CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA GIÁO DỤC KĨ NĂNG XÃ HỘI CHO HỌC SINH KHUYẾT TẬT TRÍ TUỆ LỚP 1 HÒA NHẬP 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 1. Trên thế giới Giáo dục KNXH đã được nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là ở những nước phát triển đưa vào dạy cho HS trong các trường phổ thông dưới nhiều hình thức khác nhau. Từ sự tích lũy các kinh nghiệm trong thực tiễn giáo dục cùng với sự tiến bộ không ngừng của các ngành khoa học có liên quan như tâm lí học, xã hội học thì lí luận về giáo dục KNXH đã dần dần rõ nét từ những năm 80 của thế kỉ XX trở lại đây.
Nội dung nghiên cứu về vấn đề giáo dục KNXH cho HS KTTT có thể chia làm 3 hướng cơ bản sau: 1) Nghiên cứu về quan niệm và phân loại KNXH, 2) Nghiên cứu về đánh giá KNXH, 3) Nghiên cứu về giáo dục KNXH. Hướng thứ nhất: Nghiên cứu về quan niệm và phân loại KNXH Kĩ năng xã hội được các nhà tâm lí học xem xét từ góc độ của kĩ năng này đối với cá nhân, trong các mối tương tác xã hội. Các nhà tâm lý học Coie & Dodge (1983), Parker & Asher (1987) đã khẳng định rằng nếu một cá nhân không phát triển đầy đủ các KNXH như kĩ năng kết bạn, hợp tác nhóm, kĩ năng đồng cảm, chia sẻ, kĩ năng giải quyết vấn đề, kĩ năng thích ứng hòa nhập với môi trường mới, kĩ năng thuyết phục. thì cá nhân này có nguy cơ gặp những khó khăn học đường như kém thích nghi học đường, khó kết bạn, khó hòa nhập với các bạn trong lớp, thụ động, kém tự tin, sợ GV, không hứng thú, chán học,.
hoặc mắc các rối nhiễu hành vi, rối nhiễu đạo đức dẫn đến thất bại học đường [90], [91]. Gresham & Elliott (1990), trong tác phẩm “Social Behavior and Skills in Children” [96] cho rằng: Mỗi người trong cuộc sống hàng ngày đều phải xử lý ba mối quan hệ sau: 1) Mối quan hệ với chính mình (biết mình là ai, biết mình có điểm mạnh, điểm yếu gì.); 2) Mối quan hệ với thế giới tự nhiên (biết thiết lập các mối quan hệ hài hòa với thế giới tự nhiên, biết bảo vệ môi trường sống tự nhiên, 11 hiểu biết các hiện tượng tự nhiên vận hành theo quy luật nào.); 3) Mối quan hệ với người khác, với xã hội (biết thiết lập các quan hệ bạn bè, hiểu những người xung quanh mình nghĩ gì, mong muốn gì, sống hài hòa với cộng đồng). Tất cả những kĩ năng giúp mỗi cá nhân xử lý thành công những mối quan hệ này để thích ứng tốt hơn, để ứng phó một cách có hiệu quả hơn với những thách thức trong cuộc sống hàng ngày được gọi là KNXH. Trong mối quan hệ với người khác, Hill M.
Walker (1983), trong công trình “The Social Skills Curriculum” [111], cho rằng “KNXH là những thành phần của hành vi giúp một cá nhân hiểu và thích ứng với các mối quan hệ xã hội; KNXH bao gồm một tập hợp các năng lực xã hội cho phép một cá nhân có thể bắt đầu và duy trì các mối quan hệ xã hội, thiết lập và điều chỉnh các mối quan hệ bạn bè, và đối phó hiệu quả với những tác động từ môi trường xã hội”. Trong môi trường giáo dục, KNXH được thể hiện ở sự quan tâm đến người khác, thiết lập và duy trì các mối quan hệ tích cực với người khác, xử lý các tình huống khó khăn trong học tập và tương tác với bạn bè và giáo viên. Theo Walker, bản chất của KNXH là năng lực xã hội; theo đó, những cá nhân có năng lực xã hội tốt thì được xem là người có KNXH. Theo quan điểm về hành vi, một số nhà nghiên cứu đã xác định KNXH dựa trên những hành vi mà cá nhân đó thể hiển, có thể kể đến nghiên cứu của Albert Bandura (1977), trong công trình nghiên cứu “Social Learning Theory” [82] định nghĩa:“KNXH là hành vi có ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa các cá nhân với bạn bè và người lớn”.
Tác giả cho rằng mỗi cá nhân có sự khác biệt về các KNXH; sự khác biệt về KNXH giữa các cá nhân bị ảnh hưởng bởi tuổi tác, giới tính, địa vị xã hội và những người mà cá nhân đó có mối quan hệ tương tác. Hạn chế về KNXH có thể được phân loại theo bốn loại cơ bản như sau: 1) Hạn chế về các kĩ năng, 2) Hạn chế về thực hiện các kĩ năng, 3) Hạn chế về các kĩ năng tự chủ, tự kiểm soát và 4) Hạn chế về kĩ năng kiểm soát các phản ứng. Tóm lại, thuật ngữ “Kĩ năng xã hội” ngày càng được phổ biến trong thực tế cuộc sống, cũng như trong giáo dục. Tuy nhiên, ở mỗi góc độ, quan điểm khác 12 nhau việc nhìn nhận về KNXH rất đa dạng.
Trong lĩnh vực giáo dục quan niệm KNXH có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả học tập của mỗi cá nhân, nhưng làm thể nào để mỗi cá nhân có được các KNXH? Đó là vấn đề mà luận án sẽ tập trung giải quyết. Về phân loại KNXH, theo Elliott Stephen N. Nghiên cứu của Gresham (1990) và Honig (1996) đã chỉ ra các nhóm KNXH cần thiết cho quá trình thích ứng xã hội, đem lại những thành công trong học đường ở HS tiểu học, bao gồm 7 nhóm kĩ năng sau: 1) Kĩ năng hợp tác kết bạn; 2) Kĩ năng đồng cảm và chia sẻ; 3) Kĩ năng tự kiềm chế, kiểm soát; 4) Kĩ năng quyết đoán, tự khẳng định; 5) Kĩ năng giải quyết vấn đề; 6) Kĩ năng thích ứng hòa nhập trong môi trường học tập mới; 7) Kĩ năng thuyết phục [96], [98]. Các kết quả nghiên cứu trên đã góp phần xây dựng một nền tảng cơ sở lí luận sâu sắc về giáo dục KNXH, vẫn có giá trị đối với việc xác định những KNXH cần giáo dục cho HS KTTT học lớp 1 hòa nhập.
Tuy nhiên, tùy vào môi trường văn hóa tại nơi HS KTTT sinh sống, cần xác định những KNXH cho phù hợp với chuẩn mực đạo đức và phù hợp với lứa tuổi. Hướng thứ hai: Nghiên cứu về đánh giá KNXH Nghiên cứu về đánh giá KNXH có Gresham & Elliott (1990) với bộ trắc nghiệm đánh giá các kĩ năng thích ứng xã hội – Social Skills Rating System (SSRS) [95]. Bộ trắc nghiệm này có mục đích đánh giá năng lực thích ứng xã hội trên cơ sở đo lường các KNXH cơ bản, những khó khăn trong xử lý các mối quan hệ và năng lực xã hội được HS thể hiện ở gia đình và nhà trường. Bộ trắc nghiệm nghiệm này sử dụng những cách tiếp cận đánh giá một HS từ các góc độ: cha mẹ HS đánh giá, GV dạy HS đánh giá và HS tự đánh giá.
Do vậy, các tác giả thiết kế bộ trắc nghiệm gồm các trắc nghiệm hay các thang đo: dành cho cha mẹ, dành cho 13 GV và dành cho HS. Bộ trắc nghiệm này cho phép thu thập thông tin để đánh giá về các mẫu ứng xử/hành vi chi phối mối quan hệ giữa HS và GV, giữa HS với nhóm bạn và giữa HS với cha mẹ. Bộ trắc nghiệm này đã được thích nghi ở nhiều nước: Úc, Anh, Canađa, Việt Nam,. Trong một số bộ công cụ đánh giá các lĩnh vực phát triển của trẻ em, cũng có phần đề cập đến đánh giá những KNXH như: Bảng hỏi (ASQ – 3), Bảng Kiểm (Checklist), Denver–II, Wics – IV, Viland II, Pep – R, … Các công cụ này đã liệt kê những KNXH cần thiết ở mỗi cá nhân, bao gồm: kĩ năng bắt chước, kĩ năng nhận biết và thể hiện ngôn ngữ, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng liên cá nhân.
Tùy mỗi bộ công cụ tập trung vào một số nhóm KNXH khác nhau, chẳng hạn như Denver – II thì tập trung nhiều đến kĩ năng bắt chước, còn Pep – R thì lại tập trung đến nhóm kĩ năng nhận biết và thể hiện ngôn ngữ… Như vậy, tùy thuộc vào mục đích khác nhau, một số công cụ được phát triển tập trung đánh giá KNXH ở độ tuổi khác nhau; có những công cụ do các chuyên gia thực hiện, có những công cụ do phụ huynh, những người không chuyên thực hiện; có công cụ dành cho tất cả trẻ em, có những ông cụ dành cho một nhóm đối tượng cụ thể. Song các nghiên cứu về đánh giá KNXH dành cho HS KTTT, tác giả luận án chưa tìm thấy bộ công cụ nào cụ thể. Tuy nhiên, những công cụ dùng cho HS không KT là những tài liệu gợi ý cho tác giả luận án biên soạn bộ công cụ đánh giá KNXH cho HS KTTT lớp 1 học hòa nhập. Hướng thứ ba: Những nghiên cứu về giáo dục KNXH Tiếp cận về giáo dục KNXH phụ thuộc vào đặc điểm về văn hóa xã hội và kinh tế; phụ thuộc vào đối tượng, độ tuổi và nội dung KNXH cụ thể, song tiếp cận hành vi là một trong những tiếp cận nền tảng cho các biện pháp cụ thể.
Reed, Feibus, và Rosenfield (1998), trong công trình nghiên cứu “A conceptual framework for choosing social skills programs” [107], đã đề xuất các điều kiện và những biện pháp can thiệp tốt nhất để phát triển các hành vi tích cực của HS, nghiên cứu cũng chỉ ra quy trình để hình thành và phát triển KNXH và việc điều chỉnh các KNXH cho phù hợp với nền văn hóa nơi mà trẻ sinh sống. Nhóm tác giả 14 đã giới thiệu một mô hình trường can thiệp và củng cố các hành vi tích cực SPBIS (School Positive Behavior Intervention and Support). Trong cách tiếp cận này, các nhà nghiên cứu đồng ý rằng một tập hợp những hành vi tích cực được mong đợi sẽ là nền tảng của một quá trình giáo dục có hiệu quả và KNXH đóng một vai trò quan trọng trong việc giúp HS đạt được những kỳ vọng trong học tập cũng như thành công trong cuộc sống. Người lớn hỗ trợ HS phát triển KNXH thông qua các hoạt động học tập và sinh hoạt hàng ngày.
Đồng thời, HS có thể có thể tham gia các câu lạc bộ rèn luyện, phát triển KNXH và thực hành hành vi tích cực. Lorimer, Simpson, Myles và Ganz, (2002) trong công trình “A Social StoriesTm Intervention Package for Students with Autism in Inclusive Classroom Settings” [102], nghiên cứu về sự hình thành và phát triển KNXH dựa trên các câu chuyện xã hội (Social Stories), chương trình can thiệp được thiết kế để giúp các HS hiểu và thực hành các tình huống xã hội bằng cách soạn ra những câu chuyện. Mỗi câu chuyện là một tình huống xã hội và được phân tích thành các bước rõ ràng, mô tả và minh họa để giúp HS hiểu được toàn bộ tình huống trong thực tế.