Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ "Cú phân từ định ngữ, trạng ngữ tiếng Anh và các kết cấu tương đương trong tiếng Việt" của nghiên cứu sinh Hà Thành Chung, thực hiện năm 2007 tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Đoàn Thiện Thuật, thuộc chuyên ngành Lý luận ngôn ngữ (mã số: 62.01).

Trong tiếng Anh, cú phân từ (CPT - participle clause) là một kết cấu có động từ ở dạng phân từ làm trung tâm, thường đóng vai trò là thành tố phụ trong câu phức với các chức năng cú pháp như chủ ngữ, bổ ngữ, định ngữ hoặc trạng ngữ. Mặc dù xuất hiện với tần số cao trong văn phong học thuật, trang trọng và tác phẩm văn học, CPT trước đây chủ yếu được đề cập trong các tài liệu ngữ pháp miêu tả chung (A Comprehensive Grammar of the English Language của R. Quirk et al., Advanced Grammar in Use của M. Hewings, Longman English Grammar của L. Alexander, Practical English Usage của M. Swan). Các công trình này chưa thống nhất về định nghĩa, thuật ngữ và mới chỉ mô tả khái quát cấu trúc hoặc điều kiện xuất hiện theo ngữ pháp truyền thống, chưa tiếp cận toàn diện trên cả ba bình diện kết học (cú pháp), nghĩa học và dụng học.

Trong tiếng Việt, tuy không tồn tại dạng biến hình phân từ, nhưng ngôn ngữ này có các kết cấu tương đương có động từ làm trung tâm như "vị từ làm định ngữ" hay "vị ngữ thứ yếu/vị ngữ phụ", "trạng gia ngữ", "minh xác ngữ". Các kết cấu này mới chỉ được khảo sát sơ lược và còn nhiều quan điểm bất đồng giữa các nhà Việt ngữ học. Về mặt thực tiễn, người học tiếng Anh và dịch giả tại Việt Nam gặp nhiều khó khăn khi chuyển dịch CPT sang tiếng Việt, thường tạo ra các cấu trúc dịch gượng gạo (như dịch "heard by negotiators" thành "được nghe bởi các nhà thương thuyết" thay vì cách diễn đạt thuần Việt là "đến được tai các nhà thương thuyết"). Do đó, việc nghiên cứu có hệ thống và đối chiếu hai hệ thống cấu trúc này là khoảng trống khoa học cần giải quyết.

Mục tiêu tổng quát của luận án là xác định đặc điểm cấu trúc, ngữ nghĩa, ngữ dụng của CPT tiếng Anh và các kết cấu tương đương trong tiếng Việt, tìm ra các điểm tương đồng và dị biệt, đồng thời khảo sát thực trạng chuyển dịch để đề xuất các giải pháp dịch thuật tối ưu.

Luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về CPT tiếng Anh và các kết cấu tương đương trong tiếng Việt; xác lập hướng tiếp cận và cơ sở lý thuyết.
  2. Xác định, phân loại và mô tả đặc điểm cú pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng của CPT tiếng Anh và các kết cấu tương đương trong tiếng Việt.
  3. So sánh đối chiếu CPT tiếng Anh với các kết cấu tương đương trong tiếng Việt nhằm tìm ra các nét tương đồng và dị biệt trên các bình diện cú pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng.
  4. Khảo sát cách dịch CPT tiếng Anh sang tiếng Việt trong các tác phẩm văn học và đề xuất giải pháp xử lý dịch thuật.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là cú phân từ định ngữ (CPTĐN) và cú phân từ trạng ngữ (CPTTN) có một thành phần chính là động từ làm trung tâm trong tiếng Anh, cùng các kết cấu tương đương trong tiếng Việt là ngữ động từ định ngữ (NĐTĐN) và ngữ động từ trạng ngữ (NĐTTN). Luận án loại trừ:

  • Cú tuyệt đối (absolutes) gồm cả chủ ngữ và phân từ.
  • Các kết cấu phân từ đứng sau liên từ (although, if, unless), sau giới từ (after, before, since, on, in), kết cấu với it/there, và kết cấu đi cùng with/without.
  • Các dạng cú -ing mang chức năng danh từ (chủ ngữ, bổ ngữ trực tiếp, bổ ngữ giới từ).

Phạm vi nghiên cứu bao gồm:

  • Không gian và văn bản: Khảo sát đồng đại các tiểu thuyết tiêu biểu của các nhà văn Anh, Mỹ thế kỷ XIX và XX cùng các bản dịch tiếng Việt tương ứng; các tác phẩm văn học Việt Nam tiêu biểu từ giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay; ngữ liệu bổ trợ từ các văn phong khoa học, báo chí và khẩu ngữ.
  • Bình diện nghiên cứu: Khảo sát đồng đại, so sánh đối chiếu dấu hiệu và phân tích hoạt động chuyển dịch ngôn ngữ.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Nghiên cứu về CPT trong Anh ngữ học

Về CPTĐN (adjectival participle clause), các nhà nghiên cứu thống nhất nhận định CPTĐN hạn định là dạng rút gọn của cú quan hệ (CQH - reduced relative clause), hành chức như hậu bổ tố (postmodifier) trong cụm danh từ. Trường phái ngữ pháp cải biến - tạo sinh (C. J. Fillmore 1963; J. J. Katz & P. M. Postal 1964; N. Chomsky 1965; R. Huddleston 1979) gọi đây là bổ tố chêm (embedded modifiers) với hiện tượng chuyển đổi cấp độ (rank shift). Một số tác giả xếp kết cấu này ở cấp độ cú (participle clause - Quirk et al. 1985; Biber et al. 1999), số khác coi là cụm từ (participle phrase - B. S. Azar 2001), hoặc chỉ gọi là kết cấu phân từ thay thế cho CQH (participle constructions in place of relative clauses - L. Alexander 1988). T. Givón (1990) nghiên cứu sâu về quy chiếu danh từ, còn M. A. K. Halliday (1985, 2004) xác định quan hệ giữa CQH/CPTĐN với cú chính là quan hệ bành trướng chêm chi tiết hóa (embedded expansion: elaboration).

Về CPTTN (adverbial participle clause), các nghiên cứu giai đoạn 1930–1940 (O. Jespersen 1940; G. Curme 1947) gọi kết cấu này là phân từ đồng vị ngữ (predicate appositive/appositional participles) rút gọn từ cú trạng ngữ thời gian, nguyên nhân, điều kiện, phương thức. R. Quirk et al. (1972, 1985) định danh là cú bổ sung vô chủ (subjectless supplementive clause) và phân tích quy tắc gắn kết (attachment rule), các lỗi liên kết chủ ngữ rời rạc (unrelated/dangling participle) cùng xu hướng biểu đạt: động từ hành động (dynamic verbs) biểu thị thời gian, động từ trạng thái (stative verbs) biểu thị nguyên nhân. Chuyên luận đầu tiên về CPTTN do G. Stump công bố năm 1985 phân tích các yếu tố ngữ nghĩa - ngữ dụng quyết định mối quan hệ giữa trạng ngữ tự do và cú chính. Nghiên cứu toàn diện nhất thuộc về Bernd Kortmann (1991, 1995) với chuyên luận Free Adjuncts and Absolutes in English, phân tích chi tiết cơ chế kiểm soát chủ ngữ ẩn, các mức độ chấp nhận được của trạng ngữ tự do không liên quan (unrelated free adjuncts) và các nhân tố ngữ cảnh định hướng giải mã quan hệ ngữ nghĩa liên cú.

Nghiên cứu về kết cấu tương đương trong Việt ngữ học

Về NĐTĐN, Nguyễn Tài Cẩn (1970) khảo sát danh ngữ có động từ làm định tố và quy về dạng cú làm định tố; Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam (1983) xếp vào phụ tố hạn định khu vực sau của danh ngữ; Cao Xuân Hạo (1991) coi đây là định ngữ có dạng động ngữ chỉ hành động hoàn thành hoặc nhất điểm; Đinh Văn Đức (1986) phân tích cấu trúc danh ngữ mang "dáng dấp" mệnh đề và nhấn mạnh sự vắng mặt của quan hệ hình thái đòi hỏi phải dùng ngữ cảnh hoặc thao tác cải biến để phân biệt với vị ngữ; Diệp Quang Ban (1998, 2005) xếp vào định ngữ miêu tả hoặc tổ hợp từ thực hiện chức năng chỉ định hạn định.

Về NĐTTN, kết cấu có động từ đứng đầu câu xuất hiện từ đầu thế kỷ XX trong văn học chữ quốc ngữ. Nguyễn Kim Thản (1977, 1997), Hoàng Trọng Phiến (1980), Diệp Quang Ban (1989, 2005) xếp vào trạng ngữ tình thái, trạng ngữ chỉ tình hình hoặc trạng gia ngữ, đồng thời Nguyễn Kim Thản nhận định kết cấu này chịu ảnh hưởng từ trạng động từ trong các ngôn ngữ Ấn - Âu. Ngược lại, Hoàng Tuệ (1962), M. Buxtrôp, Nguyễn Tài Cẩn, N. Xtankêvich (1987), Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn Văn Hiệp (1998) coi đây là "vị ngữ thứ yếu" hay "vị ngữ phụ". Đào Thanh Lan (2002) theo hướng tiếp cận của Lưu Văn Lăng gọi là "minh xác ngữ".

Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết

Trước luận án này, chưa có công trình nào tiến hành so sánh đối chiếu hệ thống giữa CPT tiếng Anh và các ngữ động từ tương đương trong tiếng Việt trên cả 3 bình diện kết học, nghĩa học và dụng học, đồng thời gắn liền lý luận ngôn ngữ học đối chiếu với thực tiễn phân tích lỗi và giải pháp dịch thuật văn học.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết

Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên 8 lý thuyết ngôn ngữ học:

  1. Nguyên lý nỗ lực ít nhất và Nguyên lý tiết kiệm: "Nguyên lý nỗ lực ít nhất" (Principle of Least Effort) của G. K. Zipf (1949) và "Nguyên lý tiết kiệm" của André Martinet (1960, 1963) khẳng định hoạt động ngôn ngữ luôn hướng tới việc tối thiểu hóa năng lượng phát âm và trí lực ghi nhớ nhưng vẫn đạt hiệu quả giao tiếp. Trường phái Tân Grice (J. M. Sadock; S. C. Levinson 1987, 2000; J. D. Atlas & S. C. Levinson 1981) cụ thể hóa thành sự tương tác giữa Lực hợp nhất hướng về người nói (Force of Unification - tối thiểu hóa biểu đạt) và Lực đa dạng hướng về người nghe (Force of Diversification - tối đa hóa suy luận). Sự rút gọn cú pháp (hồi chiếu zêrô / zero anaphora) kích thích người tiếp nhận suy luận tối đa để chọn cách diễn giải cụ thể nhất.
  2. Ngữ pháp ngữ nghĩa của Wallace L. Chafe (1970): Khái niệm "mối quan hệ ngữ nghĩa bộ phận" (partitive semantic relation) thu hẹp trường nghĩa của danh từ từ tổng thể xuống tiểu nhóm xác định; luận điểm về sự tương thích giữa đặc trưng danh từ (chung/riêng, hạn định/không hạn định) và động từ (hành động/trạng thái), giải thích cơ sở lược bỏ đại từ quan hệ và động từ be trong cấu trúc nổi.
  3. Ngữ pháp truyền thống về CPT (R. Quirk, S. Greenbaum, G. Leech, J. Svartvik 1972, 1985): Phân loại cú vô định -ing và -ed, quy tắc gắn kết (attachment rule), sự bất định ngữ nghĩa liên cú giữa quan hệ thời gian và quan hệ nguyên nhân.
  4. Ngữ pháp chức năng hệ thống của M. A. K. Halliday (1985, 2004): Khung phân tích câu phức qua mức độ phụ thuộc (taxis: parataxis - đồng đẳng, hypotaxis - phụ thuộc) và quan hệ lôgic - ngữ nghĩa (logico-semantic relations: expansion - bành trướng, projection - phóng chiếu). CPT thuộc quan hệ phụ thuộc bành trướng, gồm hai tiểu loại: bành trướng chêm chi tiết hóa (embedded elaboration đối với CPTĐN) và bành trướng không đánh dấu hiển ngôn (enhancing/extending đối với CPTTN).
  5. Lý thuyết loại hình học - chức năng của T. Givón (1984, 1990): Khung phân tích tính mạch lạc liên cú, chuỗi quy chiếu của danh từ và sự tương quan của bộ ba thời - thể - tình thái (tense-aspect-modality).
  6. Lý thuyết phân biệt cận cảnh - hậu cảnh của Paul J. Hopper (1979): Cận cảnh (foreground) mang các sự kiện nòng cốt theo trật tự phỏng hình (iconicity) dùng động từ hữu định; hậu cảnh (background) bổ trợ, giải thích, duy trì trạng thái dùng động từ vô định (CPT).
  7. Quan điểm ngữ dụng học về quy chiếu: Các luận điểm của George Yule (1996) và Georgia M. Green về cơ chế đồng quy chiếu và suy luận ngữ cảnh.
  8. Mô hình đánh giá chất lượng bản dịch của Juliane House (1977, 1997): Đánh giá độ tương đương chức năng và mức độ chuyển dịch phong cách giữa nguyên bản tiếng Anh và văn bản dịch tiếng Việt.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp miêu tả: Miêu tả đồng đại hai hệ thống cấu trúc ngôn ngữ trên các bình diện kết học, nghĩa học và dụng học dựa trên ngữ pháp hiện đại.
  • Phương pháp đối chiếu: Đối chiếu dấu hiệu trên 4 bình diện: phạm trù ngữ pháp, hệ thống cấu trúc, chức năng hoạt động và phong cách chức năng nhằm xác định các nét tương đồng và dị biệt.
  • Phương pháp thống kê: Tập hợp, phân loại ngữ liệu, tính toán tần số xuất hiện của CPTĐN, CPTTN, NĐTĐN, NĐTTN trong các thể loại ngôn bản (văn học, khoa học, báo chí, hành chính) và thống kê tỷ lệ các phương án dịch thuật thực tế.

Nguồn tư liệu nghiên cứu

  1. Ngữ liệu tiếng Anh: Các CPT trích xuất từ tác phẩm văn học Anh - Mỹ tiêu biểu thế kỷ XIX và XX (nguyên bản) cùng các văn bản báo chí, khoa học.
  2. Ngữ liệu tiếng Việt: Các NĐT tương đương trong tác phẩm văn học Việt Nam từ trước 1945 đến nay và các bản dịch tiếng Việt từ tác phẩm Anh - Mỹ của các dịch giả Việt Nam.
  3. Tư liệu nghiên cứu lý thuyết từ các công trình chuyên khảo trong và ngoài nước.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Chương 1 hệ thống hóa các vấn đề lý luận về CPT tiếng Anh và các kết cấu tương đương trong tiếng Việt:

  • Xác lập tiêu chí nhận diện CPT tiếng Anh dựa trên 3 đặc trưng: hình thái (động từ dạng phân từ -ing hoặc -ed), cấu trúc (có chủ ngữ ẩn có khả năng phục nguyên), chức năng (định ngữ hoặc trạng ngữ).
  • Xác định tiêu chí nhận diện NĐT tiếng Việt: tổ hợp từ chính - phụ có động từ làm trung tâm, đứng sau danh từ (NĐTĐN) hoặc đứng trước nòng cốt câu (NĐTTN), phân biệt với cụm chủ vị làm định ngữ, trạng ngữ tính từ và ngữ động từ làm vị ngữ/chủ ngữ.
  • Phân tích chi tiết 8 cơ sở lý thuyết nền tảng phục vụ cho các chương phân tích thực nghiệm tiếp theo.

Chương 2: CÚ PHÂN TỪ ĐỊNH NGỮ TIẾNG ANH VÀ NGỮ ĐỘNG TỪ ĐỊNH NGỮ TIẾNG VIỆT

Chương 2 khảo sát cấu trúc, ngữ nghĩa, ngữ dụng của CPTĐN tiếng Anh và NĐTĐN tiếng Việt:

  • CPTĐN tiếng Anh: Khảo sát điều kiện rút gọn từ CQH sang CPTĐN. Phân loại CPTĐN hạn định (không ngăn cách bởi dấu phẩy, làm hậu bổ tố) và không hạn định (ngăn cách bởi dấu phẩy, mang sắc thái bổ sung thông tin). Phân tích mối quan hệ giữa động từ trung tâm (động từ hành động/trạng thái) và danh từ trung tâm (hạn định/không hạn định, chung/riêng).
  • NĐTĐN tiếng Việt: Nhận diện NĐT đứng sau danh từ bổ nghĩa cho danh từ đó. Phân tích đặc điểm kết học, khả năng kết hợp giữa danh từ và NĐTĐN, đặc điểm ngữ nghĩa liên cú và tần số sử dụng qua các văn phong.
  • So sánh đối chiếu: Luận án xây dựng sơ đồ tương quan giữa CQH, CPT tiếng Anh và NĐT tiếng Việt. Điểm tương đồng là cả hai đều thực hiện chức năng hạn định hoặc miêu tả cho danh từ đứng trước, biểu thị đặc trưng lâm thời. Điểm dị biệt nằm ở phương tiện hình thái: tiếng Anh phân định chủ động (-ing) và bị động (-ed), trong khi tiếng Việt là ngôn ngữ không biến hình, ranh giới giữa danh ngữ chứa NĐTĐN và câu hoàn chỉnh phụ thuộc vào ngữ cảnh và cấu trúc ngữ đoạn.

Chương 3: CÚ PHÂN TỪ TRẠNG NGỮ TIẾNG ANH VÀ NGỮ ĐỘNG TỪ TRẠNG NGỮ TIẾNG VIỆT

Chương 3 tập trung phân tích CPTTN tiếng Anh và đối chiếu với NĐTTN tiếng Việt:

  • CPTTN tiếng Anh: Phân loại theo hình thái (-ing, -ed, having + V-ed), vị trí (đầu câu, giữa câu, cuối câu). Phân tích quan hệ ngữ nghĩa - lôgic với cú chính (thời gian, nguyên nhân, điều kiện, nhượng bộ, phương thức, cảnh huống đi kèm) dựa trên khung lý thuyết bành trướng tăng cường của Halliday. Phân tích mạch lạc quy chiếu (quy tắc đồng chủ ngữ) và mạch lạc thời - thể; khảo sát các trường hợp chủ ngữ ẩn không đồng nhất nhưng được chấp nhận trong ngữ cảnh.
  • NĐTTN tiếng Việt: Khảo sát các tổ hợp động từ đứng đầu câu làm trạng ngữ, mối liên kết ngữ nghĩa với cú chính, mạch lạc quy chiếu và thời thể.
  • Thống kê và đối chiếu: Khảo sát tần số xuất hiện của CPTTN trong văn học Anh, Mỹ và so sánh với NĐTTN trong văn học Việt Nam. Kết quả chỉ ra cả hai cấu trúc đều thuộc dòng chuyện hậu cảnh, đóng vai trò tạo nền, định vị thời gian hoặc giải thích lý do cho sự kiện cận cảnh ở cú chính.

Chương 4: CÁCH DỊCH CÚ PHÂN TỪ TIẾNG ANH SANG TIENG VIỆT

Chương 4 khảo sát thực trạng và giải pháp chuyển dịch CPT tiếng Anh sang tiếng Việt trong các tác phẩm văn học:

  • Khảo sát lỗi dịch thuật: Nhận xét các lỗi phổ biến của dịch giả như dịch thô cứng cấu trúc bị động (được/bị), bỏ sót quan hệ lôgic ngầm ẩn, hoặc phá vỡ cấu trúc câu tiếng Việt.
  • Phương thức chuyển dịch CPTĐN:
    • CPTĐN không hạn định: Chuyển thành cú phụ đặt giữa dấu phẩy, cú ghép vị ngữ, hoặc tách thành câu độc lập.
    • CPTĐN chủ động hạn định: Dịch trực tiếp thành NĐT đứng sau danh từ, hoặc bổ sung từ nối quan hệ (mà, đang).
    • CPTĐN bị động hạn định: Chuyển thành cấu trúc chủ động, dùng NĐT thuần Việt hoặc thêm từ chỉ thể (được/bị/do khi cần thiết).
  • Phương thức chuyển dịch CPTTN:
    • CPTTN đứng trước cú chính: Chuyển thành NĐTTN tiếng Việt tương đương, hoặc hiển ngôn hóa kết từ chỉ quan hệ lôgic (Khi, Sau khi, Vì, Do, Mặc dù).
    • CPTTN dạng bị động, chủ động diễn tiến, chủ động hoàn thành: Sử dụng các phương tiện chỉ thời - thể tiếng Việt (đã, đang, vừa... thì).
    • CPTTN đứng sau cú chính: Dịch thành vị ngữ thứ hai trong chuỗi hành động kế tiếp hoặc bổ ngữ trạng thái.
    • Xử lý các nhóm đặc biệt: CPT có động từ liên quan đến bộ phận cơ thể và CPT trong câu dẫn thoại.

Tổng hợp danh mục bảng và sơ đồ trong luận án

Dữ liệu khảo sát định lượng và mô hình hóa trong luận án được tổ chức qua hệ thống các bảng và sơ đồ sau:

Ký hiệu Nội dung bảng / sơ đồ theo văn bản
Bảng 1.1 Các mối tương quan giữa thời-thể-tình thái và tiền cảnh/hậu cảnh của ngôn bản
Bảng 2.1 CQH bị động hạn định rút gọn thành CPTĐN bị động hạn định
Bảng 2.2 CPTĐN trong tác phẩm văn học thuộc các giai đoạn khác nhau
Bảng 2.3 CPTĐN trong các văn phong khác nhau
Bảng 2.4 NĐTĐN trong các tác phẩm văn học
Bảng 2.5 NĐTĐN trong các văn phong khác nhau
Bảng 3.1 Cú trạng ngữ rút gọn thành CPTTN
Bảng 3.2 Những dấu hiệu chính của các cú tăng cường phụ thuộc
Bảng 3.3 Phân bố CPTTN trong các loại ngôn bản khác nhau
Bảng 3.4 CPTTN trong các tác phẩm văn học Anh, Mỹ
Bảng 3.5 Phân bố các loại CPTTN trong các tác phẩm văn học Anh, Mỹ
Bảng 3.6 Thống kê NĐTTN trong các tác phẩm văn học
Bảng 3.7 NĐTTN trong các văn phong khác nhau
Bảng 3.8 So sánh tần số xuất hiện của NĐTTN và CPTTN
Bảng 3.9 NĐTTN trong các tác phẩm văn học Việt Nam
Bảng 3.10 Các mối liên kết ngữ nghĩa giữa CPTTN/NĐTTN và cú chính
Sơ đồ 1 Mối tương quan giữa CQH, CPT tiếng Anh và NĐT tiếng Việt
Sơ đồ 2 Các cách dịch CPTĐN và CPTTN sang tiếng Việt

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Hệ thống hóa toàn diện các kiến giải của Anh ngữ học và Việt ngữ học về CPT tiếng Anh và các kết cấu tương đương trong tiếng Việt dựa trên nguồn ngữ liệu gốc.
  2. Vận dụng tổng hợp các lý thuyết ngôn ngữ học hiện đại (Nguyên lý tiết kiệm, Ngữ pháp ngữ nghĩa Chafe, Ngữ pháp chức năng Halliday, Lý thuyết tiền cảnh - hậu cảnh Hopper) để luận giải cơ chế hình thành, điều kiện xuất hiện và cách vận hành của CPTĐN, CPTTN, NĐTĐN, NĐTTN trên cả ba bình diện kết học, nghĩa học và dụng học.
  3. Xác lập mô hình đối chiếu hệ thống giữa hai ngôn ngữ thuộc hai loại hình khác nhau (ngôn ngữ hòa kết biến hình - tiếng Anh và ngôn ngữ đơn lập không biến hình - tiếng Việt) ở cấp độ kết cấu dưới câu có động từ làm trung tâm.
  4. Áp dụng lý thuyết dịch thuật hiện đại để xây dựng khung phân tích, đánh giá chất lượng bản dịch và xác lập quy trình chuyển dịch khoa học cho các kết cấu phân từ.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Ứng dụng trong giảng dạy: Kết quả nghiên cứu được ứng dụng trực tiếp vào chương trình giảng dạy tiếng Anh như một ngoại ngữ, trọng tâm là môn Lý thuyết dịch và Thực hành dịch cho sinh viên chuyên ngành tiếng Anh năm thứ 3 và năm thứ 4 tại Khoa Ngoại ngữ Quân sự (nay là Học viện Khoa học Quân sự) và các cơ sở đào tạo ngoại ngữ khác.
  2. Ứng dụng trong dịch thuật văn học: Cung cấp hệ thống giải pháp kỹ thuật cho các dịch giả nhằm chuyển dịch chính xác các câu phức chứa CPT tiếng Anh sang tiếng Việt, đảm bảo tính chuẩn xác ngữ nghĩa, giữ vững phong cách nguyên tác đồng thời đạt được cách diễn đạt tự nhiên, trong sáng và thuần Việt.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu

Luận án xác định các giới hạn phạm vi nghiên cứu cụ thể như sau:

  • Không khảo sát cú tuyệt đối (absolutes) gồm cả chủ ngữ hiển ngôn và phân từ.
  • Không nghiên cứu các kết cấu phân từ có liên từ phụ thuộc đứng đầu (although, if), đi sau giới từ (after, before, on, in), kết cấu với with/without, và kết cấu phân từ tồn tại đi kèm it/there.
  • Không khảo sát các dạng -ing có chức năng danh từ (chủ ngữ, bổ ngữ trực tiếp, bổ ngữ giới từ).
  • Trong tiếng Việt, không mở rộng sang các dạng trạng ngữ tình thái có trung tâm là tính từ song âm tiết hoặc kết cấu chủ - vị đứng đầu câu, cũng như không khảo sát cú định ngữ có chủ ngữ riêng biệt.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng nghiên cứu đối chiếu sang kết cấu cú tuyệt đối (absolute constructions) trong tiếng Anh và các phương thức biểu đạt tương đương trong tiếng Việt.
  • Khảo sát các dạng danh động từ và cú danh từ hóa có gốc động từ trên bình diện ngữ pháp chức năng và loại hình học.
  • Nghiên cứu ứng dụng xử lý CPT và các kết cấu tương đương trong công nghệ dịch máy và ngôn ngữ học tính toán.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên sâu cho các nhóm đối tượng và mục đích sau:

  1. Nghiên cứu sinh và học viên cao học ngành Lý luận ngôn ngữ, Ngôn ngữ học so sánh - đối chiếu: Tham khảo khung phân tích kết hợp giữa ngữ pháp ngữ nghĩa, ngữ pháp chức năng hệ thống và lý thuyết dụng học; phương pháp luận đối chiếu dấu hiệu giữa hai ngôn ngữ khác loại hình.
  2. Giảng viên và sinh viên chuyên ngành Tiếng Anh (đặc biệt sinh viên năm 3 và năm 4): Sử dụng các chương 2, 3 và 4 làm tài liệu học tập, giảng dạy các học phần Ngữ pháp nâng cao, Ngữ pháp học văn bản, Lý thuyết dịch và Thực hành dịch Anh - Việt.
  3. Dịch giả và biên tập viên văn học: Tham khảo hệ thống phân loại ngữ nghĩa liên cú tại Chương 3 và các quy tắc chuyển dịch thuần Việt tại Chương 4 để nâng cao chất lượng biên dịch các tác phẩm văn học từ tiếng Anh sang tiếng Việt.

Câu hỏi thường gặp

1. Cú phân từ (CPT) tiếng Anh được nhận diện dựa trên những tiêu chí nào trong luận án?

Theo luận án, CPT định ngữ và trạng ngữ được nhận diện dựa trên 3 tiêu chí:

  • Về hình thái: Có động từ ở dạng phân từ hiện tại (-ing) hoặc phân từ quá khứ (-ed) làm trung tâm.
  • Về cấu trúc: Có chủ ngữ ẩn (chủ ngữ ngầm hiểu) và chủ ngữ này có khả năng phục nguyên trong ngữ cảnh.
  • Về chức năng: Đóng vai trò làm định ngữ (CPTĐN) hoặc trạng ngữ (CPTTN) trong câu.

2. Tiếng Việt không có biến hình phân từ, vậy luận án xác định kết cấu tương đương là gì?

Luận án xác định các kết cấu tương đương trong tiếng Việt là các ngữ động từ (đoản ngữ động từ) có quan hệ chính phụ, gồm:

  • Ngữ động từ định ngữ (NĐTĐN): Đứng sau và bổ nghĩa cho danh từ (tương đương CPTĐN).
  • Ngữ động từ trạng ngữ (NĐTTN): Đứng trước nòng cốt câu, ngăn cách bằng dấu phẩy và làm trạng ngữ (tương đương CPTTN).

3. Nguyên lý tiết kiệm và Nguyên lý nỗ lực ít nhất giải thích hiện tượng rút gọn CPT như thế nào?

Theo luận án, dựa trên nguyên lý của G. Zipf, A. Martinet và sự phát triển của S. C. Levinson:

  • Người nói/người viết tối thiểu hóa biểu đạt ngôn từ bằng cách rút gọn đại từ quan hệ, liên từ và trợ động từ (hồi chiếu zêrô) để tiết kiệm năng lượng phát ngôn.
  • Sự tối thiểu hóa hình thức kích thích người nghe/người đọc tối đa hóa suy luận ngữ dụng dựa trên ngữ cảnh để xác định chính xác mối liên kết ngữ nghĩa liên cú mang nhiều thông tin nhất.

4. Mối quan hệ giữa CPTTN và cú chính được phân loại theo ngữ pháp chức năng của Halliday ra sao?

Theo khung lý thuyết của M. A. K. Halliday, CPTTN liên kết với cú chính theo quan hệ phụ thuộc (hypotaxis) và thuộc dạng bành trướng (expansion) không đánh dấu hiển ngôn, bao gồm:

  • Chi tiết hóa (elaboration): Cụ thể hóa, giải thích thêm cho cú chính.
  • Mở rộng (extension): Bổ sung hành động diễn ra đồng thời hoặc kế tiếp.
  • Tăng cường (enhancement): Bổ nghĩa chu cảnh chỉ thời gian, nguyên nhân, điều kiện hoặc nhượng bộ.

5. Dịch giả thường gặp lỗi gì khi dịch CPT sang tiếng Việt và luận án đề xuất giải pháp nào?

Lỗi phổ biến là dịch phụ thuộc máy móc vào cấu trúc hình thức tiếng Anh (như lạm dụng từ "bị/được" đối với phân từ quá khứ, biến câu tiếng Việt thành cấu trúc thụ động gượng gạo). Luận án đề xuất giải pháp:

  • Với CPTĐN: Chuyển thành cấu trúc chủ động thuần Việt, đưa NĐT đứng trực tiếp sau danh từ hoặc sử dụng các động từ chỉ sự tiếp nhận thích hợp.
  • Với CPTTN: Xác định chính xác quan hệ ngữ nghĩa - lôgic ngầm ẩn để hiển ngôn hóa kết từ phù hợp (khi, vì, mặc dù), hoặc dịch thành một vị ngữ độc lập trong chuỗi hành động kế tiếp.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Hà Thành Chung là công trình nghiên cứu hệ thống về cú phân từ tiếng Anh và các ngữ động từ tương đương trong tiếng Việt trên cả ba bình diện cú pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng. Bằng việc kết hợp các khung lý thuyết ngữ pháp hiện đại và phương pháp so sánh đối chiếu dấu hiệu, luận án đã làm sáng tỏ cơ chế vận hành, bản chất hậu cảnh và các mối liên kết ngữ nghĩa ngầm ẩn của các kết cấu này trong hai ngôn ngữ. Kết quả nghiên cứu mang lại giá trị lý luận cho ngôn ngữ học đối chiếu Anh - Việt, đồng thời cung cấp các giải pháp cụ thể phục vụ trực tiếp công tác giảng dạy biên phiên dịch và thực tiễn dịch thuật văn học.