Chương I: KHÁI NIỆM VỀ ĐẠI TỪQUAN HỆ VÀ CÁC CẤU TRÚC TƯƠNG UNG 1.Khái niêm chung về ĐLQOH Chúng tôi thường, gap những câu tiếng Pháp có câu trúc như sau: (1)- Ccux gui vivent, ce sont ceux qui luttent. (Hugo) (Những người dang sống, đó là những người dang dau tranh) (2)- Vous étes, leur dit Pinconnu, dans une maison dont le proprictaire, Mucius Scavola (.) est célébre dans la section par son patriotisme (I. de Balzac, Une épisode sous la terreur. (Các vi dang ở trong một ngôi nhà ma chủ nhân của nó Mucius Scavola (.) nã! nổi tiếng trong phiên bình vì lòng yéu nude, nguoi la mat nói).
(3)- Le maitre punit les élèves gui mont pas travaillé. (Thay giáo phạt những hoc sinh dd không chịu làm viéc) (4)- La dépéche gue nous venons de recevoir annonce que la reunion aura lieu la semaine prochaine.[dẫn theo 79: 124] (Bức điện (mà) chúng tôi via nhận được thông báo rang chộc họp sé được tiên hành vào tuần tới) Những câu trên đây đều có hai mệnh đề dựợơc liên kết với nhau nhờ các thành phần như gui, dont, que. Các mệnh đề phụ đêu hạn định, piải thích hoặc thuyết minh cho tiền từ tức là danh từ hoặc đại từ đứng trước các thành phần đó. Ví dụ như trong (1) qui vivent ( mà dang sống) xác định ceux chủ ngữ của mệnh đề chính (những người), và qui luttent, (mà dang chién đâm).
xác định ceux thuộc ngữ (những người), nếu không có các mệnh đề phụ này câu (1) chỉ còn là: cewx sont ceux (những người là những người), không có giá trị thông báo. Trong (3) qui n'ont pas travaillé (không làm việc) tương đương, với một tính tir kiểu như paresseun (lười biếng), hạn định Jes éleves. Con trong (4) que nous venons de recevorr (ma chúng tôi vừa nhận được) tương, đương, vỚI récente (mới có) cũng, xác định la dépéche. Như vậy, chúng ta thấy rằng các thành phân trên đều thong qua tiên từ đề nối mệnh đề phụ với mệnh đề chính.
Còn trong mệnh đề phụ, chúng lại đại điện cho tiền từ, với tư cách là một thành tố của mệnh dé phụ, dam nhận mot chức năng cú pháp ở đó. Ở các ví dụ nêu trên, gui thứ nhât là chủ ngữ của vivent, gui thứ hai là chủ ngữ của /enr trong (1), dont là bổ ngữ xác định của propriétaire trong (2), còn qui là chủ ngữ của n'ont pas travaillé trong (3). Trong (4), que là bổ ngữ trực tiếp của nous venons de recevoir. Những thành phần này dựơc sử dụng nhiều trong tiếng Pháp.
Trong nhiều ngôn ngữ Ấn- Âu khác, người ta cũng hay gap loại từ tương tự, ví dụ nhu who, what, which vv. trong tiếng Anh; hay trong tiếng Nga là: kmo,4amo, komopbut v9. Cũng như đối với tiếng Pháp, ngữ pháp các ngôn ngữ này đều gọi các từ nối hai mệnh đề kể trên là dại từ quan hệ (pronom rek¿i/). Chúng tạo thành một lớp từ, một tiểu hệ thống quan trọng để đảm nhận chức năng liên kết.
Một số ngôn ngữ, trong đó có tiếng Việt, hầu như không có lớp từ này. Vậy thì ĐFQH là gì? Trước hết, các nhà ngôn ngữ học và ngữ pháp hoc châu Âu xếp chúng. vào loại đại từ, và là một loại đại từ đặc biệt. chức năng cơ bản của chúng là có thể thay thế, đại điện mot thành phan đã được nhắc tới.
Thành phan do là tiền từ. ĐTQH đại diện cho tiền từ dé dam nhận một chức năng trong mệnh đề phụ quan hệ. Chức nang thứ hai của DTQH là liên kết mệnh đề phụ (được gọi là mệnh đề phụ quan hệ) với mệnh 16 đề chính thong qua tiền từ. Mệnh đề phụ quan hệ có chức nắng han định.
giai thích, thuyết minh tiền từ đó. Đối với nhiều ngôn ngữ Ấn-Âu, đại từ quan hệ là một phương tiện ngữ pháp rất quan trọng để biểu đạt tư duy ngày càng phức tạp của con người. Khi muốn phát triển thành phần xác định (định ngữ) cho một yếu tố nam trong cấu trúc phát ngôn, người ta sử dụng tính từ hay một từ, một nhóm từ tương đương. Nhung tu duy con người không dừng lại ở đó, người ta còn muốn mở rộng các định ngữ này thành những mệnh đề để xác dinh đối tượng được nhiều hơn.
Trong ngữ pháp các thứ tiếng Ả-rập, câu quan hệ được miêu tả như một phương thức định tính (qualification), cùng cấp độ với tính từ hoặc tổ hop gồm giới từ và các thành phần đứng sau nó. Về cú pháp mà nói. những cấu trúc đó là mệnh đề phụ quan hệ. Xét về mặt chức năng, các mệnh đê phụ quan hệ có thể duve coi như ngang hàng với tính từ.
Chúng ta có thể biểu hiện cấu trúc có ĐTQH theo mô hình sau: Qua việc khảo sát nhiều ngôn ngữ khác nhau, Benvéniste nhận thấy răng việc phân tích câu có DTQH (phrase relative) cho thấy một cấu trúc hình thức gắn với một chức năng nào đó phối hợp tạo ra, quan hệ này không phải dễ tìm. Vấn đề là phải phát hiện được chức năng đó [63: 208]. ĐTQH là những từ dùng để liên kết một danh từ hoặc một đại từ được gọi là tiền từ với một mệnh đề phụ quan hệ (relative) có chức năng giải thích hoặc xác định chính tiền từ đó. Benvéniste đã tiến hành khảo sát hiện tượng này trong một số ngôn ngữ có ngưồn gốc khác nhau và đã nhận xét rằng 7 : “| BM Le (fo | trong các ngôn ngữ khảo sát đó đều có hiện tượng mệnh đề phụ quan hệ được nối với tiền từ bằng những hình vị (2:phèm©), bằng các tiểu từ (purticules) hoặc bằng tiền tố (préfixes).
Trong một số ngôn nett A-rap. các từ quan hệ đều bat nguồn từ các từ chỉ định, và nhờ vậy mà có chúc nang xác dịnh [63: 208-225]. Tại sao không gọi chúng là liên từ (conjonction) hay từ Tiến ket (conjonctify? Grévisse nhấn mạnh sự khác nhau giữa ĐYTOIT và các loại từ liên ket. là ở chỗ DTQH có mang giống, số và ngôi như đại từ (thực chat là giống, số và ngôi tiền từ) và có chức năng ngữ pháp trong cau phụ [83: 10751.
lRéférovskaia, trong “Essai de Grammaire frangaise” cho rang đặc trưng của DTQH là qua chức năng đại diện (fonction représentative) hoặc chức năng hồi chỉ (fonction anaphorique) kết hợp chúc năng của thành phan liên kết để nối thành phần được xác định (tiền từ) với thành phân xác định là mot nhóm từ được sắp xếp dưới dang một mệnh dé. Chính vì nhờ có chức nang đại điện hoặc hồi chỉ mà chúng được xếp vào loại các đại từ | 105: 154] Nhiều DTQH trong một số ngôn ngữ châu Au vốn là đại từ nghỉ van (ĐTNV) dược sử dụng trong ngữ cảnh đặc biệt là đứng sau tiền từ. còn các DITNV thì sử dụng không có tiền từ. Điều quan trọng nhật là DTQH vừa thay thế tiền từ, vừa gắn nối một mệnh đề phụ với tiền từ mà nó xác định, giải thích [77: 985].
Cũng theo tinh thần đó, Gak [125:153-158] xếp đại từ nehi vấn và ĐTQII vào một loại từ gọi là đại từ nghĩ vấn - quan hệ và được biểu thị theo sơ đồ: tiền từ DTQH cau trả lời ¬. 11) p “ lộ) Y kiến này không được nhiều người chấp nhận, vì đa số các nhà ngữ phát học đều coi DTQH như là một loại đại từ đặc biệt, ngang hàng với ĐINV. | = aa 18 chăng chỉ là ở chỗ đại từ nghĩ vấn có thể là nguồn gốc của của ĐYTOII. chúng đã trải qua một giai đoạn chuyển hóa trung gian là cách hỏi gián tiếp.
Các từ nghỉ vấn (gồm cả đại từ: qui, que, quor, tính từ: quel, và phó Từ comment, pourquoi, quand, ot.), ngoài vai trò để hỏi còn có chúc nang làm từ liên ket cho hai mệnh đề như DTQH [105: 157]. Người ta có thể dựa vào tiêu chí DTQH được dat sau tiên từ, còn đại từ nghi vấn thì không có tiền từ đứng trước vì trong phần lớn các trường hợp. các PTQH thường đứng sau tiền từ để đại diện cho tiền từ trong mệnh de phụ. Tuy nhiên, tiêu chí này chưa bao quát bởi lễ cũng có những trường hop ĐTQH được sử dụng không có tiền từ.
Vídụ: (1) gui vivra verra (ngan ngữ Pháp, có the là dạng rút gon của (celui qui vivra verra) (ai sống thì sé thay) Wagner và Pinchon quan niệm các DTQH đó là những dại từ có gia trị không xác định (relatifà valeur d'un pronom indéfini) (LVS: 219], còn Grevisse thì coi đó là chức nang danh tinh (fonction nominale) của TYTOET đốt lập với chức năng đại diện thay thế (fonction représentative) thường, gap ở những PTQH đi sau tiền từ. Theo ngữ pháp truyền thống, đại từ quan hệ còn được gọi là từ liên kết (conjonctif), là những, từ dùng để liên hệ, liên kết một mệnh đẻ phụ với danh từ hoặc đại từ mà chúng thay thế (danh từ hoặc đại tit đó được gọi là tiên từ). Mệnh đề phụ đó có chức năng xác định tiền từ [76 : 419]. Ngữ pháp cấu trúc coi các đại từ quan hệ là các tác tử (opérateur) cú phap cho phép mở rộng một danh ngữ hoặc ngữ đoạn danh từ (syatagme nominal) (D các ví dụ trong phần này do tác giả dịch sát nghia dé tiện doi chiên 19 bằng một câu phụ.
Như vậy, các đại từ quan hệ có cùng chức năng như liên tù vì nhờ chúng mà có thể mở rộng các danh ngữ và các dong ngữ (synfagme verbal). Từ đó cũng có người cho rằng DTQH que và liên từ gue có thể là mot Ngữ pháp san sinh xếp các DTQH vào loại thành phân xác định và có the tham gia các thao tác cải biên thành mệnh để liên hệ Cransformation relative). Tóm lại, các ngôn ngữ có thể có những DTQH với nhiều dang khác nhau, chúng có thể tham gia vào nhiều kiểu phát ngôn, nhưng déu có cùng giá trị ngữ pháp: liên kết mệnh đề phụ với ménh đề chính. Đặc trưng cơ ban của các ĐTQH là chức năng kép về từ pháp : vừa liên kết được hai mệnh đề, vừa dại diện thay thế tiền từ để tham gia tổ chức ngữ pháp của mệnh đề phụ với tur cách một thành tố đảm nhận chức năng cú pháp cụ thể trong cấu trúc câu.
Dai từ quan hệ trong tiếng Pháp 1. Một vai quan niềm về ĐT(QLT tiếng Pháp Trong ngữ pháp tiếng Pháp, DTQH tạo thành mot tiểu hệ thống với những đặc trưng từ pháp và cú pháp riêng. Như đã trình bày ở trên, cũng như các ĐTQH trong nhiều thứ tiếng khác nói chung, các DTQH tiếng Pháp duce sử dụng để nối mệnh đề phụ với mệnh đề chính. Các mệnh đề phụ này được gọi là mệnh đề phụ quan hệ.
Các mệnh đề phụ quan hệ thường có chức năng làm định ngữ cho chính tiền từ.