CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ THUYET 1. Khái niệm “phụ âm” Phụ âm được các nhà ngôn ngữ học định nghĩa theo nhiều cách khác nhau: - Theo Đoàn Thiện Thuật [7, tr. 39], phụ âm là những âm có đặc trưng cơ bản là sự cấu tạo bằng luồng không khí bị cản trở, song sự cản trở ấy được diễn ra với mức độ khác nhau, tức là bằng những cách khác nhau và ở những bộ phận khác nhau của bộ máy cấu âm. - Theo Lê Quang Thiêm [6, tr.
95]: “Phu âm là những âm được phát ra bị một can trở nào đó, như qua khe hở của đây thanh, sự tiếp xúc của lưỡi với răng, sự khép chặt của môi. làm cho tiếng phát ra không dễ nghe, không êm tai, có tiếng động, tan số không 6n định.” - Theo Pietro Maturi [11, tr. 46]: Phu âm là “bất cứ âm tố nào được kích hoạt bởi một nguồn tiếng ôn trong bộ máy cầu âm phía trên thanh quản. ”6 Từ các định nghĩa trên, ta có thể rút ra được khái niệm của phụ âm, đó là âm thanh được tạo ra bởi sự cản trở không khí trong quá trình cấu âm của nó.
(“Sự cản trở không khí” tuy không được đề cập tới trong định nghĩa của Maturi như của hai tác giả người Việt, nhưng ông lại có nhắc đến “tiếng ồn”, mà cơ chế cau tạo tiếng ồn chính là do sự cản trở không khí gây ra. Cơ chế cấu tạo phụ âm Phu âm là một trong những âm vi đoạn tính. Dac điểm chung nhất và cơ bản nhất của cơ chế cấu tạo phụ âm là cơ chế cấu tạo tiéng ổn (hay tiếng động). Theo cơ chế ấy, phụ âm sẽ được tạo ra bởi luồng không khí từ phổi đi lên và thoát ra ngoài gặp cản trở hoàn toàn hoặc một phân tai một vi trí nào 6 [.] qualunque fono che preveda l'attivazione di una fonte di rumore nel tratto fonatorio al di sopra della laringe đó, bởi một cách nào đó, thí dụ như sự tiếp xúc sốc lưỡi với ngạc mềm (như khi tạo ra các phụ âm /k/, /n/, /y/, /y/), sự tiếp xúc mặt lưỡi với ngạc cứng (như khi tạo ra các phụ âm /p/, /c/), sự tiếp xúc của đầu lưỡi với răng (như khi tao ra các phụ âm /t/, /d/, /n/, /1/), sự khép chat của hai môi (như khi tạo ra các phụ âm /m/, /b/), v.v Khi đó, luồng hơi phải tăng áp lực đủ dé phá vỡ sự cản đó dé thoát ra ngoài, tạo nên một tiếng cọ xát hay một tiếng nô [7, tr.
Cơ sở phân loại phụ âm Phương thức cấu âm, vị trí cấu âm và tính thanh là những mặt quan trọng hàng đầu dé nhận diện và miêu tả phụ âm. Nhận ra những nét đặc trưng về phương thức cấu âm của một phụ âm nao đó là chúng ta nhận biết được khi cấu âm phụ âm này, luồng hơi từ phối đi lên bị cản trở như thế nào, băng cách thức nào, bị cản trở hoàn toàn hay một phan. Nhận ra những nét đặc trưng về mặt vị tri cấu âm của một phụ âm nào đó là chúng ta nhận biết được phụ âm ay được cấu tao ở vị trí nào trong bộ máy cau âm. Nói cách khác là ta biết được khi câu âm phụ âm này, luồng hơi từ phổi đi lên bị cản trở ở chỗ nào, cản trở bằng những bộ phận nào của bộ máy cấu âm trước khi thoát ra ngoài.
Nhận ra những nét đặc trưng về tinh thanh của một phụ âm nào đó là chúng ta nhận biết được khi cấu âm phụ âm này dây thanh có rung động do luồng hơi đi từ phối lên hay không. Nếu có, phụ âm ấy được coi là có tính thanh và gọi là phụ âm hữu thanh. Nếu không, phụ âm ấy được coi là không có tính thanh và gọi là phụ âm vô thanh. Những đặc trưng phân loại phụ âm trình bày sau đây được chúng tôi tham khảo và tổng hợp chủ yếu từ các nguồn tài liệu viết băng tiếng Việt và tiếng Italia, đó là: Ngữ âm tiếng Việt [7]; Dân luận ngôn ngữ hoc [5]; Ï suoni delle lingue, i suoni dell’italiano: nuova introduzione alla fonetica’ [11].
7 tạm dịch: Am thanh cua ngôn ngữ, âm thanh của tiếng Italia: dẫn luận ngữ âm hoc 1. Những đặc trưng phân loại theo phương thức cấu âm e Phụ âm tắc Phương thức cấu âm tắc là phương thức can trở hoàn toàn luồng hơi từ phôi đi lên tại một vi trí nao đó của bộ máy cấu âm (trong khi lưỡi con co lên, khép kín lối thông lên đằng mũi) rồi buông lỏng đột ngột để nó thoát ra, phát thành âm nghe như một tiếng nỗ nhẹ. Phu âm tac là phụ âm được cau âm bang phương thức tắc. Tiếng Italia có các âm tắc như /p, b, t, d, k, g,.1: Phương thức cấu âm tắc (Nguồn: [11, tr.
37]) e Phu âm mũi (hay tdc-mii) Trong số các âm được cau âm bằng phương thức tắc, không phải là nét đặc trưng tắc biểu hiện đồng đều ở tất cả các âm. Có một số âm có luồng hơi bị cản trở hoàn toàn ở khoang miệng nhưng lưỡi con lại buông xuống, mở đường cho luồng hơi thoát ra tự do qua khoang mũi. Những âm được cấu âm theo cách này được gọi là âm tắc-mũi (hay âm mãi). Vi dụ như các âm /m/, /n/, /p/ trong tiếng Italia (mirare, Napoli, gnocchi) và các âm /m/, —+> /n/, /n/, /q/ trong tiếng Việt (má, nâu, nhà, ngõ).2: Phương thức cấu âm mũi (Nguồn: [11, tr.
38]) e Phu âm xát Phương thức cấu âm xát là phương thức cản trở một phần, làm cho luồng hơi từ phổi đi lên phải thoát qua một khe hở hẹp tại một vi trí nào đó của bộ máy cầu âm dé ra ngoài. Luồng hơi phải lách qua nên cọ xát vào thành khe hep tạo nên một âm nghe như tiếng xát. Phu âm xát là phụ âm được cau âm bằng phương thức xát. Có thé kế đến các âm xát /f/, /v/, /l/, /s/ trong tiếng Việt (các từ phai, vòng, lượn, sóng) và /f/, /s/, /f/ trong tiếng Italia (các từ fallire, Stare, SCiSSa).3: Phuong thức cau âm xát (Nguồn: [11, tr.
37]) e Phu âm tắc-xát Trong một số ngôn ngữ có những âm được cấu tạo theo cách vừa tắc, vừa xát, gọi là phụ âm tắc-xát. Dé cẫu âm các xu âm này, trước hết, luồng hơi từ phổi đi lên bị cản trở hoàn toàn tại một vị trí cấu âm nào đó, tạo nên tính chất tắc rồi tiếp tục thoát ra ngoài theo cách như cau âm một âm xát. Những âm /ts, tf, dz, d3/ cua tiéng Italia (trong các tw azione, ciabatta, mezzo, giallo) là các phụ âm tắc-xát. Tiếng Việt không có phụ âm tắc-xát.4: Phương thức cấu âm tắc-xát (Nguồn: [11, tr.
38]) e Phụ âm bên (hay xát-bên) Đặc trưng cấu âm bên thể hiện ở chỗ: đầu lưỡi tiếp xúc với răng, lợi hoặc lợi-ngạc để cản trở luồng hơi trên đường thoát ra, buộc nó phải thoát ra qua khe hở tạo thành giữa hai bên rìa lưỡi với mặt trong của hai bên má. Phụ âm có đặc trưng cầu âm “bên” như vậy được gọi là phụ âm bên (như các âm /I, A/ tiếng Italia trong từ flessibile, gli và âm // của tiếng Việt trong từ long lanh, lấp —> lánh).5: Phương thức cấu âm bên (Nguồn: [11, tr. 39]) e Phu âm rung Phuong thức cấu âm rung là phương thức can trở luồng hơi từ phôi đi lên tại vi trí nào đó của bộ máy cầu khuùờnh âm, nhưng luồng hơi thoát qua rồi tiếp đó lại bị chặn lại, rồi lại thoát qua, cứ thé liên tục, làm cho khí quan cấu âm (lưỡi hoặc lưỡi con) rung liên tục trong quá trình cau âm. Phụ âm được tạo thành bởi cách này được gọi là phụ âm rung.
Âm /r/ tiếng Italia là âm rung duy nhất, trong rabbia, rendere. Âm /t/ của tiếng Việt trong cách phát âm ở một số địa phương (ví dụ âm /z trong những từ như rực ro, rộn ràng,.) cũng là âm rung.6: Phương thức cau âm rung (Nguồn: [1 1, tr. Những đặc trưng phân loại theo vị trí cấu âm e Phu âm môi-môi (hay hai môi) Khi cấu âm phụ âm môi-môi, hai môi khép lại, cản trở hoàn toàn luồng hơi rồi lại mở ra đột ngột và nhanh tạo nên tiếng động như tiếng no nhẹ. Ví dụ như các âm /b, m/ của cả tiếng Italia (trong bianca, Bibbia, madre, morire) va tiêng Việt (trong bd, bà, me, mây) đêu là các âm môi-mÔôi.7: VỊ trí câu âm môi-môi (Nguồn: [11, tr.
41]) Khi cau âm phụ âm môi-răng, môi đưới và răng cửa trên chạm vào nhau tạo thành khe hep làm cho luéng hơi thoát qua các khe răng một cách khó khăn (bị cản trở một phan). Vi dụ, âm /f/ của tiếng Việt trong từ phảng phát, phanh phui, của tiếng Italia trong từ farfalla, francese,.; hay âm /v/ trong vui vẻ, văn vo của tiêng Viét, trong vento, vasca của tiêng Italia,. cm lãi Et a W§ Hình 1.8: Vị trí cau âm môi-răng A (Nguồn: [11, tr. 41]) e Phu âm răng (hay lợi) Phu âm răng là những phụ âm mà khi cau âm, đầu lưỡi tiếp xúc với phần chân răng hàm trên, hoặc cao hơn một chút, với phần lợi giáp với chân răng, dé can trở luồng hơi.
Chang hạn: các âm /t, d/ có trong cả tiếng Việt (tan, tac, đọc, đữa,.) và Italia (tigre, tenda, dama, đire,.) đều là phụ âm răng.9: Vị trí cấu âm lợi (Nguồn: [11, tr. 41]) e Phu âm quặt lưỡi Phụ âm quặt lưỡi là phụ âm mà khi cau âm, đầu lưỡi nâng cao và uốn quặt về phía sau để mặt dưới của đầu lưỡi chạm vào phần giữa lợi (của hàm răng trên) và ngạc, tạo nên vật cản luồng hơi. Ví dụ: các âm /s, t/ của tiếng Việt trong các từ sau, sẽ, frâu, trắng; hay âm /f/ của tiếng Italia trong scimmia, Sciare. re EN Hình 1.10: Vị trí cau âm quặt lưỡi /\ (Nguồn: [11, tr.
42]) e Phu 4m ngac (hay ngac cung) Những phụ âm mà khi cau âm, mặt lưỡi nâng lên, uốn cong về phía ngạc cứng dé tạo thành vật can luồng hơi, được gọi là phu âm ngạc. Có thé kê tới âm /p/ trong nhii, nhac của tiếng Việt, trong ogni, gnocchi của tiếng Italia.11: Vị trí cấu âm ngạc (Nguồn: [11, tr. 42]) e Phu âm mạc (hay ngac mém) Những phụ âm ma khi cấu âm, mặt lưỡi sau tiếp xúc với phần mạc hoặc chạm vào lưỡi con để tạo nên vật cản luồng hơi, được gọi là phụ âm mạc (cũng có khi được gọi là âm ngạc mêm hay âm gốc lưỡi). Ví dụ như âm /k/ của tiêng Việt (cây coi, canh cá) và tiêng Italia (caro, chiaro).12: Vị trí cau âm mạc (Nguồn: [11, tr.