Chương 1 : Những nội dung lý luận liên quan đến đề tài Những quan niệm chung về dạng bị động Những lý luận phổ biến liên quan đến dang bị động của tiếng Pháp Van dé "bị động" trong tiếng Việt Phong cách học và dạng bị động Chương 2 : Những phương diện cơ bản của dạng bị động trong tiếng Pháp 2. Dạng bị động nhìn từ phương diện cau trúc hình thức 2. Một số nhận xét và miêu tả dạng bị động trong tiếng Pháp 2. Các kiểu cấu trúc bị động có trong ngữ liệu 2.
Tần số sử dụng của dạng bị động trong các dạng văn bản tiếng Pháp 2. _ Dạng bị động nhìn từ phương diện ngữ nghĩa 2. Những ràng buộc về mặt ngữ nghĩa của dạng bị động 2. Chức năng của dạng bị động trong tiếng Pháp Chương 3 : Việc chuyển dịch cấu trúc bị động từ tiếng Pháp sang tiếng Việt 3.
Một số miêu tả việc chuyên dịch cau trúc bị động tiếng Pháp sang tiếng Việt 3. Việc chuyên dịch cấu trúc bị động tiếng Pháp sang tiếng Việt 3. Việc diễn đạt ý nghĩa bị động trong tiếng Việt 3. Những nét tương đồng giữa dang bi động của tiếng Pháp với việc diễn đạt ý nghĩa bị động của tiếng Việt 3.
Những nét dị biệt giữa dạng bị động của tiếng Pháp với lối nói tiếp thụ-bị động của tiếng Việt Chương 4 : Thực trạng của việc sử dụng dạng bị động ở người Việt Nam học tiếng Pháp 4. Một số lỗi thường gặp trong cách sử dụng dạng bị động 4. Nguyên nhân mắc lỗi trong cách sử dụng dạng bị động 4. Một số đề xuất về hướng giải quyết Kết luận Tài liệu tham khảo 14 CHUONG1 : NHỮNG NỘI DUNG LÝ LUẬN LIÊN QUAN DEN DE TÀI Chương nay nham giới thiệu những van dé mang tính lý luận làm cơ sở cho luận án.
Trước tiên sẽ là các quan điểm cơ bản về dạng bị động nói chung. Phần tiếp theo sẽ được dành riêng dé trình bày những lý luận phổ biến có liên quan đến dạng bị động của tiếng Pháp. Một số quan niệm cơ bản về vấn đề "bị động" trong tiếng Việt sẽ là nội dung chính của phần thứ 3 của chương này. Phần thứ 4 của chương sẽ được dành cho những lý luận liên quan đến vấn đề phong cách.
Những quan niệm chung về dạng bị động Ở phần này, đề tài sẽ điểm qua các cách quan niệm cơ bản về dạng bị động nói chung dé có thể có được một bức tranh chung về hiện tượng ngữ pháp này. Trước tiên, chúng ta sẽ điểm qua một số khái niệm cơ bản có liên quan đến dạng bị động như : dạng, dạng bị động, kết cấu bị động, câu bị động, sau đó sẽ là quan niệm về dạng bị động trong các trường phái ngữ pháp khác nhau. Dạng và dạng bị động 1. Dạng là gì ? Có nhiêu tác giả đã đưa ra các định nghĩa vê "dạng của động từ".
Nhìn chung, dang được coi là một phạm trù ngữ pháp phổ biến của động từ, giống như giống, số, cách, ngôi, v. Theo Maurice Grévisse, "Dang thé hién moi quan hé giữa một bên là động từ, với một bên là chủ ngữ (hoặc bồ ngữ chi tác nhân) và bổ ngữ trực tiếp. Theo quan niệm này, trong tiếng Pháp có dạng chủ động, dạng bị động và dạng phản thân. - Dang chủ động : khi chủ ngữ chính là chủ thể hành động, còn bổ ngữ trực tiếp của động từ chính là đối tượng của hành động : "Les spectateurs ont piétiné la pelouse.
"(Khán gid giẫm lên thảm cỏ. ); 15 - Dạng bị động : khi câu có một ngoại động từ và có thé cải biến sao cho nghĩa sâu (sens profond) không thay đổi nhưng có thé cho phép đối tượng của hành động lên giữ vị trí chủ ngữ, chủ thể của hành động nếu xuất hiện trong câu thi sẽ xuống giữ vai trò b6 ngữ chỉ tác nhân, còn động từ thì sẽ có một dạng đặc biệt đó là sự kết hợp giữa trợ động từ être và phân từ quá khứ: "La pelouse a été piétinée par les spectateurs." (Thám cỏ bị khán giả giẫm lên. ); - Dang phản thân : khi động từ có bổ ngữ chỉ đối tượng hình thức là một đại từ có quy chiếu là chủ ngữ (G. Mauger, 117: 291) : Les vendanges se font a la fin de lété.
(Vu thu hoạch nho diễn ra vào mùa thu.) Trong cuốn sách: “Dẫn luận ngôn ngữ học” của Nguyễn Thiện Giáp, Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Minh Thuyết [26:238] có định nghĩa như sau : "Dạng (thái): là phạm trù ngữ pháp của động từ, biểu thị quan hệ giữa hành động với các sự vật nói ở chủ ngữ và bồ ngữ của động từ ấy. Nếu dạng thức của động từ nói lên rằng sự vật nêu ở chủ ngữ là đối tượng mà hành động hướng vào, còn kẻ thực hiện hành động là sự vật nêu ở bô ngữ, thì đó là dạng bị động của động từ. " Trong A Dictionary of Linguistics & Phonetics của David Crystal, dạng được định nghĩa như sau :"Dang là một phạm tru được dùng trong việc mô tả cầu trúc câu hoặc mệnh dé chủ yếu liên quan đến động từ, dé thé hiện cách mà các cấu có thể lựa chọn mối quan hệ giữa chủ ngữ và bồ ngữ cua động từ, mà không làm thay đổi nghĩa của câu." [130] Phạm trù dạng được thê hiện bằng những hình thức khác nhau tùy theo từng ngôn ngữ. Chang han nhu 6 tiéng La-tinh, dang được thé hién bang hình thai của động từ.
Vi dụ như với động từ "yêu, throng", cùng được chia ở thức chỉ định, thì hiện tại nhưng có hình thức khác nhau ở dạng chủ động và ở dạng bị động : 16 Dạng chủ động Dạng bị động amo amor amas amaris amat amatur amamus amamur amatis amamini amant amantur Trong khi đó ở tiếng Pháp hoặc tiếng Anh thi lai không có hình thái riêng biệt cho dang bị động, dang này được thé hiện bang sự kết hợp giữa trợ động từ étre, trong tiếng Pháp, to be, trong tiếng Anh, với phân từ quá khứ. Jacques a surpris le voleur. (Jacques đã bắt gặp tên trộm. ) - Un voleur a été surpris par la police.
(Tên trộm đã bị công an bat gap.) - Millions of people have read that book. (Hang triệu người đã doc cuốc sách nay.) - That book has been read by millions of people.(Cuén sách này đã được hàng triệu người doc. Kết cấu là gì ? Trong ngôn ngữ, nhìn chung, "kết cau" có thể được hiểu là sự kết hợp của nhiều đơn vị ngữ pháp với nhau theo quan hệ ngữ đoạn và có một chức năng nhất định. Theo định nghĩa trong Dictionnaire de l'Académie francaise thì "Kết cấu là sự kết hợp của các từ theo các quy tắc và cách dùng của từng ngôn ngữ" [85].
Vậy, một kết cấu có thể là một từ, một ngữ, một mệnh đề hoặc một câu. Một kết cấu bị động có thể là : - _ một động từ ở dang bị động : amor — trong tiếng La tinh - _ một động ngữ : a été supris par la police — trong tiếng Pháp - _ một mệnh dé: (il craint d'être tué,) alors quill a été arrété à deux reprises par les autorités ivoiriennes et qu'il a été relâché. (ông ta sợ bị giết, trong khi đó ông ta đã từng bị nhà cam quyén Bờ Biển Nga bắt hai lan và sau đó đã được thả.) 17 - Một câu : Il a ensuite été convoqué par la Police de Bizerte le 4 mai 200%. Dạng bị động là gì ? Theo từ điển Le Trésor de la Langue Francaise [84], Le passif là tập hợp của các hình thái động từ bị động (L'ensemble des formes verbales passives.
Le passif đã được dịch sang tiếng Việt theo nhiều cách khác nhau : dạng bị động, thái bị động, cấu trúc bị động hay câu bị động. Trong luận án này, khái niệm /e passif sẽ được hiểu theo định nghĩa trên đây của từ điển Le Trésor de la Langue Francaise và được dịch theo một trong những cách nói pho biến đó là dạng bị động. Dạng bị động là một hiện tượng ngữ pháp phố biến ở các ngôn ngữ An-Au. Song, có thể nói là mỗi trường phái ngữ pháp đều có cách quan niệm riêng của mình về hiện tượng ngữ pháp này.
Sau đây, chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu xem dạng bị động được quan niệm như thế nào trong các trường phái ngữ pháp truyền thống, cải biến-tạo sinh, loại hình học cú pháp, ngữ nghĩa-chức năng. Dạng bị động trong ngữ pháp truyền thống Có thé là do chịu ảnh hưởng của cách quan niệm ở các ngôn ngữ như tiếng La-tinh hoặc Hy-lạp mà các tác giả của ngữ pháp truyền thống thường quan niệm rằng dạng bị động là một phạm trù hình thái học thuần tuý. Mauger [117:199] đã xếp dạng bị động vào mục chia động từ của tiếng Pháp. Tuy nhiên, ngay cả trong các ngôn ngữ có phạm trù dạng rõ ràng, khi đề cập đến phạm trù này, các nhà nghiên cứu, ngoài việc phân biệt dạng chủ động (voix active) với dạng bị động (voix passive) của động từ ra, còn phải nói đến sự thay đổi vị trí giữa chủ ngữ và bổ ngữ trực tiếp của động từ.
Cụ thể là trong một câu có động từ ở dạng chủ động, chủ ngữ của câu đồng thời là chủ thé thực hiện hành động và bồ ngữ trực tiếp của câu là đối tượng chịu tac động của hành động. Sau đây là ví dụ do Maurice Grévisse đưa ra trong cuốn Le Bon Usage [100], một trong những cuốn cam nang ngữ pháp tiếng Pháp. 18 - Un chauffard a renversé un piéton. (Một lái xe di du đã làm ngã một người ấi bộ.
) - Un piéton a été renversé par un chauffard. (Một người di bộ đã bị làm ngã bởi một lái xe di du.) Trong ví dụ này, câu thứ nhất có chủ ngữ ngữ pháp đồng thời là chủ thể hành động, bé ngữ trực tiếp là đối tượng của hành động, động từ thì ở dang chủ động; câu thứ hai, theo quan niệm của ngữ pháp truyền thống, có cùng một nghĩa sâu với câu thứ nhất, nhưng quan hệ của chủ thê và đối tượng hành động với động từ đã thay đổi ở chỗ chủ ngữ của câu thứ hai là đối tượng của hành động, còn chủ thê hành động lúc này lại trở thành bé ngữ chỉ tác nhân, còn động từ thì đã được chuyển thành dạng bị động. Câu thứ nhất có động từ ở dạng chủ động, được gọi là câu chủ động, câu thứ hai có động từ ở dạng bị động được gọi là câu bị động. Như vậy, dạng bị động không chỉ đơn thuần là một phạm trù hình thái học mà còn thé hiện mối quan hệ cú pháp của các thành tổ trong câu.