MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin (CNTT) và sự bùng nổ Internet, hoạt động thương mại điện tử (TMĐT) áp d ụng trong du lịch đã phát triển nhanh chóng, mang lại giá tr ị gia tăng cao h ơn cho ngành Du lịch (Tổng cục Du lịch, 2018). Trong đó xác định “Thương mại điện tử được sử dụng phổ biến và đạt mức tiên ti ến trong các n ước thu ộc hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), góp ph ần nâng cao năng l ực cạnh tranh của doanh nghiệp và năng l ực c ạnh tranh qu ốc gia, thúc đ ẩy quá trình công nghiệp hóa, hi ện đ ại hóa đ ất n ước”. Sự tăng trưởng không ngừng của ngành du lịch kéo theo nhu c ầu không thể thiếu của việc phát triển TMĐT, khi mà việc sử d ụng website đ ể tiếp thị du lịch đang ngày càng phổ biến.
Hoạt đ ộng này hình thành c ơ s ở giao dịch TMĐT như các hình thức đặt phòng, đặt tour qua mạng ,.Đặc biệt, thông tin được quảng bá rộng rãi trên thế giới, không b ị gi ới h ạn phạm vi và khu vực sử dụng, giúp khách hàng ti ềm năng có th ể đ ặt tour mọi lúc, mọi nơi, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh trong ngành du lịch. Người tiêu dùng đã quen với các trang du l ịch tr ực tuy ến: travel. để tìm kiếm thông tin về các điểm đến, tour du lịch, đ ặt vé máy bay, đ ặt phòng khách sạn, đặt tour trọn gói.Trên thực tế, so v ới các ngành kinh t ế khác thì ngành du lịch tại Việt Nam nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng còn hoạt động tương đối yếu trên môi trường Internet. Tuy nhiên, từ quá trình triển khai TMĐT nhằm thúc đẩy phát tri ển du lịch trong thời gian vừa qua cho thấy tuy môi trường cho sự phát tri ển TMĐT ở Việt Nam đã hình thành nhưng vẫn chưa đáp ứng đ ược cho s ự phát triển du lịch một cách có hiệu quả.
Hoạt động quản lý nhà n ước (QLNN) về phát triển TMĐT ngành du lịch hiện nay còn thi ếu các đ ịnh 2 hướng chiến lược trong phát triển du lịch dựa vào các ứng d ụng t ừ TMĐT; pháp luật về TMĐT đang từng bước hoàn thiện; sự phối hợp quản lý nhà nước về TMĐT giữa các cơ quan QLNN về TMĐT ch ưa hi ệu qu ả; nguồn nhân lực cho TMĐT ngành du lịch chưa được đào tạo chuyên bi ệt và bài bản; chưa khai thác hết những lợi ích từ TMĐT trong phát tri ển ngành du lịch. Làm thế nào để tháo gỡ những vấn đề còn tồn tại trong vi ệc tác động thương mại điện tử trong ngành du lịch Thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM) hiện nay? Những nhân tố tác động thương mại điện tử trong ngành du lịch hiện nay như thế nào? Làm thế nào để du lịch TPHCM quan tâm h ơn n ữa đến việc tác động thương mại điện tử nhằm nâng cao năng lực c ạnh tranh của mình? Cần phải có nghiên cứu thương mại điện tử tác động đ ến phát triển du lịch một cách đầy đủ và toàn diện. Đồng th ời, c ần phân tích th ực trạng và các nhân tố tác động đến phát triển du l ịch thông qua th ương m ại điện tử, từ đó luận giải để tìm ra các biện pháp, chính sách thúc đ ẩy s ự phát triển du lịch và ứng dụng thương mại điện tử trong phát triển du l ịch. Việc nghiên cứu ứng dụng thương mại điện tử thúc đẩy phát triển ngành du lịch TP.HCM sẽ có ý nghĩa to lớn trong việc phát triển kinh tế-xã hội của Thành phố.
Với những lý do trên, Tác giả chọn đề tài “Tác động của thương mại điện tử trong ngành Du lịch tại Thành phố Hồ Chí Minh” để nghiên cứu và làm luận án Tiến sĩ chuyên ngành Quản trịkinh doanh. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến tên đề tài 2.1 Các công trình nghiên cứu nước ngoài Tài liệu nghiên cứu của các Tác giả trong và ngoài nước đã nghiên cứu về thương mại điện tử dưới góc độ kinh tế, du l ịch, đối ngoại, khung pháp lý về thương mại điện tử, cụ thể: (1) Các quốc gia phát triển đã xuất hiện hoạt động th ương m ại đi ện tử từ rất sớm và đều có quá trình nghiên cứu sâu s ắc đ ể xây d ựng khung 3 pháp luật cho riêng mình nhằm điều chỉnh kịp thời các quan h ệ xã h ội m ới phát sinh trong thương mại điện tử. Để đảm bảo tính thống nhất trong ứng xử và giải quyết các vấn đề phát triển thương mại điện t ử, tại Phiên họp lần thứ 29 của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc (tháng 12 năm 1996), U ỷ ban Liên Hợp quốc về Luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) đã thông qua Luật mẫu về thương mại điện tử. Tinh thần của Luật mẫu là bảo đảm những giao dịch thương mại điện tử được thừa nhận giá tr ị pháp lý và n ếu cần thiết thì sẽ có những hành động thích hợp để tăng cường kh ả năng thi hành cho những giao dịch bằng phương tiện điện tử.
Tuy nhiên, cũng ph ải tới những năm đầu của thế kỷ XXI, một số quốc gia m ới nghiên c ứu, xây dựng và phát triển thương mại điện tử như: Hoa Kỳ, Đ ức, Áo, Hà Lan, Albania, Australia, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Mehico, Thái Lan [102]. (2) Công trình nghiên cứu “Thương mại điện tử” (Electronic Commerce) là Đề tài Luận án Tiến sĩ của tác giả Mihaela-Roxanafercală – Romani – Trường Đại học Babes - Bolyai năm 2011. Tác gi ả đã xây d ựng khái niệm thương mại điện tử, các đặc điểm và vai trò của thương mại điện tử, khái quát khung pháp lý của một số qu ốc gia và ch ủ th ể qu ốc t ế cũng như pháp luật của Romani về TMĐT. Qua nghiên c ứu th ấy r ằng, khái niệm cũng như các đặc điểm cơ bản của thương mại điện tử trong công trình này có những điểm tương đồng với Luật mẫu về thương mại điện tử (UNCITRAL) của Ủy ban Thương mại Quốc tế khuyến ngh ị các qu ốc gia thành viên trong việc xây dựng pháp luật và phát triển thương mại đi ện t ử của mình [101].
(3) Thương mại điện tử xuyên biên giới từ lâu đã là phương thức phổ biến ở nhiều quốc gia. Tốc độ ứng dụng và phát triển thương mại điện tử của Trung Quốc đã tăng theo cấp số nhân trong thập kỷ gần đây. Tại các thị trường EU, số liệu thống kê từ Vụ Thị trường châu Âu - châu Mỹ, Bộ Công Thương cho biết, 4 năm 2020, doanh số TMĐTXBG của 16 nước lớn nhất EU đã đạt tới 146 tỷ euro và chiếm khoảng 25,5% doanh số thương mại điện tử của cả châu Âu. Theo số liệu Trung Quốc công bố, xuất nhập khẩu TMĐT xuyên biên giới trong năm 2020 của nước này đạt tổng cộng 1,69 nghìn tỷ NDT, tăng 31,1%.
Tổng giao dịch xuất khẩu qua thương mại điện tử tăng hơn 40% lên 1,12 nghìn tỷ NDT, Trung Quốc nhập khẩu hàng hoá từ thị trường nước ngoài qua thương mại điện tử đạt 570 tỷ NDT, tăng trưởng 16,5%. Tỷ trọng TMĐT xuyên biên giới trung bình của khu vực so với toàn cầu tăng liên tục qua các năm, đạt giá trị trung bình 41,3%/năm và tốc độ tăng trở lại đạt trung bình 37,7%/năm, cao hơn mức trung bình toàn cầu (27,4%/năm trong giai đoạn 2016-2020). (4) Cuốn sách: “Indicators of Sustainable Development for Tourism Destinations” (Bộ chỉ số phát triển bền vững cho các điểm đ ến du l ịch) do UNWTO ấn hành năm 2004 [105]: Là kết quả của một nghiên cứu sâu rộng về các sáng kiến chỉ số du lịch toàn thế giới, tài li ệu đ ược UNWTO xác đ ịnh là chìa khóa cho sự phát triển du lịch và quản lý m ột đi ểm đ ến nh ất đ ịnh đồng thời khuyến nghị các quốc gia thành viên l ựa ch ọn th ường xuyên nh ư một công cụ cần thiết cho quá trình lập kế hoạch và qu ản lý ho ạch đ ịnh chính sách phát triển bền vững tại các điểm đến du lịch. Nội dung tài li ệu phân tích về sự cần thiết xây dựng và ứng dụng chỉ số phát tri ển b ền v ững cho các điểm đến du lịch; hướng dẫn một quy trình đ ể có th ể xác đ ịnh các chỉ số đáp ứng tốt nhất các vấn đề của điểm du lịch cụ thể; đ ề xu ất m ột b ộ 13 nhóm với trên 40 chỉ số cụ thể phát tri ển b ền v ững t ại các đi ểm đ ến du lịch, bao gồm các nhóm chỉ số liên quan đến an sinh, duy trì b ản s ắc văn hóa, sự hài lòng và tham gia của cộng đồng bản địa trong du l ịch, y ếu t ố s ức khỏe và an toàn, khả năng nắm bắt lợi ích kinh tế t ừ du l ịch, công tác giám sát sử dụng tài nguyên và quản lý năng lượng, việc hạn ch ế tác đ ộng tiêu cực từ hoạt động du lịch, trình độ kiểm soát và quản lý, việc thi ết k ế s ản phẩm và dịch vụ,tính bền vững của các hoạt động và dịch vụ du l ịch 5 (5) Cuốn “Making Tourism More Sustainable - A Guide for Policy Makers” Hướng dẫn cho các nhà hoạch định) do UNEP và UNWTO biên soạn năm 2005[106].
Được biên soạn nhằm đưa ra các hướng dẫn và khuyến nghị về phát triển du lịch đối với các Chính phủ, các nhà ho ạch đ ịnh chính sách, nhà quản lý, trong nội dung 5 chương của cuốn sách, m ột s ố quan điểm lý luận chung về phát triển bền vững du l ịch c ủa UNEP và UNWTO đã được hệ thống và thể hiện, như các phân tích về mối quan hệ giữa du lịch và tính bền vững; giới thiệu một số nguyên tắc cơ bản và các khuyến nghị chính sách cho một chương trình phát triển bền v ững du l ịch ; xác định cấu trúc và chiến lược để sự phát triển bền vững du l ịch h ơn; gi ới thiệu các bộ công cụ đánh giá phát triển bền vững du l ịch. ( 6) Bài viết “Cultural tourism and sustainable development” (Du lịch văn hóa và phát triển ) của tác giả Valeriu và Elena-Manuela năm 2007 [103]: Các tác giả tập trung phân tích những tác động ảnh h ưởng c ủa các loại hình du lịch văn hóa đối với sự phát triển của một vùng, mi ền, khu v ực kinh tế, xã hội.