Luận Án Tiến Sĩ Ngôn Ngữ Học: So Sánh Từ Ngữ Lóng Trong Tiếng Anh Và Tiếng Việt

Luận án tiến sĩ phân tích đối chiếu từ ngữ lóng trong tiếng Anh và tiếng Việt, khám phá sự tương đồng và khác biệt về ngữ nghĩa, văn hóa.

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2023

301
10
0

Phí lưu trữ

75 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

0.1. TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN

0.1.1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu tiếng lóng

0.1.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới về tiếng lóng

0.1.3. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam về tiếng lóng

0.1.4. Cơ sở lí luận về phương ngữ xã hội

0.1.5. Cơ sở lí luận về tiếng lóng

0.1.6. Từ ngữ và nghĩa của từ

0.1.7. Cơ sở lí thuyết về ngôn ngữ học đối chiếu

0.1.8. Tiểu kết

1. CHƯƠNG 1: ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO CỦA TỪ NGỮ LÓNG TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT

1.1. Đặc điểm cấu tạo của từ ngữ lóng tiếng Anh và tiếng Việt

1.2. Đặc điểm hình thái của từ ngữ lóng tiếng Anh

1.3. Khả năng tạo từ của từ ngữ lóng tiếng Anh

1.4. Nhận xét đặc điểm cấu tạo của từ ngữ lóng tiếng Anh và tiếng Việt

1.5. Những điểm tương đồng

1.6. Những điểm khác biệt

1.7. Tiểu kết

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA CỦA TỪ NGỮ LÓNG TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT

2.1. Đặc điểm chung về ngữ nghĩa của từ ngữ lóng tiếng Anh và tiếng Việt

2.2. Tạo từ mới mang nghĩa lóng

2.3. Phát triển nghĩa lóng

2.4. Hiện tượng đồng nghĩa của từ ngữ lóng

2.5. Hiện tượng đồng âm của từ ngữ lóng

2.6. Hiện tượng đa nghĩa của từ ngữ lóng

2.7. Các đặc trưng xã hội của từ ngữ lóng trong tiếng Anh và tiếng Việt

2.8. Khảo sát trường hợp: Đặc điểm ngữ nghĩa của từ ngữ lóng trong tiếng Anh và tiếng Việt, xét theo nhóm xã hội

2.8.1. Đặc điểm ngữ nghĩa của từ ngữ lóng trong tiếng Anh, xét theo nhóm xã hội

2.8.2. Đặc điểm ngữ nghĩa của từ ngữ lóng trong tiếng Việt ở một số nhóm xã hội

2.9. Nhận xét đặc điểm ngữ nghĩa của từ ngữ lóng tiếng Anh và tiếng Việt

2.10. Những điểm tương đồng

2.11. Những điểm khác biệt

2.12. Tiểu kết

3. CHƯƠNG 3: LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC BIỂU

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu ngữ lóng tiếng Anh và tiếng Việt

Luận án tập trung vào việc so sánh ngữ lóng giữa tiếng Anhtiếng Việt, nhằm làm rõ sự tương đồng và khác biệt về cấu tạo và ngữ nghĩa. Nghiên cứu này dựa trên cơ sở lý thuyết của ngôn ngữ học so sánhphương ngữ xã hội, đồng thời khảo sát các từ vựng tiếng Anhtừ vựng tiếng Việt trong các nhóm xã hội khác nhau. Luận án cũng đề cập đến sự phát triển của ngữ lóng trong giao tiếp và ảnh hưởng của ngữ nghĩa văn hóa lên việc hình thành và sử dụng ngữ lóng.

1.1. Tình hình nghiên cứu ngữ lóng trên thế giới

Nghiên cứu về ngữ lóng tiếng Anh đã được thực hiện rộng rãi, tập trung vào các nhóm xã hội như giới trẻ, thương mại, y tế và chính trị. Các nghiên cứu này chỉ ra rằng ngữ lóng không chỉ là phương tiện giao tiếp mà còn phản ánh văn hóa và tinh thần thời đại. Tuy nhiên, nghiên cứu về ngữ lóng tiếng Việt vẫn còn hạn chế, đặc biệt là trong việc so sánh với các ngôn ngữ khác.

1.2. Tình hình nghiên cứu ngữ lóng ở Việt Nam

Ở Việt Nam, ngữ lóng tiếng Việt chủ yếu được nghiên cứu trong các nhóm xã hội như giới trẻ và các ngành nghề đặc thù. Các nghiên cứu này nhấn mạnh sự đa dạng và sáng tạo trong việc sử dụng ngữ lóng, đồng thời chỉ ra sự ảnh hưởng của văn hóa và xã hội lên ngôn ngữ này.

II. Đối chiếu đặc điểm cấu tạo từ ngữ lóng

Luận án phân tích và so sánh đặc điểm cấu tạo của từ ngữ lóng tiếng Anhtừ ngữ lóng tiếng Việt. Các phương thức tạo từ như ghép từ, rút gọn, và chuyển nghĩa được khảo sát kỹ lưỡng. Kết quả cho thấy sự tương đồng trong cách tạo từ nhưng cũng có những khác biệt do ảnh hưởng của ngữ nghĩa văn hóa và cấu trúc ngôn ngữ.

2.1. Đặc điểm hình thái của từ ngữ lóng tiếng Anh

Từ ngữ lóng tiếng Anh thường được tạo ra thông qua việc rút gọn từ, ghép từ, hoặc sử dụng từ đồng âm. Ví dụ, từ 'selfie' được tạo ra từ 'self' và 'photo', phản ánh xu hướng sử dụng ngôn ngữ ngắn gọn và sáng tạo của giới trẻ.

2.2. Đặc điểm hình thái của từ ngữ lóng tiếng Việt

Từ ngữ lóng tiếng Việt thường sử dụng phương thức chuyển nghĩa và ghép từ. Ví dụ, từ 'chém gió' được dùng để chỉ việc nói chuyện phiếm, phản ánh sự hài hước và sáng tạo trong ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày.

III. Đối chiếu đặc điểm ngữ nghĩa của từ ngữ lóng

Luận án tập trung vào việc phân tích ngữ nghĩa từ lóng trong tiếng Anhtiếng Việt, chỉ ra sự tương đồng và khác biệt trong cách sử dụng và ý nghĩa của các từ ngữ lóng. Nghiên cứu cũng đề cập đến hiện tượng đồng nghĩa, đồng âm, và đa nghĩa của từ ngữ lóng, đồng thời phân tích ảnh hưởng của ngữ nghĩa văn hóa lên việc hình thành và sử dụng ngữ lóng.

3.1. Hiện tượng đồng nghĩa và đa nghĩa

Cả tiếng Anhtiếng Việt đều có hiện tượng đồng nghĩađa nghĩa trong từ ngữ lóng. Ví dụ, từ 'lit' trong tiếng Anh có thể chỉ sự vui vẻ hoặc sự nổi tiếng, trong khi từ 'chất' trong tiếng Việt có thể chỉ sự đẹp đẽ hoặc sự thú vị.

3.2. Ảnh hưởng của văn hóa lên ngữ nghĩa từ lóng

Ngữ nghĩa văn hóa đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và sử dụng từ ngữ lóng. Ví dụ, từ 'bánh bèo' trong tiếng Việt được dùng để chỉ những cô gái yếu đuối, phản ánh quan niệm văn hóa về giới tính và vai trò xã hội.

IV. Ứng dụng và ý nghĩa của nghiên cứu

Luận án không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn mang lại nhiều ứng dụng thực tiễn. Kết quả nghiên cứu giúp hiểu rõ hơn về ngữ lóng trong giao tiếp và ảnh hưởng của ngữ nghĩa văn hóa lên ngôn ngữ. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc giảng dạy ngôn ngữ và giao tiếp liên văn hóa.

4.1. Ứng dụng trong giảng dạy ngôn ngữ

Nghiên cứu cung cấp cái nhìn sâu sắc về từ ngữ lóng tiếng Anhtừ ngữ lóng tiếng Việt, giúp người học hiểu rõ hơn về văn hóa và tư duy của người bản ngữ. Điều này đặc biệt hữu ích trong việc giảng dạy tiếng Anh cho người Việt và tiếng Việt cho người nước ngoài.

4.2. Ý nghĩa trong giao tiếp liên văn hóa

Hiểu biết về ngữ lóng trong giao tiếp giúp cải thiện hiệu quả giao tiếp giữa các nền văn hóa khác nhau. Nghiên cứu cũng góp phần xây dựng môi trường giao tiếp tích cực và thấu hiểu hơn trong bối cảnh toàn cầu hóa.

13/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Để có một cái nhìn tổng quát về tình hình nghiên cứu tiếng lóng và từ ngữ lóng, chúng tôi tổng hợp và hệ thống hoá các giáo trình, chuyên khảo, luận án, luận văn, bài báo khoa học và các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài nghiên cứu. Chúng tôi phân tích các nghiên cứu này từ khái quát đến cụ thể, từ cái chung đến cái riêng, bắt đầu từ việc tổng quan các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ học xã hội, biến thể ngôn ngữ của phương ngữ xã hội đặc thù, từ đó khai thác các nghiên cứu về từ ngữ lóng ở nước ngoài và trong nước. Từ đây, chúng tôi tìm ra các khoảng trống nghiên cứu mà các nghiên cứu trước đây chưa đề cập đến, thông qua đó thiết lập cơ sở lý luận và thực tiễn cho luận án. Tổng quan về tình hình nghiên cứu tiếng lóng 1.

Tình hình nghiên cứu trên thế giới về tiếng lóng Từ thế kỉ 20, ở giai đoạn hậu cấu trúc luận, ngôn ngữ học xã hội ra đời một mặt tiếp thu những thành quả của ngôn ngữ học cấu trúc, mặt khác đã đóng góp đích thực để giải thích các hiện tượng cũng như diễn biến của ngôn ngữ dưới tác động của các nhân tố xã hội, bù đắp, bổ sung những gì còn thiếu hụt, những bất lực của ngôn ngữ học truyền thống trong việc giải quyết các vấn đề ngôn ngữ do cuộc sống đặt ra. Nếu không dựa vào các nhân tố xã hội - ngôn ngữ mà chỉ dựa vào hệ thống - cấu trúc của ngôn ngữ thì không thể suy xét và giải thích thấu đáo các hiện tượng ngôn ngữ. Vì vậy, lấy đối tượng nghiên cứu là ngôn ngữ giao tiếp trong đời sống hằng ngày, cụ thể là các biến thể ngôn ngữ đa dạng, nảy sinh và phát triển trong xã hội, ngôn ngữ học xã hội đã liên kết được các nhân tố xã hội để nghiên cứu ngôn ngữ, nhằm giúp cho việc xử lí hàng loạt các vấn đề của đời sống ngôn ngữ, góp phần vào việc định hướng sử dụng ngôn ngữ và chuẩn hóa ngôn ngữ. Nền tảng cho sự hình thành và phát triển của ngôn ngữ học xã hội là các nhà nghiên cứu tiền bối thời kỳ những năm 50 của thế kỉ 20.

Với lí thuyết hành vi nói năng, nhà triết học J. Austin (1955, [68]), trong cuốn “How to do things with words” (Hành động như thế nào bằng lời nói) đã cho rằng, tác dụng chủ yếu của ngôn ngữ là hoàn thành các hành vi ngôn ngữ. Theo Austin, khi con người giao tiếp với nhau không thể không xem xét đến bối cảnh giao tiếp cụ thể. Điều này có nghĩa là, nghiên cứu ngôn ngữ phải nghiên cứu mối quan hệ giữa hành vi ngôn ngữ với bối cảnh 9 hiện thực.

Việc xác lập hành vi ngôn ngữ đã mở ra một hướng nghiên cứu mới trong nghiên cứu ngôn ngữ học. Điển hình cho cách tiếp cận này là O. Jesperson (1922; [101]) trong tác phẩm “Language: Its nature, Development and Origin” (Ngôn ngữ: Tính tự nhiên, Sự phát triển và Nguồn gốc) đã nêu ra sự khác biệt về giới tính trong ngôn ngữ, sự phân hóa giai cấp trong ngôn ngữ, sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa các ngôn ngữ và các nhân tố tác động đến sự phát triển của ngôn ngữ. Đây cũng chính là tác phẩm đầu tiên về ngôn ngữ học xã hội.

Có thể nói rằng, xuất phát điểm cơ bản của ngôn ngữ học xã hội chính là coi hành động nói là một quá trình hoạt động xã hội. Trong tác phẩm “The sociology of language: An interdisciplinary social science approach to language in society” (Ngôn ngữ học xã hội: Một cách tiếp cận khoa học xã hội liên ngành về ngôn ngữ trong xã hội) của Fishman (1971) đã xác định nhiệm vụ nghiên cứu của ngôn ngữ học xã hội: “Ngôn ngữ học xã hội nhằm xác định ai nói? Bằng ngôn ngữ nào? Khi nào? Về vấn đề gì? Và nói với ai? Vì thế ngôn ngữ học xã hội nghiên cứu đặc điểm của những hình thái khác nhau của ngôn ngữ, đặc điểm của chức năng của chúng và đặc điểm của người sử dụng chúng, vì cho rằng ba yếu tố này không ngừng tác động qua lại với nhau và biến đổi ngay trong cộng đồng ngôn ngữ. Tác phẩm “An Introduction to Sociolinguistics” (Dẫn luận ngôn ngữ học xã hội) của Wardhaugh (1986, 2006; [131]) đã phát biểu rằng ngôn ngữ xã hội học nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn ngữ và xã hội nhằm hiểu rõ hơn về cấu trúc của chức năng ngôn ngữ. Điều đó có nghĩa là thông qua ngôn ngữ học xã hội, người ta sẽ hiểu được cách thức cấu trúc xã hội có ảnh hưởng như thế nào đến cách con người nói chuyện, cách ngôn ngữ biến đổi và cách sử dụng tương ứng với các thuộc tính xã hội như giai cấp, giới tính và tuổi tác.

Xuất phát từ quan niệm “hoạt động ngôn ngữ là biểu hiện nhạy cảm của các quá trình xã hội”, W. Labov (2006; [106]) trong tác phẩm “The social stratification of English in New York City” (Sự phân tầng xã hội của tiếng Anh tại thành phố New York) đã tiến hành nghiên cứu những biến thể âm vị trong phương ngữ của dân cư ở New York, từ đó tìm ra mối liên hệ của hoạt động ngôn ngữ với sự khác biệt xã hội (nghề nghiệp, trình độ văn hóa, thu nhập, .), trong đó có sự khác biệt giữa các giai cấp xã hội thể hiện trong phong cách nói, có sự phân hóa ngữ âm ở các tầng lớp xã hội tại New York. Điều này cho thấy có sự phân biệt khá rõ về mức độ chuẩn và không chuẩn trong giao tiếp giữa các tầng lớp xã hội. “Phương hướng nghiên cứu này mang 10 đậm nét xã hội học và ta có thể gọi nó là ngôn ngữ học xã hội” (Todorov, 1972: 85).

Quan điểm này được thể hiện rõ trong các công trình nghiên cứu về lịch sử từ vựng, theo đó, từ ngữ được quy định bởi những khám phá khoa học, kỹ thuật và những biến đổi xã hội. Biến đổi ngôn ngữ học xã hội là chủ đề xuyên suốt mà W. Labov đã đề cập đến trong các công trình nghiên cứu của ông, đặc biệt là trong tác phẩm “Ngôn ngữ học xã hội” (1972) và “Ngôn ngữ đời thường” (1972). Theo ông, không thể nào hình dung nổi “một lý thuyết hay một hoạt động ngôn ngữ phong phú nào mà lại không mang tính chất xã hội” (1976: 37).

Ngôn ngữ học xã hội đặc biệt quan tâm đến mối quan hệ và sự chi phối của các nhân tố xã hội đến sự lựa chọn và sử dụng ngôn ngữ, như giai cấp, độ tuổi, giới tính, nguồn gốc, trình độ học vấn, v.v… với việc lựa chọn và sử dụng ngôn ngữ. Có thể kể đến những công trình tiêu biểu như “The Study of Language in Its Social Context” (Nghiên cứu về Ngôn ngữ trong Bối cảnh xã hội) của Labov (1970), “Language in Social groups” (Ngôn ngữ trong các nhóm xã hội” của Gumperz (1971), “Language and Women‟s place” (Ngôn ngữ và vị trí của người phụ nữ) của Lakoff (1975), “Age as a Sociolinguistic variable” (Tuổi tác như là một biến ngôn ngữ học xã hội) của Eckert (1998), v.v… Các công trình ngôn ngữ học xã hội trên là nền tảng cho việc nghiên cứu tiếng lóng - một biến thể đặc thù trong sử dụng của phương ngữ xã hội. Đây là hiện tượng ngôn ngữ được khá nhiều học giả trên thế giới quan tâm nghiên cứu, đồng thời cũng tồn tại nhiều quan điểm khác nhau. Các hướng nghiên cứu tiêu biểu về tiếng lóng chủ yếu là nghiên cứu về mối quan hệ giữa các nhân tố xã hội tác động lên tiếng lóng, việc sử dụng tiếng lóng giữa các nhóm xã hội khác nhau như sinh viên đại học (David, 1994; Eble, 1996) [82] [87], y tế (David, 1983; Coombs và cộng sự, 1993; Fox và cộng sự, 2003) [83] [79] [93], giới tính và tiếng lóng (Forsskåhl, 2001; Redkozubova E.

Hiện tượng tiếng lóng của thanh niên hay tiếng lóng sinh viên là một vấn đề thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ từ xưa đến nay, khẳng định vai trò của giới trẻ trong xu hướng mới của ngôn ngữ, bởi “trong số tất cả các nhóm xã hội, giới trẻ là những người dễ nhất để sử dụng và cập nhật tiếng lóng một cách độc đáo. Họ thể hiện tính năng động xã hội rất lớn và có thể tiếp nhận những thay đổi trong thời trang, phong cách, cũng như trong ngôn ngữ. Giới trẻ tuy rất ít quyền lực 11 chính trị nhưng họ có thể sử dụng tiếng lóng như một công cụ phản văn hóa, như một cánh tay chống lại chính quyền và công ước”. Rodriguez (1994; [120]) trong bài viết “Youth and Student Slang in British and American English” đã nhận định như vậy.

Trên thực tế, mỗi thế hệ thanh niên sử dụng một loại tiếng lóng khác nhau - tiếng lóng thay đổi theo từng thế hệ (Dalzell, 2010). Ví dụ, tiếng lóng của các trường đại học Mỹ vào những năm 1850 bao gồm từ vựng và cụm từ khác với tiếng lóng của các trường đại học Mỹ vào những năm 1900 (Dalzell, 2010). Do đó, tiếng lóng là thứ phù du, giống như tuổi trẻ của những người thường sử dụng nó. Vì vậy, một trong những mục đích của việc sử dụng tiếng lóng là để loại trừ người ngoài cuộc và không để họ hiểu những gì người trong cuộc đang thảo luận hoặc lên kế hoạch (Burridge, 2004; [73]).

Theo nghĩa này, tiếng lóng là một ngôn ngữ được mã hóa mà người ngoài không thể hiểu được, và điều này được cho là “động cơ ban đầu của tiếng lóng”. Một số công trình tiêu biểu về tiếng lóng giới trẻ như “Kansas University Slang: A new generation” (Tiếng lóng trong trường đại học Kansas: Một thế hệ mới) của Dundes (1963; [85]), nghiên cứu về tiếng lóng của sinh viên trường đại học Kansas, tác giả đã xem xét tiếng lóng của sinh viên ở trường đại học như là một thế hệ mới trong ngôn ngữ. Đây cũng được coi là tác phẩm đánh dấu mốc quan trọng, đặt nền tảng cho việc nghiên cứu tiếng lóng trong các trường đại học. C (1996; [87]) trong cuốn sách “Slang and Sociability: In-Group Language among College Students” (Tiếng lóng và Tính Xã hội: Ngôn ngữ nội nhóm trong Sinh viên Đại học) đã bác bỏ quan điểm cho rằng tiếng lóng thường được coi là một dạng ngôn ngữ thấp hèn, một dạng ngôn ngữ đơn giản là không có ý nghĩa hoặc không quan trọng bằng ngôn ngữ thông thường.

Lí giải cho sự bác bỏ quan điểm này, tác giả đã phân tích nguồn gốc, chất thơ, tính biểu tượng và sự tinh tế của các cách diễn đạt bằng tiếng lóng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ "Đối Chiếu Từ Ngữ Lóng Tiếng Anh Và Tiếng Việt" mang đến cái nhìn sâu sắc về sự tương đồng và khác biệt giữa các từ ngữ lóng trong hai ngôn ngữ này. Tác giả không chỉ phân tích ngữ nghĩa và cách sử dụng của các từ lóng mà còn khám phá bối cảnh văn hóa và xã hội ảnh hưởng đến sự phát triển của chúng. Độc giả sẽ nhận được những lợi ích thiết thực từ việc hiểu rõ hơn về ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày, từ đó nâng cao khả năng giao tiếp và hiểu biết văn hóa.

Nếu bạn muốn mở rộng kiến thức về ngôn ngữ học, hãy tham khảo thêm Luận án tiến sĩ đặc điểm ngôn ngữ học của lời điều chỉnh trong hội thoại tiếng anh và tiếng việt, nơi bạn có thể tìm hiểu về cách điều chỉnh ngôn ngữ trong giao tiếp. Bên cạnh đó, Luận án hành động ngôn từ xin lỗi và hồi đáp trong hội thoại tiếng anh và tiếng việt sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các hành động ngôn từ trong giao tiếp. Cuối cùng, Khóa luận tốt nghiệp a study of english idioms denoting fear with reference to the vietnamese equivalents sẽ mở ra cho bạn một cái nhìn mới về thành ngữ trong tiếng Anh và tiếng Việt. Những tài liệu này sẽ giúp bạn khám phá sâu hơn về ngôn ngữ và văn hóa, từ đó nâng cao khả năng giao tiếp của mình.