Đặt vấn đề Để có một cái nhìn tổng quát về tình hình nghiên cứu tiếng lóng và từ ngữ lóng, chúng tôi tổng hợp và hệ thống hoá các giáo trình, chuyên khảo, luận án, luận văn, bài báo khoa học và các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài nghiên cứu. Chúng tôi phân tích các nghiên cứu này từ khái quát đến cụ thể, từ cái chung đến cái riêng, bắt đầu từ việc tổng quan các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ học xã hội, biến thể ngôn ngữ của phương ngữ xã hội đặc thù, từ đó khai thác các nghiên cứu về từ ngữ lóng ở nước ngoài và trong nước. Từ đây, chúng tôi tìm ra các khoảng trống nghiên cứu mà các nghiên cứu trước đây chưa đề cập đến, thông qua đó thiết lập cơ sở lý luận và thực tiễn cho luận án. Tổng quan về tình hình nghiên cứu tiếng lóng 1.
Tình hình nghiên cứu trên thế giới về tiếng lóng Từ thế kỉ 20, ở giai đoạn hậu cấu trúc luận, ngôn ngữ học xã hội ra đời một mặt tiếp thu những thành quả của ngôn ngữ học cấu trúc, mặt khác đã đóng góp đích thực để giải thích các hiện tượng cũng như diễn biến của ngôn ngữ dưới tác động của các nhân tố xã hội, bù đắp, bổ sung những gì còn thiếu hụt, những bất lực của ngôn ngữ học truyền thống trong việc giải quyết các vấn đề ngôn ngữ do cuộc sống đặt ra. Nếu không dựa vào các nhân tố xã hội - ngôn ngữ mà chỉ dựa vào hệ thống - cấu trúc của ngôn ngữ thì không thể suy xét và giải thích thấu đáo các hiện tượng ngôn ngữ. Vì vậy, lấy đối tượng nghiên cứu là ngôn ngữ giao tiếp trong đời sống hằng ngày, cụ thể là các biến thể ngôn ngữ đa dạng, nảy sinh và phát triển trong xã hội, ngôn ngữ học xã hội đã liên kết được các nhân tố xã hội để nghiên cứu ngôn ngữ, nhằm giúp cho việc xử lí hàng loạt các vấn đề của đời sống ngôn ngữ, góp phần vào việc định hướng sử dụng ngôn ngữ và chuẩn hóa ngôn ngữ. Nền tảng cho sự hình thành và phát triển của ngôn ngữ học xã hội là các nhà nghiên cứu tiền bối thời kỳ những năm 50 của thế kỉ 20.
Với lí thuyết hành vi nói năng, nhà triết học J. Austin (1955, [68]), trong cuốn “How to do things with words” (Hành động như thế nào bằng lời nói) đã cho rằng, tác dụng chủ yếu của ngôn ngữ là hoàn thành các hành vi ngôn ngữ. Theo Austin, khi con người giao tiếp với nhau không thể không xem xét đến bối cảnh giao tiếp cụ thể. Điều này có nghĩa là, nghiên cứu ngôn ngữ phải nghiên cứu mối quan hệ giữa hành vi ngôn ngữ với bối cảnh 9 hiện thực.
Việc xác lập hành vi ngôn ngữ đã mở ra một hướng nghiên cứu mới trong nghiên cứu ngôn ngữ học. Điển hình cho cách tiếp cận này là O. Jesperson (1922; [101]) trong tác phẩm “Language: Its nature, Development and Origin” (Ngôn ngữ: Tính tự nhiên, Sự phát triển và Nguồn gốc) đã nêu ra sự khác biệt về giới tính trong ngôn ngữ, sự phân hóa giai cấp trong ngôn ngữ, sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa các ngôn ngữ và các nhân tố tác động đến sự phát triển của ngôn ngữ. Đây cũng chính là tác phẩm đầu tiên về ngôn ngữ học xã hội.
Có thể nói rằng, xuất phát điểm cơ bản của ngôn ngữ học xã hội chính là coi hành động nói là một quá trình hoạt động xã hội. Trong tác phẩm “The sociology of language: An interdisciplinary social science approach to language in society” (Ngôn ngữ học xã hội: Một cách tiếp cận khoa học xã hội liên ngành về ngôn ngữ trong xã hội) của Fishman (1971) đã xác định nhiệm vụ nghiên cứu của ngôn ngữ học xã hội: “Ngôn ngữ học xã hội nhằm xác định ai nói? Bằng ngôn ngữ nào? Khi nào? Về vấn đề gì? Và nói với ai? Vì thế ngôn ngữ học xã hội nghiên cứu đặc điểm của những hình thái khác nhau của ngôn ngữ, đặc điểm của chức năng của chúng và đặc điểm của người sử dụng chúng, vì cho rằng ba yếu tố này không ngừng tác động qua lại với nhau và biến đổi ngay trong cộng đồng ngôn ngữ. Tác phẩm “An Introduction to Sociolinguistics” (Dẫn luận ngôn ngữ học xã hội) của Wardhaugh (1986, 2006; [131]) đã phát biểu rằng ngôn ngữ xã hội học nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn ngữ và xã hội nhằm hiểu rõ hơn về cấu trúc của chức năng ngôn ngữ. Điều đó có nghĩa là thông qua ngôn ngữ học xã hội, người ta sẽ hiểu được cách thức cấu trúc xã hội có ảnh hưởng như thế nào đến cách con người nói chuyện, cách ngôn ngữ biến đổi và cách sử dụng tương ứng với các thuộc tính xã hội như giai cấp, giới tính và tuổi tác.
Xuất phát từ quan niệm “hoạt động ngôn ngữ là biểu hiện nhạy cảm của các quá trình xã hội”, W. Labov (2006; [106]) trong tác phẩm “The social stratification of English in New York City” (Sự phân tầng xã hội của tiếng Anh tại thành phố New York) đã tiến hành nghiên cứu những biến thể âm vị trong phương ngữ của dân cư ở New York, từ đó tìm ra mối liên hệ của hoạt động ngôn ngữ với sự khác biệt xã hội (nghề nghiệp, trình độ văn hóa, thu nhập, .), trong đó có sự khác biệt giữa các giai cấp xã hội thể hiện trong phong cách nói, có sự phân hóa ngữ âm ở các tầng lớp xã hội tại New York. Điều này cho thấy có sự phân biệt khá rõ về mức độ chuẩn và không chuẩn trong giao tiếp giữa các tầng lớp xã hội. “Phương hướng nghiên cứu này mang 10 đậm nét xã hội học và ta có thể gọi nó là ngôn ngữ học xã hội” (Todorov, 1972: 85).
Quan điểm này được thể hiện rõ trong các công trình nghiên cứu về lịch sử từ vựng, theo đó, từ ngữ được quy định bởi những khám phá khoa học, kỹ thuật và những biến đổi xã hội. Biến đổi ngôn ngữ học xã hội là chủ đề xuyên suốt mà W. Labov đã đề cập đến trong các công trình nghiên cứu của ông, đặc biệt là trong tác phẩm “Ngôn ngữ học xã hội” (1972) và “Ngôn ngữ đời thường” (1972). Theo ông, không thể nào hình dung nổi “một lý thuyết hay một hoạt động ngôn ngữ phong phú nào mà lại không mang tính chất xã hội” (1976: 37).
Ngôn ngữ học xã hội đặc biệt quan tâm đến mối quan hệ và sự chi phối của các nhân tố xã hội đến sự lựa chọn và sử dụng ngôn ngữ, như giai cấp, độ tuổi, giới tính, nguồn gốc, trình độ học vấn, v.v… với việc lựa chọn và sử dụng ngôn ngữ. Có thể kể đến những công trình tiêu biểu như “The Study of Language in Its Social Context” (Nghiên cứu về Ngôn ngữ trong Bối cảnh xã hội) của Labov (1970), “Language in Social groups” (Ngôn ngữ trong các nhóm xã hội” của Gumperz (1971), “Language and Women‟s place” (Ngôn ngữ và vị trí của người phụ nữ) của Lakoff (1975), “Age as a Sociolinguistic variable” (Tuổi tác như là một biến ngôn ngữ học xã hội) của Eckert (1998), v.v… Các công trình ngôn ngữ học xã hội trên là nền tảng cho việc nghiên cứu tiếng lóng - một biến thể đặc thù trong sử dụng của phương ngữ xã hội. Đây là hiện tượng ngôn ngữ được khá nhiều học giả trên thế giới quan tâm nghiên cứu, đồng thời cũng tồn tại nhiều quan điểm khác nhau. Các hướng nghiên cứu tiêu biểu về tiếng lóng chủ yếu là nghiên cứu về mối quan hệ giữa các nhân tố xã hội tác động lên tiếng lóng, việc sử dụng tiếng lóng giữa các nhóm xã hội khác nhau như sinh viên đại học (David, 1994; Eble, 1996) [82] [87], y tế (David, 1983; Coombs và cộng sự, 1993; Fox và cộng sự, 2003) [83] [79] [93], giới tính và tiếng lóng (Forsskåhl, 2001; Redkozubova E.
Hiện tượng tiếng lóng của thanh niên hay tiếng lóng sinh viên là một vấn đề thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ từ xưa đến nay, khẳng định vai trò của giới trẻ trong xu hướng mới của ngôn ngữ, bởi “trong số tất cả các nhóm xã hội, giới trẻ là những người dễ nhất để sử dụng và cập nhật tiếng lóng một cách độc đáo. Họ thể hiện tính năng động xã hội rất lớn và có thể tiếp nhận những thay đổi trong thời trang, phong cách, cũng như trong ngôn ngữ. Giới trẻ tuy rất ít quyền lực 11 chính trị nhưng họ có thể sử dụng tiếng lóng như một công cụ phản văn hóa, như một cánh tay chống lại chính quyền và công ước”. Rodriguez (1994; [120]) trong bài viết “Youth and Student Slang in British and American English” đã nhận định như vậy.
Trên thực tế, mỗi thế hệ thanh niên sử dụng một loại tiếng lóng khác nhau - tiếng lóng thay đổi theo từng thế hệ (Dalzell, 2010). Ví dụ, tiếng lóng của các trường đại học Mỹ vào những năm 1850 bao gồm từ vựng và cụm từ khác với tiếng lóng của các trường đại học Mỹ vào những năm 1900 (Dalzell, 2010). Do đó, tiếng lóng là thứ phù du, giống như tuổi trẻ của những người thường sử dụng nó. Vì vậy, một trong những mục đích của việc sử dụng tiếng lóng là để loại trừ người ngoài cuộc và không để họ hiểu những gì người trong cuộc đang thảo luận hoặc lên kế hoạch (Burridge, 2004; [73]).
Theo nghĩa này, tiếng lóng là một ngôn ngữ được mã hóa mà người ngoài không thể hiểu được, và điều này được cho là “động cơ ban đầu của tiếng lóng”. Một số công trình tiêu biểu về tiếng lóng giới trẻ như “Kansas University Slang: A new generation” (Tiếng lóng trong trường đại học Kansas: Một thế hệ mới) của Dundes (1963; [85]), nghiên cứu về tiếng lóng của sinh viên trường đại học Kansas, tác giả đã xem xét tiếng lóng của sinh viên ở trường đại học như là một thế hệ mới trong ngôn ngữ. Đây cũng được coi là tác phẩm đánh dấu mốc quan trọng, đặt nền tảng cho việc nghiên cứu tiếng lóng trong các trường đại học. C (1996; [87]) trong cuốn sách “Slang and Sociability: In-Group Language among College Students” (Tiếng lóng và Tính Xã hội: Ngôn ngữ nội nhóm trong Sinh viên Đại học) đã bác bỏ quan điểm cho rằng tiếng lóng thường được coi là một dạng ngôn ngữ thấp hèn, một dạng ngôn ngữ đơn giản là không có ý nghĩa hoặc không quan trọng bằng ngôn ngữ thông thường.
Lí giải cho sự bác bỏ quan điểm này, tác giả đã phân tích nguồn gốc, chất thơ, tính biểu tượng và sự tinh tế của các cách diễn đạt bằng tiếng lóng.