xử lý vụ việc CTKLM giữa Ngân hàng Nhà nước và Cơ quan quản lý cạnh tranh tại Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết
Luận án dựa trên các nền tảng lý thuyết và quan điểm sau:
- Lý thuyết cạnh tranh cổ điển (Adam Smith, John Stuart Mill): Đề cao vai trò của cạnh tranh tự do như cơ chế điều tiết tự nhiên của thị trường.
- Lý thuyết cạnh tranh tân cổ điển: Nhấn mạnh sự can thiệp có giới hạn của Nhà nước nhằm bảo đảm và duy trì quyền tự do kinh doanh.
- Trường phái kinh tế học Keynes: Coi sự can thiệp của Nhà nước là công cụ thiết yếu để kiểm soát rủi ro, phòng ngừa suy thoái và khủng hoảng kinh tế.
- Các quan điểm pháp lý về quyền tự do kinh doanh: Xác định ba trụ cột của thể chế kinh tế thị trường gồm: quyền tự do kinh doanh, tự do cạnh tranh/kiểm soát độc quyền, và cơ chế rút lui khỏi thị trường có trật tự (pháp luật phá sản).
- Đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam: Về xây dựng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó có thị trường tài chính - tiền tệ.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án áp dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành:
- Phương pháp nghiên cứu gián tiếp (phân tích văn bản, tài liệu): Thu thập, tổng hợp và xử lý các nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp gồm văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo hoạt động của các NHTM, báo cáo ngành của Ngân hàng Nhà nước và các tài liệu dự án quốc tế.
- Phương pháp nghiên cứu trực tiếp: Khảo sát, phỏng vấn chuyên gia và tìm hiểu nhận thức thực tế về CTKLM tại một số NHTM và cơ quan nghiên cứu pháp lý.
- Phương pháp tiếp cận hệ thống, đa ngành và liên ngành: Kết hợp kiến thức luật học, kinh tế học và lịch sử nhằm đánh giá toàn diện bản chất kinh tế - xã hội và tính khả thi của các quy phạm pháp luật.
- Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu mô hình và quy định pháp luật chống CTKLM của Việt Nam với các hệ thống pháp luật khác (Anh, Pháp, Đức, Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, SNG, EU) nhằm rút ra kinh nghiệm phù hợp.
- Phương pháp phân tích logic quy phạm: Rà soát, đối chiếu câu chữ, cấu trúc logic của Luật Cạnh tranh 2004, Luật các TCTD 2010, Bộ luật Dân sự 2005 để chỉ ra các điểm xung đột, mâu thuẫn hoặc khoảng trống pháp lý.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước, chỉ ra sự phát triển của lý luận về CTKLM từ góc độ luật chung sang các lĩnh vực kinh doanh chuyên ngành. Luận án khái quát hai xu hướng lập pháp chủ yếu trên thế giới về kiểm soát CTKLM trong ngành ngân hàng:
- Xu hướng 1: Ban hành quy định chi tiết từng hành vi CTKLM trong hoạt động ngân hàng (tiêu biểu là Trung Quốc).
- Xu hướng 2: Vận dụng quy định của Luật Cạnh tranh chung kết hợp vai trò giải thích thông qua án lệ của Tòa án (như Pháp, Nhật Bản, Đài Loan) hoặc ban hành các văn bản hướng dẫn chuẩn mực thị trường tối thiểu (như Liên minh Châu Âu).
Chương này cũng xác định rõ khoảng trống nghiên cứu tại Việt Nam, xây dựng các câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu và khung phương pháp luận áp dụng trong toàn bộ công trình.
Chương 2: Một số vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng
Chương 2 tập trung phân tích bản chất, đặc điểm của CTKLM và khung lý luận về pháp luật chống CTKLM trong hoạt động ngân hàng:
+----------------------------------------------------------------------------------------------------+
| CƠ CẤU NỘI DUNG PHÁP LUẬT CHỐNG CTKLM TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG |
+----------------------------------------------------------------------------------------------------+
| 1. Nhóm quy phạm nhận diện và xác định các hành vi CTKLM đặc thù trong hoạt động ngân hàng |
| 2. Nhóm quy tắc áp dụng chuẩn mực đạo đức, tập quán kinh doanh thương mại ngân hàng |
| 3. Nhóm quy định về chế tài và biện pháp xử lý vi phạm (hành chính, dân sự, hình sự) |
| 4. Nhóm quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc cạnh tranh |
| 5. Nhóm quy phạm xác lập cơ chế phối hợp giữa Ngân hàng Trung ương và Cơ quan Quản lý Cạnh tranh |
+----------------------------------------------------------------------------------------------------+
- Khái niệm CTKLM trong hoạt động ngân hàng: Luận án định nghĩa đây là hành vi của các tổ chức tín dụng phát sinh trong hoạt động ngân hàng (nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán), trái pháp luật cạnh tranh, trái với các chuẩn mực đạo đức và tập quán kinh doanh ngân hàng, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho TCTD đối thủ, xâm phạm quyền lợi của khách hàng sử dụng dịch vụ hoặc làm ảnh hưởng đến an toàn hệ thống.
- Đặc điểm của CTKLM trong lĩnh vực ngân hàng:
- Chủ thể thực hiện hành vi gắn liền với hoạt động kinh doanh đặc thù của các TCTD;
- Khách thể bị xâm hại rộng, bao gồm trật tự thị trường tài chính, đối thủ cạnh tranh, người gửi tiền và người vay vốn;
- Mức độ tác động mang tính dây chuyền, có thể gây rủi ro hệ thống, làm gián đoạn dòng cung ứng vốn và ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực thi chính sách tiền tệ quốc gia.
- Sự cần thiết điều chỉnh bằng pháp luật: Do tính chất rủi ro cao của ngành ngân hàng; yêu cầu kiểm soát giới hạn can thiệp của cơ quan quản lý tiền tệ để không làm méo mó thị trường; tính trừu tượng của các chuẩn mực hành vi; và nhu cầu cụ thể hóa quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại của người tiêu dùng theo quy định của Bộ luật Dân sự.
- Vai trò của đạo đức kinh doanh ngân hàng: Đạo đức kinh doanh là hệ chuẩn mực bổ khuyết cho các quy định pháp luật thực định. Trong những trường hợp hành vi chưa được luật hóa cụ thể, chuẩn mực đạo đức kinh doanh là căn cứ quan trọng để cơ quan tài phán đánh giá tính chất "không lành mạnh" của hành vi.
Chương 3: Thực trạng pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam
Chương 3 phân tích thực trạng văn bản quy phạm pháp luật và diễn biến thực tế tại các NHTM Việt Nam:
- Hệ thống quy phạm điều chỉnh: Gồm các điều ước quốc tế, quy định trong nước (Luật Cạnh tranh 2004, Luật các TCTD 2010, Luật Ngân hàng Nhà nước 2010, Bộ luật Dân sự 2005) và các quy tắc đạo đức nghề nghiệp.
- Mối quan hệ giữa Luật Cạnh tranh và Luật các TCTD:
- Tồn tại sự thiếu đồng bộ về đối tượng và phạm vi điều chỉnh giữa luật chung và luật chuyên ngành.
- Khoản 3 Điều 9 Luật các TCTD 2010 quy định cấm hành vi CTKLM trong hoạt động ngân hàng và giao Chính phủ hướng dẫn chi tiết, nhưng đến thời điểm nghiên cứu, văn bản hướng dẫn vẫn chưa được ban hành.
- Hạn chế trong quy định về hành vi và chế tài:
- Danh mục hành vi CTKLM trong Luật Cạnh tranh 2004 chủ yếu áp dụng cho hàng hóa, dịch vụ thương mại thông thường, chưa bao quát các hành vi đặc thù trong hoạt động ngân hàng (như lạm dụng thông tin khách hàng, chạy đua lãi suất vượt trần, bán chéo dịch vụ bất hợp lý, tung tin đồn gây hoang mang đối với người gửi tiền).
- Chế tài xử lý vi phạm còn nghiêng nặng về xử phạt vi phạm hành chính do Thanh tra Ngân hàng Nhà nước thực hiện; chưa có cơ chế hiệu quả để áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại dân sự hoặc xử lý trách nhiệm hình sự.
- Thực tiễn thực hiện pháp luật:
- Diễn biến CTKLM diễn ra phức tạp trong các cuộc đua lãi suất huy động, cung cấp thông tin sai lệch về gói tín dụng, và các chiến dịch quảng cáo so sánh không lành mạnh.
- Vụ việc tin đồn thất thiệt liên quan đến Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) năm 2003 được dẫn chứng như một minh chứng điển hình về mức độ nhạy cảm và tác động dây chuyền của thông tin sai lệch trong ngành ngân hàng.
- Mức độ nhận thức về pháp luật cạnh tranh của đội ngũ cán bộ, nhân viên tại các NHTM còn nhiều hạn chế, số lượng vụ việc được chuyển sang Cơ quan quản lý cạnh tranh xử lý chính thức là rất thấp.
Chương 4: Quan điểm, định hướng xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay
Chương 4 đưa ra các luận cứ định hướng và nhóm giải pháp hoàn thiện thể chế:
- Sự cần thiết và quan điểm hoàn thiện:
- Thiết lập hành lang pháp lý bình đẳng giữa các loại hình NHTM (nhà nước, cổ phần, vốn nước ngoài);
- Tạo cơ sở pháp lý áp dụng các chuẩn mực đạo đức kinh doanh và tập quán thương mại ngân hàng;
- Bảo đảm sự cân bằng giữa mục tiêu tự do cạnh tranh và yêu cầu duy trì an toàn hệ thống tài chính.
- Định hướng lập pháp:
- Khuyến nghị lựa chọn mô hình lập pháp kết hợp: Ban hành Nghị định của Chính phủ quy định cụ thể các hành vi CTKLM đặc thù trong hoạt động ngân hàng, đồng thời quy định các tiêu chuẩn thị trường tối thiểu mang tính nguyên tắc mở để bao quát các hành vi mới phát sinh.
- Phân định rõ hành vi CTKLM trong từng nhóm nghiệp vụ ngân hàng cơ bản: nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán.
- Giải pháp tổ chức thực hiện:
- Phân định rõ thẩm quyền và thiết lập quy chế phối hợp chính thức giữa Ngân hàng Nhà nước và Cơ quan quản lý cạnh tranh (thuộc Bộ Công Thương) trong quá trình điều tra, xử lý vụ việc;
- Mở rộng thẩm quyền cho Tòa án trong việc giải thích các chuẩn mực đạo đức kinh doanh ngân hàng và từng bước áp dụng án lệ đối với các vụ việc tranh chấp về CTKLM;
- Hoàn thiện chế tài dân sự, tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng và ngân hàng bị xâm hại thực hiện quyền khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại;
- Nâng cao văn hóa tuân thủ và xây dựng bộ quy tắc đạo đức nghề nghiệp trong toàn hệ thống NHTM Việt Nam.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Xây dựng định nghĩa khoa học và xác định các đặc điểm đặc thù của CTKLM cũng như pháp luật chống CTKLM trong lĩnh vực ngân hàng.
- Làm sáng tỏ cấu trúc nội dung của pháp luật chống CTKLM trong hoạt động ngân hàng, chỉ rõ mối quan hệ giữa luật công và luật tư trong cơ chế điều chỉnh.
- Phân tích và luận giải vị trí của chuẩn mực đạo đức kinh doanh ngân hàng như một nguồn hỗ trợ cần thiết để bổ khuyết cho các quy phạm pháp luật thực định.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Đánh giá có hệ thống thực trạng các quy định pháp luật Việt Nam, chỉ ra những điểm bất cập, mâu thuẫn giữa Luật Cạnh tranh 2004 và Luật các TCTD 2010.
- Cung cấp cơ sở khoa học và luận cứ thực tiễn phục vụ việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ nhằm cụ thể hóa Khoản 3 Điều 9 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010.
- Đề xuất mô hình phân định thẩm quyền và quy chế phối hợp liên ngành giữa Ngân hàng Nhà nước và Cơ quan quản lý cạnh tranh trong việc giám sát, điều tra và xử lý hành vi CTKLM.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu trong các hoạt động ngân hàng cốt lõi (nhận tiền gửi, cấp tín dụng, thanh toán qua tài khoản) của các NHTM. Do thực tiễn xét xử và xử lý hành chính chính thức các vụ việc CTKLM trong ngành ngân hàng tại Việt Nam giai đoạn trước 2014 còn ít, nguồn số liệu thực chứng chủ yếu dựa trên các báo cáo ngành, điều tra nhận thức và các vụ việc điển hình phản ánh trên truyền thông.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu sang các loại hình tổ chức tài chính phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô, cũng như các hành vi CTKLM mới phát sinh gắn liền với quá trình số hóa dịch vụ ngân hàng và các giao dịch tài chính công nghệ cao.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo phục vụ các nhóm đối tượng:
- Cơ quan quản lý nhà nước (Quốc hội, Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước, Cục Quản lý Cạnh tranh): Tham khảo luận cứ khoa học để hoàn thiện hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành luật, thiết kế quy chế phối hợp giám sát thị trường và xây dựng chính sách cạnh tranh ngành ngân hàng.
- Cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học: Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Tài chính - Ngân hàng có thể sử dụng khung lý luận, các bảng tổng hợp và phương pháp so sánh luật học trong công tác giảng dạy và nghiên cứu.
- Các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng: Sử dụng để rà soát rủi ro pháp lý trong hoạt động tiếp thị, quảng bá sản phẩm, huy động vốn và cấp tín dụng; đồng thời làm cơ sở xây dựng Bộ quy tắc đạo đức kinh doanh nội bộ.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng như thế nào?
Luận án xác định CTKLM trong hoạt động ngân hàng là hành vi của các TCTD phát sinh trong quá trình cung ứng các dịch vụ ngân hàng (nhận tiền gửi, cấp tín dụng, thanh toán qua tài khoản), trái với pháp luật cạnh tranh, trái với các chuẩn mực đạo đức và tập quán kinh doanh ngân hàng, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho TCTD đối thủ, xâm phạm quyền lợi hợp pháp của khách hàng hoặc làm ảnh hưởng tiêu cực đến sự an toàn của toàn hệ thống ngân hàng.
2. Tại sao pháp luật chống CTKLM trong hoạt động ngân hàng lại hướng tới bảo vệ nhóm lợi ích rộng hơn các ngành nghề khác?
Do ngân hàng đóng vai trò trung gian tài chính và là huyết mạch dẫn vốn của nền kinh tế, hành vi CTKLM trong lĩnh vực này không chỉ gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh đơn lẻ mà còn có tính chất lây lan, đe dọa niềm tin của người gửi tiền, gây mất an toàn hệ thống TCTD và ảnh hưởng trực tiếp đến sự ổn định của chính sách tiền tệ quốc gia. Do đó, các nhóm lợi ích được bảo vệ bao gồm: lợi ích Nhà nước, lợi ích của toàn hệ thống TCTD, quyền lợi của người gửi tiền và quyền tiếp cận vốn của người vay.
3. Mối quan hệ giữa Luật Cạnh tranh và Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 bộc lộ bất cập gì theo phân tích của luận án?
Luận án chỉ ra rằng Luật Cạnh tranh 2004 là luật chung, các quy định về hành vi CTKLM được thiết kế chủ yếu cho thương mại hàng hóa thông thường, chưa phản ánh được tính đặc thù của dịch vụ ngân hàng. Trong khi đó, Luật các TCTD 2010 (luật chuyên ngành) tuy đã quy định nghiêm cấm CTKLM tại Khoản 3 Điều 9 nhưng lại giao Chính phủ hướng dẫn chi tiết mà chưa có văn bản thi hành kịp thời, dẫn đến tình trạng thiếu căn cứ pháp lý cụ thể để xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế.
4. Luận án đề xuất lựa chọn xu hướng lập pháp nào để điều chỉnh hành vi CTKLM trong hoạt động ngân hàng tại Việt Nam?
Luận án đề xuất mô hình lập pháp kết hợp: Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (Nghị định) quy định cụ thể danh mục các hành vi CTKLM đặc thù trong từng nghiệp vụ ngân hàng (như nhận tiền gửi, cấp tín dụng, thanh toán), đồng thời quy định các nguyên tắc xác định chuẩn mực thị trường tối thiểu dựa trên đạo đức kinh doanh để trao quyền cho cơ quan có thẩm quyền và Tòa án xử lý các hành vi mới phát sinh.
5. Cơ chế xử lý hành vi CTKLM trong hoạt động ngân hàng được kiến nghị hoàn thiện theo hướng nào?
Luận án kiến nghị thiết lập cơ chế phối hợp liên ngành rõ ràng giữa Ngân hàng Nhà nước và Cơ quan quản lý cạnh tranh; giảm bớt sự phụ thuộc đơn thuần vào chế tài hành chính; mở rộng quyền hạn của Tòa án trong việc giải thích chuẩn mực đạo đức kinh doanh, áp dụng án lệ và tạo thuận lợi cho việc giải quyết các khiếu kiện bồi thường thiệt hại dân sự.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Viên Thế Giang là công trình nghiên cứu hệ thống về pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Công trình đã làm rõ bản chất lý luận, đặc điểm và cơ cấu của pháp luật chống CTKLM trong lĩnh vực ngân hàng, đồng thời phân tích sâu sắc các bất cập của khung pháp luật thực định và thực tiễn thực thi tại Việt Nam trước năm 2014. Các giải pháp và định hướng lập pháp được đề xuất trong luận án mang giá trị khoa học và thực tiễn, đóng góp trực tiếp vào việc hoàn thiện thể chế pháp luật kinh tế và bảo đảm môi trường kinh doanh ngân hàng an toàn, minh bạch.