Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ "Đối chiếu thành ngữ, tục ngữ có thành tố chỉ con số trong tiếng Anh và tiếng Việt" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Trần Lê Duyến dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Nguyễn Văn Khang, bảo vệ năm 2023 tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, chuyên ngành Ngôn ngữ học so sánh, đối chiếu (mã số: 9229024).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Thành ngữ và tục ngữ là những đơn vị ngôn ngữ - văn hóa phản ánh tư duy, triết lý nhân sinh và đời sống xã hội của mỗi dân tộc. Trong kho tàng thành ngữ, tục ngữ, các kết cấu chứa thành tố chỉ con số chiếm số lượng đáng kể. Khi tham gia vào cấu trúc thành ngữ và tục ngữ, con số không thuần túy biểu thị số đếm số học mà kết hợp với các thành tố khác nhằm tạo ra nghĩa biểu trưng, chuyển tải thông điệp văn hóa và kinh nghiệm sống theo phương thức ẩn dụ, hoán dụ.

Điểm lại lịch sử nghiên cứu, tác giả nhận thấy đã có các công trình đối chiếu thành ngữ, tục ngữ giữa tiếng Anh với tiếng Ả Rập, tiếng Nga, tiếng Trung Quốc, tiếng Lithuania, tiếng Indonesia; cũng như giữa tiếng Việt với tiếng Hán, tiếng Lào. Tuy nhiên, chưa có luận án nào đi sâu nghiên cứu đối chiếu một cách có hệ thống về thành ngữ, tục ngữ có thành tố chỉ con số (TNTNTTCCS) giữa tiếng Anh và tiếng Việt trên cả hai bình diện cấu trúc và ngữ nghĩa. Việc thực hiện đề tài nhằm bù đắp khoảng trống này, góp phần làm sáng tỏ mối quan hệ giữa ngôn ngữ, văn hóa và tư duy của cộng đồng bản ngữ tiếng Anh (Anh, Mỹ) và tiếng Việt.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích chính của luận án là khảo sát, miêu tả đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa của TNTNTTCCS trong tiếng Anh và tiếng Việt; từ đó đối chiếu nhằm xác định các điểm tương đồng và dị biệt giữa hai ngôn ngữ, góp phần tìm hiểu đặc trưng tư duy và văn hóa dân tộc được phản ánh qua các đơn vị này.

Luận án xác định 4 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến thành ngữ, tục ngữ nói chung và TNTNTTCCS trong tiếng Anh và tiếng Việt nói riêng; xây dựng cơ sở lý luận cho luận án.
  2. Khảo sát, miêu tả đặc điểm cấu trúc của TNTNTTCCS trong tiếng Anh và tiếng Việt; đối chiếu, phân tích để chỉ ra sự tương đồng và dị biệt giữa chúng.
  3. Khảo sát, miêu tả đặc điểm ngữ nghĩa của TNTNTTCCS trong tiếng Anh và tiếng Việt; đối chiếu, phân tích để chỉ ra sự tương đồng và dị biệt giữa chúng.
  4. Tìm hiểu sự tương đồng và khác biệt về mặt văn hóa - tư duy được phản ánh trong TNTNTTCCS trong tiếng Anh và tiếng Việt.

Câu hỏi nghiên cứu

Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, luận án giải quyết 4 câu hỏi nghiên cứu:

  1. Việc nghiên cứu TNTNTTCCS trong tiếng Anh và tiếng Việt được dựa trên những cơ sở lý luận nào?
  2. TNTNTTCCS trong tiếng Anh và tiếng Việt có những điểm tương đồng và dị biệt đặc trưng nào về cấu tạo?
  3. TNTNTTCCS trong tiếng Anh và tiếng Việt có những điểm tương đồng và dị biệt điển hình nào về ngữ nghĩa?
  4. Vì sao có sự tương đồng và khác biệt về mặt văn hóa - tư duy được phản ánh trong TNTNTTCCS trong tiếng Anh và tiếng Việt?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các thành ngữ, tục ngữ có chứa thành tố chỉ con số trong tiếng Anh và tiếng Việt.
  • Phạm vi nghiên cứu: Đối chiếu TNTNTTCCS giữa hai ngôn ngữ về mặt cấu tạo từ và nghĩa biểu trưng.
  • Quy ước xác định thành tố chỉ con số trong ngữ liệu:
    • Các số từ 1/4 đến hàng triệu (tiếng Anh: a quarter, a half, fifteen...; tiếng Việt: một nửa, một, hai, nghìn, vạn...).
    • Số thứ tự (tiếng Anh: first, second...; tiếng Việt: nhất, nhì, ba...).
    • Các yếu tố chỉ số lượng có nguồn gốc Hán-Việt (tiếng Việt: tam, tứ, bách...).
    • Các thành tố mang nghĩa chỉ con số trong tiếng Anh căn cứ theo The Oxford Dictionary of Current English (Thompson, D.) và Oxford Advanced Learner’s Dictionary (Turnbull, J. / Đình Điền dịch) như: alone (nghĩa: một mình), a/an (nghĩa: một, chỉ một, mỗi một), each (nghĩa: mỗi), June (nghĩa: tháng Sáu)...
    • Các thành tố mang nghĩa chỉ con số trong tiếng Việt căn cứ theo Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên) như: mốt (nghĩa: một), đơn (nghĩa: có cấu tạo chỉ gồm một thành phần), Giêng (nghĩa: tháng đầu tiên trong năm âm lịch), cùng (nghĩa: với một)...

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu về thành ngữ, tục ngữ nói chung

Tác giả hệ thống hóa các nghiên cứu về thành ngữ và tục ngữ trong nước và quốc tế theo 5 khuynh hướng chính:

  1. Góc nhìn cấu trúc - hệ thống:
    • Tiếng Anh: Gibbs và cộng sự (1989), Bortfeld (2003) phân tích khả năng phân tách nghĩa của thành ngữ theo nghĩa đen và nghĩa bóng; Mieder (2004) cung cấp lý luận về định nghĩa, nguồn gốc, phân loại tục ngữ; Alqahtni (2014) khảo sát tần suất và quan hệ ngữ pháp của thành ngữ trên báo chí Ả Rập Xê Út; Merchant (2008) phân tích cú pháp, ngữ nghĩa và thì thể trong thành ngữ.
    • Tiếng Việt: Bùi Khắc Việt, Nguyễn Công Đức, Hoàng Văn Hành, Nguyễn Văn Hòa, Phạm Thanh Hằng, Trịnh Cẩm Lan, Nguyễn Văn Nở, Trần Anh Tư, Hoàng Thị Yến tiếp cận theo hướng từ vựng - ngữ pháp để xác định hình thái, cấu trúc, tính đa nghĩa, đơn nghĩa và nghĩa biểu trưng của thành ngữ tiếng Việt.
  2. Góc nhìn sử dụng và dịch thuật:
    • Tiếng Anh: Manzoora và Kiran (2018), Meryem (2010), Muna và Mahadi (2016), Ali và Al-Rushaidi (2016), Salamah (2019), Abdullah và cộng sự (2021) phân tích khó khăn và đề xuất chiến lược dịch thành ngữ sang tiếng bản ngữ. Guo (2012) đối chiếu ngôn ngữ - văn hóa khi dịch Anh - Trung; Fotovatniaa và Goudarzib (2014) khảo sát dịch Anh - Ba Tư; Othman (2014) nghiên cứu dịch tục ngữ Ả Rập - Anh; Lagodenko (2016), Rasul (2016) áp dụng lý thuyết dịch của Mona Baker.
    • Tiếng Việt: Nguyễn Thị Thu Hà, Ngô Thị Thu Hương nghiên cứu đặc điểm, giá trị biểu đạt và các biến thể thành ngữ được sử dụng trên báo chí tiếng Việt.
  3. Góc nhìn ngôn ngữ học tri nhận:
    • Tiếng Anh: Kövecses và Szabcó (1996), Ortony và cộng sự (1978) khẳng định nghĩa thành ngữ bắt nguồn từ các ý niệm ẩn dụ và hoán dụ; Langlotz (2006) kết hợp ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngôn ngữ học tri nhận để phân tích các biến thể thành ngữ.
    • Tiếng Việt: Trần Thế Phi khảo sát thành ngữ biểu thị cảm xúc trong tiếng Anh và tiếng Việt qua các miền nguồn; Ngô Tuyết Phượng giải mã mô hình ẩn dụ ý niệm trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt qua các miền kinh nghiệm sông nước, giàu nghèo, cuộc đời.
  4. Góc nhìn ngôn ngữ học văn hóa, liên ngành và đa ngữ:
    • Tiếng Anh: Bland (1997) nghiên cứu tục ngữ trong Kinh thánh; Katsarou (2011) mô tả thành ngữ qua lăng kính ngữ nghĩa - ngữ dụng và văn hóa - xã hội; Martin (2014) nghiên cứu biến thể tục ngữ trong tác phẩm văn học Brave New World; Alli (2019) nghiên cứu tục ngữ di dân gốc Phi theo nhân chủng học; Haładyj (2010, 2018) khảo sát hình tượng phụ nữ trong tục ngữ đa ngôn ngữ; Teilanyo (2001) đối chiếu thành ngữ Nigeria và Anh; Ayers (2006) đối chiếu 25 thành ngữ tiếng Anh qua 14 ngôn ngữ; Fahmi (2016) đối chiếu văn hóa tục ngữ Ả Rập - Anh; Chornobay và Baptista (2016) khảo sát 2.400 thành ngữ biểu thị cái chết; Haladyj (2014) đối chiếu tục ngữ tôn giáo Mỹ - Ba Lan; Petrova (2014) phân tích 17.000 kết cấu tục ngữ về sự thật; Gabriell và cộng sự (2018) nghiên cứu chức năng giáo huấn của tục ngữ tại Rwanda.
    • Tiếng Việt: Tiêu Hà Minh, Nguyễn Thị Hạnh, Đỗ Thị Thu Hương, Bùi Thị Thoan nghiên cứu nguồn gốc thành ngữ từ Hán-Việt, điển cố, văn hóa dân gian; Chu Xuân Diên phân tích tục ngữ theo các cặp phạm trù tự nhiên và xã hội; Nguyễn Việt Hương nhận diện bản chất văn hóa qua khuôn hình tục ngữ; Nguyễn Văn Thông tiếp cận tục ngữ qua nhân tướng học; Nguyễn Thị Thịnh nghiên cứu định kiến giới về phụ nữ trong ca dao tục ngữ; Trần Thị Hồng Hạnh tiếp cận thành ngữ theo ngôn ngữ học nhân chủng; Nguyễn Đình Hiển khảo sát sự biến đổi ngữ âm - từ vựng; Trần Thị Thơm phân tích giá trị triết học của tục ngữ, ca dao.
  5. Góc nhìn ngôn ngữ học đối chiếu:
    • Tiếng Anh với các ngôn ngữ khác: Ahmed (2005) đối chiếu tục ngữ Sudan và Anh; Herranen và cộng sự (2009) đối chiếu tục ngữ tiếng Estonia, Phần Lan và Slovenia; Zarieva và Iliev (2018) phân loại mức độ tương đương tục ngữ Nga - Anh; Murcia (2014) đối chiếu thành ngữ chứa yếu tố động vật.
    • Tiếng Anh và tiếng Việt: Nguyễn Việt Hòa, Trịnh Thị Phương Trang so sánh thành ngữ so sánh Anh - Việt; Nguyễn Thị Phương Dung nghiên cứu thành ngữ so sánh chứa tính từ; Phạm Thị Mai Hương khảo sát thành ngữ chứa động từ sở hữu; Đặng Thị Bích Hường nghiên cứu cú pháp - ngữ nghĩa thành ngữ; Hoàng Thị Nhung khảo sát thành ngữ chứa yếu tố thực vật; Nguyễn Văn Trào nghiên cứu chiến lược dịch thành ngữ chỉ màu sắc.

Tình hình nghiên cứu về thành ngữ, tục ngữ có thành tố chỉ con số

  • Trong tiếng Anh: Nall (2008) phân tích cấu trúc 4 từ chứa con số và nhận diện các giá trị văn hóa trong thành ngữ tiếng Anh và tiếng Trung; Nikitkova (2006) đối chiếu nghĩa biểu trưng của 156 thành ngữ tiếng Anh và 212 thành ngữ tiếng Lithuan; Kong (2014) khảo sát thành ngữ con số Trung - Anh và chiến lược dịch; Al-Tameemi (2016) phân loại mức độ tương đương của thành ngữ con số tiếng Anh và tiếng Ả Rập.
  • Trong tiếng Việt: Giang Thị Tám đối chiếu cấu tạo và ngữ nghĩa của thành ngữ con số giữa tiếng Hán và tiếng Việt; Mạc Tử Kỳ khảo sát dịch thuật thành ngữ con số Hán - Việt; Tô Vũ Thành nghiên cứu giá trị văn hóa của số 3 trong tiếng Trung và tiếng Việt; Hoàng Dũng và Đỗ Thị Hồng Nhung phân tích tần suất và nghĩa biểu trưng của số từ trong tiếng Hán và tiếng Việt; Phoukham đối chiếu thành ngữ con số Lào - Việt; Trần Thị Lam Thủy nghiên cứu ngữ pháp, ngữ nghĩa và chức năng của con số trong ca dao, tục ngữ Việt Nam; Hà Quang Năng phân tích tần suất xuất hiện và khả năng kết hợp của số từ với danh từ, động từ, tính từ trong thành ngữ, tục ngữ Việt Nam.

Khoảng trống luận án giải quyết

Phần lớn các nghiên cứu đối chiếu thành ngữ, tục ngữ có thành tố chỉ con số tại Việt Nam trước đây tập trung vào cặp ngôn ngữ tiếng Việt với tiếng Hán hoặc tiếng Lào, hoặc khảo sát đơn ngữ. Trong khi đó, các nghiên cứu tiếng Anh chỉ đối chiếu với tiếng Ả Rập, Trung Quốc, Lithuania với quy mô mẫu còn khiêm tốn. Luận án này là công trình đầu tiên tiến hành đối chiếu toàn diện, có hệ thống giữa tiếng Anh và tiếng Việt đối với cả thành ngữ và tục ngữ có thành tố chỉ con số trên quy mô ngữ liệu lớn, làm rõ cả bình diện cấu trúc hình thái - cú pháp và bình diện ngữ nghĩa biểu trưng gắn với văn hóa - tư duy.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và các khái niệm cơ bản

  • Quan niệm về thành ngữ: Luận án kế thừa quan điểm của Crystal (2008) và Hoàng Văn Hành (2008), xác định thành ngữ là tổ hợp từ đặc biệt có tính cố định, cấu trúc hoàn chỉnh và mang nghĩa biểu trưng, phản ánh đặc trưng văn hóa - dân tộc.
  • Quan niệm về tục ngữ: Tiếp thu quan điểm của Simpson và Speake (2008), Nguyễn Thái Hòa (1997), Flavell và Flavell (1993), tục ngữ được định nghĩa là câu nói dân gian ngắn gọn, súc tích, có cấu trúc cố định, có chủ đề thông báo, đúc kết kinh nghiệm, tri thức và triết lý sống của con người, mang chức năng giáo huấn đạo lý và phản ánh bản sắc văn hóa dân tộc.
  • Quan niệm về nghĩa đen và nghĩa biểu trưng:
    • Nghĩa đen: Nghĩa gốc, nghĩa xuất phát điểm ban đầu của từ ngữ theo quy ước thông thường (Nguyễn Thái Hòa, Đỗ Việt Hùng, Goatly, Thompson).
    • Nghĩa biểu trưng: Nghĩa được hình thành thông qua các phương thức chuyển nghĩa (chủ yếu là ẩn dụ và hoán dụ), mang tính tượng trưng, ước lệ, phản ánh tư duy nhận thức và các quy ước văn hóa của cộng đồng bản ngữ (Lê Quang Thiêm, Nguyễn Đức Tồn, Hoàng Văn Hành, Womack, Goatly).
  • Cơ chế chuyển nghĩa:
    • Hoán dụ: Phương thức dựa trên mối quan hệ tiếp cận, tương cận giữa hai sự vật hiện tượng (bộ phận - toàn thể, vật chứa - vật bị chứa, công cụ - tác nhân, biểu tượng - đối tượng biểu tượng...) và phương thức "cải số" (dùng số lượng cụ thể để biểu thị số lượng trừu tượng/khái quát) theo Nguyễn Thái Hòa, Đỗ Việt Hùng, Goatly, Norrick.
    • Ẩn dụ: Quá trình ánh xạ ý niệm từ một miền nguồn (cụ thể, quen thuộc) sang một miền đích (trừu tượng) dựa trên sự tương đồng liên tưởng (Lakoff & Johnson, Charteris, Musolff, Geeraerts, Mieder).
  • Quan niệm về văn hóa và giá trị văn hóa cốt lõi:
    • Tiếp cận văn hóa như một hệ thống giá trị vật chất và tinh thần do con người tích lũy qua thực tiễn (Tylor, Malinowski, Kluckhohn & Kelly, Harris, Trần Ngọc Thêm, Ferraro).
    • Khảo sát các giá trị văn hóa cốt lõi của người Anh (truyền thống, tôn ti, bảo thủ, chừng mực), người Mỹ (chủ nghĩa cá nhân, thực dụng, cạnh tranh, hiệu suất, hướng tới tương lai) và người Việt (tính cộng đồng, cần cù, nhân ái, trọng tình nghĩa, hòa hợp với tự nhiên) theo các công trình của Murdock, Firth, Phan Ngọc, Phạm Minh Hạc, Hồ Sĩ Quý.

Phương pháp nghiên cứu

  1. Phương pháp miêu tả: Mô tả chi tiết, cụ thể các đặc điểm cấu trúc hình thái học, cú pháp và các tầng ngữ nghĩa (nghĩa đen, nghĩa biểu trưng) của các đơn vị TNTNTTCCS trong từng ngôn ngữ.
  2. Phương pháp ngôn ngữ học đối chiếu: So sánh đối chiếu song song giữa tiếng Anh và tiếng Việt theo nguyên tắc "miêu tả đến đâu đối chiếu đến đó" nhằm làm nổi bật các điểm tương đồng và dị biệt về số lượng, tần suất, mô hình cấu trúc và đặc điểm ngữ nghĩa.
  3. Tiếp cận liên ngành: Kết hợp ngôn ngữ học với văn hóa học và dân tộc học để giải thích nguồn gốc và cơ chế tạo nghĩa của các biểu trưng con số trong bối cảnh văn hóa - xã hội tương ứng.
  4. Thủ pháp bổ trợ:
    • Thủ pháp thống kê: Thu thập, phân loại, đo lường tần suất xuất hiện và tỷ lệ phân bố của các con số và mô hình cấu trúc.
    • Thủ pháp mô hình hóa: Khái quát các kết cấu ngữ pháp và tổ hợp nghĩa thành các công thức/mô hình trừu tượng.

Nguồn ngữ liệu và quy trình thu thập

Ngữ liệu được thu thập bằng phương pháp phi ngẫu nhiên theo tiêu chí xác định từ 20 nguồn từ điển uy tín (8 từ điển thành ngữ, tục ngữ tiếng Anh; 8 từ điển thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt; 4 từ điển song ngữ Anh-Việt/Việt-Anh). Toàn bộ dữ liệu thô đã qua sàng lọc, loại bỏ trùng lặp.

STT Ngôn ngữ Số lượng thành ngữ Số lượng tục ngữ Tổng cộng
1 Tiếng Anh 2.729 829 3.558
2 Tiếng Việt 525 641 1.166
Tổng Cả hai ngôn ngữ 3.254 1.470 4.724

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết

Chương 1 thiết lập nền tảng lý luận toàn diện cho luận án, bao gồm hai nội dung lớn:

  1. Tổng thuật tình hình nghiên cứu: Trình bày chi tiết 5 khuynh hướng nghiên cứu thành ngữ, tục ngữ trong và ngoài nước (cấu trúc - hệ thống, sử dụng và dịch thuật, ngôn ngữ học tri nhận, ngôn ngữ học văn hóa - liên ngành, ngôn ngữ học đối chiếu); phân tích thực trạng nghiên cứu các kết cấu có thành tố chỉ con số trong tiếng Anh và tiếng Việt; chỉ rõ khoảng trống khoa học cần giải quyết.
  2. Xây dựng khung lý thuyết: Định hình các khái niệm công cụ phục vụ việc phân tích ở Chương 2 và Chương 3: quan niệm về thành ngữ, tục ngữ; quan niệm về thành tố chỉ con số; bản chất của nghĩa đen và cơ chế hình thành nghĩa biểu trưng qua ẩn dụ, hoán dụ; hệ thống giá trị văn hóa cốt lõi của cộng đồng bản ngữ tiếng Anh (Anh, Mỹ) và tiếng Việt.

Chương 2: Đối chiếu đặc điểm cấu trúc của thành ngữ, tục ngữ có thành tố chỉ con số trong tiếng Anh và tiếng Việt

Chương 2 tập trung khảo sát định lượng và định tính về mặt hình thái học - cú pháp của ngữ liệu:

  • Số lượng và tần suất xuất hiện của các con số:
    • Tiếng Anh: Khảo sát sự phân bố của các con số tham gia cấu tạo 2.729 thành ngữ và 829 tục ngữ. Các con số có tần suất xuất hiện cao nhất gồm: số 1 (one, a/an, single, first...), số 2 (two, second, both, double, pair...), số 3 (three, third...), số phân số (half, quarter...), các số 4, 5, 6, 7, 9, 11 và các số chỉ đơn vị lớn. Phân loại cấu trúc theo số lượng thành tố số: kết cấu chứa 1 con số, chứa 2 con số hoặc nhiều hơn.
    • Tiếng Việt: Khảo sát sự phân bố trong 525 thành ngữ và 641 tục ngữ. Thống kê tần suất vượt trội của các số: số 1 (một, nhất, mốt, Giêng, đơn...), số 2 (hai, nhì, đôi, song, kép...), số 3 (ba, tam...), cùng các kết cấu chứa 2 hoặc 3 thành tố chỉ con số kết hợp đối xứng (một... hai..., ba... bốn..., năm... mười..., trăm... nghìn...).
    • Đối chiếu tương đồng và khác biệt: Hai ngôn ngữ có điểm tương đồng là số 1 và số 2 chiếm tần suất áp đảo nhất; tuy nhiên, tiếng Việt có xu hướng ưa chuộng các cấu trúc sóng đôi, đối xứng chứa từ hai con số trở lên cao hơn tiếng Anh.
  • Khả năng kết hợp của các thành tố:
    • Trong thành ngữ (THNTTCCS): Khảo sát khả năng kết hợp của thành tố số với danh từ, động từ, tính từ, giới từ theo các mô hình cú pháp cụ thể trong tiếng Anh và tiếng Việt.
    • Trong tục ngữ (TNTTCCS): Phân tích các mô hình cấu trúc câu hoàn chỉnh, cấu trúc hai vế đối ứng, quan hệ ngữ pháp giữa các thành phần vế câu có chứa con số trong tiếng Anh và tiếng Việt.

Chương 3: Đối chiếu đặc điểm ngữ nghĩa của thành ngữ, tục ngữ có thành tố chỉ con số giữa tiếng Anh và tiếng Việt

Chương 3 đi sâu phân tích cơ chế tạo nghĩa và đối chiếu ngữ nghĩa:

  • Đối chiếu nghĩa đen:
    • Phân tích các trường hợp TNTNTTCCS giữ nguyên nghĩa thực hoặc đóng vai trò nghĩa nền tảng trực tiếp phản ánh các hiện tượng tự nhiên, thời tiết, kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp, đo lường hoặc sự kiện đời sống.
    • Chỉ ra mức độ tương đồng và dị biệt về việc sử dụng nghĩa đen giữa hai ngôn ngữ.
  • Đối chiếu nghĩa biểu trưng:
    • Cơ chế hoán dụ: Phân tích cách thức các con số biểu đạt ý niệm số lượng phi số học (cải số) để chỉ số lượng ít ỏi, đơn độc, duy nhất (số 1), sự lặp lại, đối lập, lứa đôi (số 2), số lượng nhiều, không xác định (số 3, 7, 9, trăm, vạn, triệu / hundred, thousand, million).
    • Cơ chế ẩn dụ ý niệm: Phân tích quá trình ánh xạ từ các miền kinh nghiệm cụ thể sang các miền ý niệm trừu tượng (nhân cách, đạo đức, tình cảm, sự thành bại, rủi ro, vận mệnh).
    • Đối chiếu tương đồng và dị biệt: Luận giải nguyên nhân dẫn đến các nét tương đồng (quy luật tri nhận phổ quát của con người) và các nét dị biệt sâu sắc (bắt nguồn từ môi trường địa lý, phương thức sinh hoạt kinh tế - nông nghiệp lúa nước của người Việt đối lập với văn hóa du mục/thương nghiệp/công nghiệp phương Tây, cũng như các yếu tố lịch sử, tín ngưỡng, tôn giáo và hệ giá trị văn hóa cốt lõi).

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Luận án làm sáng tỏ thêm cơ sở lý luận về mối quan hệ biện chứng giữa bộ ba ngôn ngữ - văn hóa - tư duy được phản ánh qua thành ngữ, tục ngữ của hai dân tộc Anh/Mỹ và Việt Nam.
  2. Bổ sung và hoàn thiện hệ thống lý thuyết về đặc điểm cấu trúc và ngữ nghĩa của các kết cấu có thành tố chỉ con số dưới góc độ ngôn ngữ học đối chiếu và ngôn ngữ học tri nhận.
  3. Cung cấp khung phân tích và tiêu chí phân loại cụ thể cho việc nhận diện các thành tố mang nghĩa chỉ con số trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Anh và tiếng Việt.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Cung cấp một hệ thống ngữ liệu phong phú, đã qua xử lý và sàng lọc gồm 3.558 đơn vị tiếng Anh và 1.166 đơn vị tiếng Việt có thành tố chỉ con số, làm cơ sở khoa học cho công tác nghiên cứu chuyên sâu tiếp theo.
  2. Kết quả đối chiếu cấu trúc và ngữ nghĩa phục vụ trực tiếp cho việc dạy và học ngoại ngữ (tiếng Anh cho người Việt và tiếng Việt cho người nước ngoài), giúp người học hiểu đúng sắc thái biểu cảm và cơ chế tạo nghĩa để sử dụng ngôn ngữ tự nhiên, chuẩn xác.
  3. Là tài liệu tham khảo cho công tác biên dịch, dịch thuật văn học, biên soạn giáo trình ngôn ngữ học văn hóa, giảng dạy ngữ văn trong nhà trường, đồng thời đóng góp cơ sở dữ liệu để xây dựng từ điển chuyên ngành thành ngữ, tục ngữ có thành tố chỉ con số Anh - Việt.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Vận dụng các kết quả nghiên cứu vào việc thiết kế bài giảng, học liệu về thành ngữ, tục ngữ trong giảng dạy ngoại ngữ theo hướng gắn kết tri thức ngôn ngữ với kiến thức nền về văn hóa dân tộc.
  • Ứng dụng mô hình đối chiếu ngữ nghĩa biểu trưng vào thực hành dịch thuật nhằm tránh việc dịch thô sơ theo nghĩa đen đối với các kết cấu có chứa con số.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Về dung lượng mẫu: Tác giả thẳng thắn chỉ ra sự chênh lệch đáng kể về số lượng mẫu thu thập được giữa tiếng Anh (3.558 đơn vị) và tiếng Việt (1.166 đơn vị). Đây là yếu tố khách quan do đặc thù nguồn ngữ liệu sẵn có từ 20 bộ từ điển được lựa chọn khảo sát và phương pháp thu thập mẫu phi ngẫu nhiên theo tiêu chí định sẵn. Dù vậy, quy mô mẫu ở cả hai ngôn ngữ vẫn đảm bảo độ tin cậy để phục vụ mục tiêu tổng quát hóa.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi khảo sát sang các biến thể thành ngữ, tục ngữ mới xuất hiện trong giao tiếp đương đại hoặc trên không gian truyền thông đa phương tiện; khảo sát đối chiếu TNTNTTCCS ở các cặp ngôn ngữ khác nhằm tiếp tục kiểm chứng các mô hình tri nhận và biểu trưng số lượng.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho nhiều đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên chuyên ngành Ngôn ngữ học: Tham khảo khung lý thuyết đối chiếu ngôn ngữ - văn hóa, phương pháp phân tích nghĩa biểu trưng qua ẩn dụ/hoán dụ và quy trình xử lý ngữ liệu thành ngữ, tục ngữ.
  • Giáo viên ngoại ngữ và người học tiếng Anh/tiếng Việt: Khai thác phần phân tích đối chiếu cấu trúc (Chương 2) và ngữ nghĩa biểu trưng (Chương 3) để nâng cao năng lực tiếp nhận và thụ đắc ngôn ngữ gắn với bối cảnh văn hóa.
  • Chuyên gia dịch thuật và nhà biên soạn từ điển: Sử dụng danh mục ngữ liệu đối chiếu tại Phụ lục và các phát hiện về tương đương ngữ nghĩa để phục vụ biên soạn từ điển song ngữ Anh - Việt chuyên đề thành ngữ, tục ngữ.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định các tiêu chí nào để một từ ngữ được coi là "thành tố chỉ con số"?

Thành tố chỉ con số trong luận án bao gồm: số từ số lượng từ 1/4 đến hàng triệu (half, fifteen / một nửa, một, nghìn...); số thứ tự (first, second / nhất, nhì...); các yếu tố gốc Hán-Việt chỉ số lượng (tam, tứ, bách...); và các từ ngữ mang nét nghĩa chỉ con số được định nghĩa trong từ điển chuẩn của hai ngôn ngữ (như alone, a/an, each, June trong tiếng Anh; mốt, đơn, Giêng, cùng trong tiếng Việt).

2. Quy mô ngữ liệu được khảo sát trong luận án là bao nhiêu và được lấy từ đâu?

Tổng quy mô ngữ liệu là 4.724 đơn vị, thu thập từ 20 nguồn từ điển uy tín (8 từ điển tiếng Anh, 8 từ điển tiếng Việt, 4 từ điển song ngữ). Ngữ liệu gồm 2.729 thành ngữ và 829 tục ngữ tiếng Anh (tổng 3.558); 525 thành ngữ và 641 tục ngữ tiếng Việt (tổng 1.166).

3. Phương pháp đối chiếu chính được luận án áp dụng là gì?

Luận án sử dụng phương pháp ngôn ngữ học đối chiếu theo nguyên tắc đối chiếu song song: miêu tả đến đâu đối chiếu đến đó trên cả hai phương diện cấu tạo hình thái - cú pháp và ngữ nghĩa biểu trưng, kết hợp với cách tiếp cận liên ngành (ngôn ngữ học, văn hóa học, dân tộc học) và thủ pháp thống kê, mô hình hóa.

4. Cơ chế nào đóng vai trò chủ đạo trong việc hình thành nghĩa biểu trưng của con số trong thành ngữ, tục ngữ?

Nghĩa biểu trưng của con số được hình thành chủ yếu qua hai cơ chế chuyển nghĩa: hoán dụ (đặc biệt là phương thức "cải số" - dùng số lượng cụ thể làm biểu tượng cho tính đơn lẻ, đối lập hoặc số lượng nhiều vô hạn) và ẩn dụ ý niệm (quá trình ánh xạ từ các miền kinh nghiệm cụ thể sang các miền ý niệm trừu tượng về nhân sinh, đạo đức, số phận).

5. Sự tương đồng và dị biệt ngữ nghĩa giữa hai ngôn ngữ được luận giải dựa trên căn nguyên nào?

Sự tương đồng bắt nguồn từ các quy luật tri nhận và trải nghiệm phổ quát của con người về thế giới khách quan. Sự dị biệt bắt nguồn từ sự khác nhau về điều kiện địa lý, lịch sử, phương thức sản xuất (văn hóa nông nghiệp lúa nước của người Việt đối lập với văn hóa phương Tây) và hệ giá trị văn hóa cốt lõi của mỗi dân tộc.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của Trần Lê Duyến là công trình nghiên cứu hệ thống và chuyên sâu về đối chiếu thành ngữ, tục ngữ có thành tố chỉ con số giữa tiếng Anh và tiếng Việt trên quy mô ngữ liệu lớn gồm 4.724 đơn vị. Thông qua việc miêu tả chi tiết và đối chiếu song song đặc điểm cấu tạo ngữ pháp cùng cơ chế tạo nghĩa biểu trưng (ẩn dụ, hoán dụ), luận án đã làm sáng tỏ những nét tương đồng và dị biệt đặc thù giữa hai ngôn ngữ. Công trình khẳng định mối liên hệ chặt chẽ giữa ngôn ngữ, văn hóa và tư duy của cộng đồng bản ngữ, đồng thời mang lại giá trị khoa học và thực tiễn thiết thực cho công tác giảng dạy ngoại ngữ, dịch thuật và biên soạn từ điển.