CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương này tập trung vào tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về thành ngữ, tục ngữ (TNTN) nói chung, thành ngữ, tục ngữ có thành tố chỉ con số (TNTNTTCCS) trong tiếng Anh và tiếng Việt nói riêng cũng như trình bày những khái niệm quan trọng phục vụ cho chương 2 và 3. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về thành ngữ, tục ngữ trong tiếng Anh và tiếng Việt TNTN trong tiếng Anh và tiếng Việt là một di sản ngôn ngữ và văn hóa của dân tộc, bởi vậy, đã từ lâu, những kết cấu ngôn ngữ đặc biệt này nhận được sự quan tâm của không ít học giả. Cho đến nay, số lượng các đề tài, luận văn, luận án và bài báo khoa học về TNTN ngày càng nhiều với nhiều chiều hướng tiếp cận khác nhau.
Sau đây là một số khuynh hướng chính nghiên cứu về TNTN trong tiếng Anh và tiếng Việt. Một là, nghiên cứu đặc điểm của thành ngữ, tục ngữ từ góc nhìn cấu trúc - hệ thống: đặc điểm ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng, ngữ nghĩa. Việc nghiên cứu TNTN trong tiếng Anh thường chú trọng đến ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng, ngữ nghĩa như những nghiên cứu điển hình sau: Gibbs và cộng sự [169] và Bortfeld [122] đã phân tích nghĩa thành ngữ theo ba cách: tách nghĩa theo nghĩa đen, nghĩa bóng lẫn nghĩa đen và không thể tách được nghĩa. Mieder [245] cung cấp cho người đọc những vấn đề lý luận về định nghĩa, cách phân loại, ngữ nghĩa, điển tích và hoàn cảnh sử dụng của một số tục ngữ được sử dụng rộng rãi và chỉ ra những ấn phẩm và tạp chí nghiên cứu về tục ngữ.
Do đó, đây là một cơ sở dữ liệu hữu ích cho luận án này. Alqahtni [108] đã khám phá cấu trúc và bối cảnh của thành ngữ trên tờ báo Al- Riyadh của Ả Rập Xê Út để cung cấp một số khái niệm, đặc điểm, tần suất xuất hiện và các quan hệ ngữ pháp của những kết cấu này trên tờ báo Al-Riyadh. Tuy nhiên, nghiên cứu này mới chỉ tập trung vào một tờ báo duy nhất của Ả Rập Xê Út và chưa quan tâm nhiều đến nghĩa của thành ngữ. Merchant [242] chỉ ra đặc điểm cú pháp, ngữ nghĩa, giao diện từ vựng của thành ngữ, đặc biệt là thể và thì trong 9 thành ngữ.
Dẫu vậy, phương pháp nghiên cứu chưa thực sự tường minh nên tính thuyết phục, độ tin cậy của các luận điểm mà tác giả đưa ra chưa cao. Tương tự tiếng Anh, một số tác giả chú trọng nghiên cứu đặc điểm ngữ âm, cấu trúc, ngữ pháp, cú pháp, ngữ nghĩa, từ vựng của TNTN tiếng Việt. Tiêu biểu cho đường hướng này là một số tác giả sau đây: Các tác giả Bùi Khắc Việt [93], Nguyễn Công Đức [14], Hoàng Văn Hành [24], Nguyễn Văn Hòa [33], Phạm Thanh Hằng [29], Trịnh Cẩm Lan [52], Nguyễn Văn Nở [62], Trần Anh Tư [92], Hoàng Thị Yến [100] tiếp cận thành ngữ theo hướng từ vựng, ngữ pháp học để chỉ ra đặc điểm hình thái, cấu trúc, cách tạo nghĩa, tổ hợp nghĩa, tính đa nghĩa, đơn nghĩa và nghĩa biểu trưng; phân loại thành ngữ nhận diện tín hiệu thẩm mĩ của thành ngữ Việt, góp phần thu hẹp khoảng trống nghiên cứu về đề tài này. Tựu trung lại, theo những nguồn tài liệu mà tác giả tiếp cận được, TNTN trong tiếng Anh và tiếng Việt được nghiên cứu khá nhiều.
Tuy nhiên, TNTN trong tiếng Anh được tiếp cận theo hướng ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng, ngữ nghĩa chủ yếu vẫn lẫn với đối chiếu giữa các ngôn ngữ. Hai là, nghiên cứu thành ngữ, tục ngữ trong sử dụng và dịch thuật. Nghiên cứu TNTN trong sử dụng cũng nhận được sự chú ý của một số tác giả, chủ yếu là các nghiên cứu trong tiếng Anh: TNTN trong tiếng Anh là đối tượng nghiên cứu của nhiều học giả trong lĩnh vực giáo học pháp và dịch thuật. Do vậy, đây là một đường hướng nghiên cứu khá rõ nét với một số tác giả sau đây: Manzoora và Kiran [237], Meryem [243], Muna và Mahadi [249], Ali và Al- Rushaidi [106], Salamah [278], Abdullah và cộng sự [101] nhận diện những khó khăn mà sinh viên thường gặp; gợi ý một số chiến lược như loại bỏ, dịch sát nghĩa, diễn giải và sử dụng thành ngữ có hình thức và nghĩa tương đồng khi dịch thành ngữ tiếng Anh sang tiếng mẹ đẻ của nhiều quốc gia khác nhau.
Một số tác giả nghiên cứu thành ngữ trong dịch thuật truyền thống. Guo [175] nhận diện sự khác biệt về ngôn ngữ và văn hóa trong dịch TNTN từ tiếng Anh sang tiếng Trung Quốc. Fotovatniaa và Goudarzib [159] quan tâm đến ba khả năng phân tích nghĩa: bình thường, bất thường và không thể phân tích nghĩa của thành ngữ khi 10 dịch thành ngữ từ tiếng Anh sang tiếng Ba Tư. Othman [266] quan tâm đến cấp độ vĩ mô và vi mô trong dịch tục ngữ tiếng Ả Rập sang tiếng Anh.
Lagodenko [216] chỉ ra mối quan hệ giữa nghĩa của thành ngữ và văn hóa; nhấn mạnh những rào cản ngôn ngữ và văn hóa trong dịch thuật liên quan đến thành ngữ. Rasul [269] áp dụng những chiến lược dịch của Baker trong dịch thành ngữ ở nhiều ngôn ngữ như tiếng Ả Rập, Pháp, Iran, Ba Tư và Thổ Nhĩ Kỳ. Nguyễn Thị Thu Hà [18] và Ngô Thị Thu Hương [43] tìm ra đặc điểm, các giá trị biểu đạt, tính sáng tạo trong sử dụng chúng trong báo chí; phân tích những giá trị riêng của những biến thể thành ngữ; phê phán những hạt sạn trong quá trình thành ngữ hóa những cụm từ mang tính thành ngữ trong ngôn ngữ báo chí trong tiếng Việt. Như vậy, hướng nghiên cứu sử dụng và dịch TNTN, đặc biệt là thành ngữ tiếng Anh với các ngôn ngữ khác dựa trên nền tảng của so sánh đối chiếu nhận được sự quan tâm của nhiều học giả hơn so với tiếng Việt.
Ba là nghiên cứu thành ngữ, tục ngữ từ góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận. Gần đây, dư địa nghiên cứu TNTN theo hướng ngôn ngữ học tri nhận ngày càng được nhiều học giả khai phá. Ngoài một số nghiên cứu TNTN từ góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận được tiến hành ở các thứ tiếng khác như Hán, Nhật, Hàn Quốc, có thể kể đến một số đề tài trong tiếng Anh và tiếng Việt sau: Kövecses and Szabcó [208], Ortony và cộng sự [265] đã chỉ ra rằng phần lớn nghĩa của thành ngữ, dựa trên quan niệm hoán dụ, ẩn dụ và trong tri nhận thành ngữ: miền nguồn quyết định nghĩa của miền đích. Tương tự, Langlotz [222] phân tích thành ngữ trên cả bình diện cấu trúc, cú pháp, ngữ nghĩa, biến thể từ ngôn ngữ học tâm lý đến ngôn ngữ học tri nhận; chỉ ra những điểm mạnh và yếu của từng quan điểm; chứng minh bằng lập luận, phản biện những vấn đề tranh cãi xung quanh định nghĩa, cấu trúc, ngữ nghĩa của thành ngữ một cách thỏa đáng; chỉ ra các biến thể ngữ pháp, từ vựng của những thành ngữ chỉ “thành công, tiến bộ và thất bại”.
Trần Thế Phi [65] chỉ ra những điểm dị biệt và tương đồng giữa thành ngữ biểu thị bốn loại cảm xúc trong tiếng Việt và tiếng Anh thông qua năm miền nguồn. Ngô Tuyết Phượng [68] sử dụng ngôn ngữ học để luận giải bản chất của các mô 11 hình ẩn dụ ý niệm tri nhận trên nguồn ngữ liệu là TNTN tiếng Việt trong đời sống hàng ngày, các trải nghiệm cơ chế sinh học, tâm lý, phản xạ và văn hóa xã hội trên lược đồ ánh xạ của hai miền không gian nguồn và đích của phạm trù cuộc đời, con người, giàu nghèo và sông nước. Như vậy, có thể nhận định rằng những nghiên cứu TNTN dưới ánh sáng của ngôn ngữ học tri nhận cùng với sự kết hợp của ngôn ngữ học đối chiếu đã góp phần làm giàu cho TNTN trong tiếng Anh và tiếng Việt. Bốn là nghiên cứu thành ngữ, tục ngữ từ góc nhìn của ngôn ngữ học văn hóa, liên ngành và đa ngữ.
Việc nghiên cứu TNTN dưới góc nhìn ngôn ngữ học văn hóa, đa ngữ và liên ngành trong tiếng Anh khá rõ nét trong những nghiên cứu điển hình sau: Bland [116] đã gột rửa lớp trầm tích bề mặt của tục ngữ được sử dụng trong Kinh thánh, khám phá vẻ đẹp tiềm ẩn của chúng; mô tả hoạt động của tục ngữ trong toàn bộ hệ thống kinh thánh giúp điều tiết, kiểm soát những hành vi ứng xử của cá nhân và xã hội. Katsarou [199] mô tả thành ngữ tiếng Anh, cung cấp một bức tranh khá toàn cảnh về cách tiếp cận thành ngữ như cú pháp, ngữ nghĩa, văn hóa-xã hội; ngữ nghĩa học; ngữ dụng học; tâm lí học xã hội. Martin [238] nghiên cứu tục ngữ trong tác phẩm văn học kinh điển “Brave New World”; phân tích và chứng minh cách chơi chữ và cách khai thác tục ngữ để đạt được hiệu ứng về ngôn ngữ; nhận diện được bản chất của các biến thể của tục ngữ là phương tiện kết nối xã hội với độc giả. Alli [107] tiếp cận tục ngữ theo đường hướng dịch tục ngữ nhưng dựa trên trải nghiệm của một nghiên cứu nhân chủng học; nhận diện được sự thông thái của những người nhập cư gốc Phi da đen thông qua nguồn dữ liệu động.
Nhìn nhận vai trò của phụ nữ được phản ánh trong tục ngữ bằng nhiều chiều cạnh và theo hướng liên ngành và liên ngôn ngữ, tác giả Haładyj [176; 177] đã viết hai bài báo ở hai thời điểm khác nhau với hai nội dung trái ngược nhau: tục ngữ phản ánh sự phân biệt đối xử đối với phụ nữ và một số yếu tố tích cực trong tục ngữ nói về phụ nữ; nhìn nhận cả vai trò tích cực và tiêu cực của phụ nữ; tuy nhiên, cách nhìn tích cực được tác giả khắc sâu hơn để làm lu mờ cái tiêu cực bằng cách đưa ra những nhận định và minh chứng thuyết phục cho những luận điểm của mình. Điều đặc biệt là, tác giả có nhiều dẫn chứng từ nhiều ngôn ngữ như tiếng Việt, Tây Ban 12 Nha, Đức, Rumani, Ý, Ba Lan, Hebrew, Nga, Chile, Jamaica, Papiamentu, Baule, xứ Wales, Creole, Haiti, Trung Quốc, Ovambo, Umbundu, Anh-Anh, Anh-Mỹ, Bồ Đào Nha, Hàn Quốc, Hindi-Ấn Độ, Colombia, Kru, Pháp, … Teilanyo [300] cũng so sánh đối chiếu 36 thành ngữ tiếng Nigeria và tiếng Anh, phát hiện ra rằng dù khoảng cách lớn về ngôn ngữ và văn hóa giữa tiếng Nigeria và tiếng Anh nhưng vẫn tồn tại nhiều điểm chung về cách thức sử dụng từ và cấu trúc ngữ pháp của thành ngữ; nhờ đó, quá trình giao tiếp liên văn hóa giữa các ngôn ngữ được diễn ra dễ dàng hơn.