Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CÁC VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI Trong chương này, luận án trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến MĐQH và trình bày các quan điểm lý thuyết có liên quan, qua đó hình thành khung lý thuyết cho nghiên cứu của luận án. Các nội dung lý thuyết bao gồm những lý luận chung về mệnh đề phụ và MĐQH, lý luận về đối chiếu ngôn ngữ và tương đương trong dịch thuật. Tổng quan tình hình nghiên cứu MĐQH là một mệnh đề phụ được kết nối với mệnh đề chính nhờ ĐTQH. ĐTQH trong tiếng Anh được sử dụng với chức năng thay thế cho các danh từ chỉ người, động vật, sự vật, sự việc cũng như làm phương tiện liên kết các mệnh đề trong câu phức.
MĐQH còn được gọi là mệnh đề tính ngữ (adjectival clause) vì nó là một mệnh đề phụ được dùng để bổ nghĩa hoặc giải thích thêm cho thành phần đứng trước nó (tiền ngữ - antecedent). MĐQH là một hiện tượng ngữ pháp phổ biến trong nhiều ngôn ngữ khác nhau của các quốc gia, do vậy đó là một vấn đề nghiên cứu thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu và học giả cả trên thế giới và tại Việt Nam. Các tác giả đã đi sâu nghiên cứu và có nhiều quan niệm khác nhau về vấn đề này. Tình hình nghiên cứu về mệnh đề quan hệ trên thế giới Tiếp cận MĐQH từ góc độ ngôn ngữ học, các công trình được phân chia thành một số nhánh nghiên cứu, cụ thể là nhánh nghiên cứu có tính lý luận, nghiên cứu đối chiếu, nghiên cứu dịch thuật và nghiên cứu ứng dụng.
Các nghiên cứu có tính lý luận Trong quá trình nghiên cứu về các hiện tượng ngữ pháp, các nhà ngôn ngữ học đã xem xét MĐQH tiếng Anh dưới nhiều góc độ khác nhau và theo các trường phái khác nhau. 9 Các nhà nghiên cứu thuộc trường phái ngữ pháp tạo sinh, với đại diện là Chomsky, đã đặt nền móng đầu tiên về triết lý và phương pháp cho việc tìm hiểu về cấu trúc cú pháp của ngôn ngữ từ năm 1957 cùng ấn phẩm “Syntactic Structure” (Cấu trúc cú pháp) [28]. Các nhà ngữ pháp tạo sinh nhận định MĐQH là một thành tố của cụm danh từ phức và bổ nghĩa cho danh từ trung tâm trong cụm danh từ đó. Quirk và cộng sự đưa ra định nghĩa về tính hạn định và không hạn định, sau đó, họ đã quyết định xếp MĐQH vào nhóm hậu bổ tố của cụm danh từ phức.
[86] Đồng thời, các nhà ngữ pháp mô tả cũng định nghĩa quan hệ đẳng lập và phục thuộc nhằm tìm hiểu mối quan hệ giữa các mệnh đề trong một câu phức. Trường phái ngữ pháp chức năng hệ thống, kết hợp mô tả cấu trúc ngữ pháp của ngôn ngữ với chức năng của nó trong ngữ cảnh, do M. Halliday khởi xướng từ những năm 1960 và được ứng dụng phổ biến trong nghiên cứu ngôn ngữ học nói chung và ngữ pháp nói riêng. Theo quan điểm của ngữ pháp chức năng hệ thống, MĐQH có thể giữ chức năng hậu bổ tố trong cấu trúc kinh nghiệm của cụm danh ngữ hoặc cấu trúc ngữ nghĩa của cụm; đồng thời MĐQH cũng là mệnh đề phụ thuộc chi tiết hóa trong cấu trúc tổ hợp mệnh đề trong mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau cũng như quan hệ logic-ngữ nghĩa.
10 Bên cạnh các nghiên cứu mang tính nền tảng về ngữ pháp tiếng Anh, nhánh nghiên cứu lý luận cũng tập trung vào tìm hiểu đặc điểm cú pháp của MĐQH trong các ngôn ngữ khác nhau. Ví dụ như luận án tiến sỹ của tác giả Kyu-Suk Shin “Characteristics of the Relative Clause in Korean and the Problems Second Language Learners Experience in Acquiring the Relative Clause” (Đặc điểm MĐQH trong tiếng Hàn và các vấn đề người học ngoại ngữ hai gặp phải khi thụ đắc MĐQH) [90]. Trong công trình này, tác giả tập trung mô tả các đặc điểm đặc trưng hình thái-chức năng của MĐQH trong tiếng Hàn bao gồm trật tự các thành tố trong cụm động từ thể hiện mối liên hệ giữa các âm vị ngữ pháp trong chuỗi thời gian và trải nghiệm theo các quy tắc ngữ pháp chặt chẽ. Nghiên cứu đồng thời kết hợp nhánh nghiên cứu liên quan tới việc thụ đắc MĐQH của người học ngoại ngữ với một số đề xuất nâng cao hiệu quả hoạt động giảng dạy ngữ pháp tiếng Hàn.
Trong công trình “The syntactic complexity of Russian relative clauses” (Độ phức tạp cú pháp của MĐQH tiếng Nga), nhóm tác giả Roger Levy, Evelina Fedorenko và Edward Gibson [67] tiến hành bốn thí nghiệm đọc trực tuyến để kiểm tra khả năng hiểu MĐQH tiếng Nga nhằm làm rõ những dự đoán dựa trên lý thuyết kỳ vọng và lý thuyết ghi nhớ. Kết quả nghiên cứu khẳng định những dự đoán quan trọng của lý thuyết kỳ vọng về số lần đọc các động từ của MĐQH và những dự đoán căn bản của lý thuyết ghi nhớ về khó khăn trong xử lý các tân ngữ cụm danh từ đầu MĐQH. Từ đó, nghiên cứu đặt ra yêu cầu phải tổng hợp kiến thức về các lý thuyết dựa trên kỳ vọng và lý thuyết dựa trên ghi nhớ để xây dựng một lý thuyết hoàn chỉnh về độ phức tạp cú pháp của MĐQH tiếng Nga. Một số tác giả khác cũng thực hiện các nghiên cứu về đặc điểm của MĐQH trong các ngôn ngữ ít phổ biến hơn như tiếng Ba Tư, tiếng Idoma, v.v, có thể kể đến như Rasekh-Mahand [87], Grosu và Hoshi [40], cũng như Otgonsuren [82].
Các nghiên cứu đối chiếu Nhánh nghiên cứu đối chiếu MĐQH trong các ngôn ngữ khác nhau cũng là một trong những lĩnh vực nghiên cứu thu hút sự quan tâm của nhiều học giả với những công trình tiêu biểu như “Rethinking the typology of relative clauses” của Comrie [31], trong đó tác giả đối chiếu cú pháp của MĐQH trong rất nhiều ngôn ngữ Âu – Á như tiếng Nga, tiếng Đức, tiếng Pháp, tiếng Nhật, tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, v.; “Free Choice Free Relative Clauses in Italian and Romanian” (MĐQH tự do trong tiếng Ý và tiếng Rumani) của các tác giả Ivano Caponigro và Anamaria Falaus [25] tiến hành phân tích sâu đặc điểm cú pháp – âm vị của MĐQH trong tiếng Ý và tiếng Rumani, từ đó tìm ra điểm tương đồng và khác biệt trong cú pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng của MĐQH trong hai ngôn ngữ đó trong đối chiếu với tiếng Anh. Đặc biệt, còn nghiên cứu của tác giả Herrmann [43], [44] nghiên cứu đối chiếu MĐQH trong phương ngữ Anh tại các khu vực khác nhau trong quần đảo Anh. Rộng hơn, các nhà ngôn ngữ học đã thực hiện nhiều nghiên cứu hình thái học về các phương thức quan hệ trong 172 ngôn ngữ, gồm các tác giả Comrie [30], Culy [33], Downing [35], Givón [37], Keenan [53], Keenan & Comrie [54], Lehmann [64], Smits [93], và Vries [99]. Qua việc đối chiếu hình thái MĐQH trong các ngôn ngữ khác nhau trên thế giới, các tác giả đã đưa ra tổng kết về đặc điểm hình thái phổ thông mà hầu như tất cả các ngôn ngữ trên thế giới đều có, trong đó có MĐQH.
Các nghiên cứu về dịch thuật Trên thế giới, có nhiều tác giả đã đi sâu nghiên cứu đối chiếu chuyển dịch MĐQH tiếng Anh sang các ngôn ngữ bản địa. Một số tác giả cũng đã thực hiện khảo sát MĐQH trong một số văn bản, tài liệu và đề xuất một số phương thức dịch. Có thể kể ra nghiên cứu điển hình như luận án tiến sỹ của Al-Goot Abdalla Al Awad Salim “Problems of Translating English Relative Clauses into Arabic Among EFL Sudanese Universities” (Những vấn đề trong 12 chuyển dịch MĐQH tiếng Anh sang tiếng Ả rập ở các trường đại học tại Sudan) [88]. Tác giả đã thực hiện phân tích đối chiếu chuyển dịch MĐQH như là một thành tố của hai ngôn ngữ được nghiên cứu.
Nghiên cứu sử dụng một bài kiểm tra với các câu được thiết kế cụ thể chứa năm loại MĐQH tiếng Anh và tiếng Ả rập bao gồm ba loại MĐQH tiếng Anh và hai loại MĐQH tiếng Ả rập. Tác giả sử dụng phần mềm SPSS để phân tích dữ liệu và đo lường sự khác biệt giữa các sinh viên về trình độ học vấn, giới tính và hướng chuyển dịch. Kết quả cho thấy loại MĐQH khó nhất đối với các sinh viên là MĐQH không hạn định tiếng Ả rập. Dựa trên các kết quả nghiên cứu, tác giả đưa ra một số đề xuất cho việc dạy và học tiếng Anh và tiếng Ả rập.
Nghiên cứu của Leenakitti và Pongpairoj “A Study of Translation of Relative Clauses from English into Thai” (Nghiên cứu dịch thuật MĐQH từ tiếng Anh sang tiếng Thái) [63] tìm hiểu các phương thức được sử dụng để dịch MĐQH tiếng Anh với các ĐTQH ‘who’, ‘which’ và ‘that’ sang tiếng Thái. Nghiên cứu sử dụng ngữ liệu gồm 348 cặp câu từ hai cuốn tiểu thuyết tiếng Anh và bản dịch tiếng Thái. Tác giả đặt giả thuyết các phương thức dịch được sử dụng có thể chia thành hai nhóm: dịch nghĩa đen với ĐTQH và dịch có điều chỉnh. Để phân tích ngữ liệu, nghiên cứu sử dụng mô hình xây dựng dựa trên các phương thức dịch của Chesterman (1997), bổ sung thêm các thủ pháp dịch có điều chỉnh của Nida (1964) và Saibua (2007).
Kết quả nghiên cứu chứng minh hai phương thức dịch chính được sử dụng để dịch MĐQH tiếng Anh sang tiếng Thái là dịch nghĩa đen và dịch có điều chỉnh, trong đó dịch nghĩa đen thể hiện các cấu trúc ngữ dụng song song giữa MĐQH tiếng Anh và tiếng Thái, còn dịch có điều chỉnh nhấn mạnh sự khác biệt giữa hai ngôn ngữ. Adam Anshori với “An Analysis of Embedded Clauses in Sidney Sheldon's NOTHING LASTS FOREVER and Their Translation in Indonesian” (Phân tích mệnh đề bị bao trong “Không có gì mãi mãi” của Sidney Sheldon và bản dịch tiếng Indonesia) [20] nghiên cứu dịch thuật các mệnh đề bị bao với các 13 ĐTQH ‘who’, ‘that’ và ‘which’ sang tiếng Bahasa Indonesia. Mẫu nghiên cứu gồm 91 ĐTQH được thu thập từ một cuốn tiểu thuyết. Kết quả cho thấy bản dịch các mệnh đề bị bao tiếng Anh với ĐTQH có thể được phân loại thành ba nhóm: 1) được dịch sang ĐTQH ‘yang’ trong tiếng Indonesia, 2) được dịch sang ĐTQH khác và 3) không được dịch (không tương đương).
Phương thức dịch phổ biến nhất với tỷ lệ 89.01% là dịch sang mệnh đề bị bao trong tiếng Indonesia với ĐTQH ‘yang’. Các nghiên cứu ứng dụng Xử lý và hiểu nghĩa MĐQH cũng là một hướng nghiên cứu phổ biến với công trình như luận án tiến sỹ “Factors Affecting Relative Clause Processing in Mandarin” [102] (Các yếu tố ảnh hưởng tới xử lý MĐQH trong tiếng Trung) của tác giả Fuyun Wu.