phần Mở đầu, Kết luận và Phụ lục, luận án gồm 4 chương: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và những vấn đề lí thuyết liên quan đến nội dung nghiên cứu 6 - Điểm lại các nghiên cứu về ngôn ngữ của N.Souseki, các nghiên cứu về ĐT tiếng Nhật, chỉ ra việc nghiên cứu về ĐT trong các tác phẩm của N.Souseki là hoàn toàn mới, chưa từng được đề cập tới trước đây. - Tổng hợp những nội dung lí thuyết cơ bản về ĐT tiếng Nhật, những cơ sở lí luận cơ bản cần thiết về ngữ nghĩa, ngữ dụng phục vụ cho quá trình thống kê và phân tích ngữ liệu. Chƣơng 2: Động từ xuất hiện trong các tác phẩm tiêu biểu của N.Souseki Qua thống kê và phân loại, mô tả bức tranh tổng quan về ĐT trong các tác phẩm tiêu biểu của N.Souseki, đưa ra nhận xét về khuynh hướng hoạt động của ĐT làm cơ sở việc lựa chọn ĐT tiểu biểu và hướng triển khai phân tích đặc điểm ngữ nghĩa, ngữ dụng của ĐT trong các chương sau. Chƣơng 3: Đặc trưng ngữ nghĩa của động từ tiếng Nhật - Trường hợp một số động từ tiêu biểu Khảo sát, phân tích để làm rõ đặc trưng ngữ nghĩa của các ĐT tiêu biểu từ hai góc độ tiếp cận là đa nghĩa và đồng nghĩa.
Chƣơng 4: Đặc trưng ngữ dụng của động từ tiếng Nhật, đặc điểm ngôn từ của N. Souseki và những ứng dụng trong giảng dạy Phân tích để làm rõ đặc trưng ngữ dụng của ĐT qua việc khảo sát hoạt động một số động từ ngữ vi tiêu biểu, tập trung phân tích hành chức của các cặp đối ứng nội động - ngoại động, khảo sát dạng hoạt động của ĐT liên quan đến việc chỉ xuất nhân vật, đến phạm trù lịch sự trong tiếng Nhật. Từ những kết quả nghiên cứu về ngữ nghĩa, ngữ dụng của ĐT, chỉ ra một số đặc trưng ngôn từ của N.Souseki qua cách sử dụng ĐT và những ứng dụng trong giảng dạy. 7 Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1.
Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Nghiên cứu ngôn ngữ trong các tác phẩm của N.Souseki Ở Nhật Bản, bên cạnh rất nhiều nghiên cứu mang tính đặc thù văn học, đã có một số công trình nghiên cứu các tác phẩm văn học của N.Souseki dưới góc độ ngôn ngữ học. Tuy nhiên, có thể nói rằng những vấn đề ngôn ngữ mà các nghiên cứu này đề cập tới còn lẻ tẻ, chưa thực sự thành hệ thống. Đó là: - Nghiên cứu về các đơn vị ngôn ngữ cũng như các phương tiện biểu hiện ngữ pháp trong tiếng Nhật như nghiên cứu của Rinkiun hay các nghiên cứu của Terada Tomomi.
Trong đó, Rikiun (1995) tập trung khảo sát các cách diễn đạt có chứa reru, rareru được sử dụng trong “Botchan”. Theo tác giả, các phụ tố reru, rareru trong tác phẩm này được sử dụng theo nguyên tắc chung với các ý nghĩa ngữ pháp là biểu hiện khả năng, sự tình mang tính tự phát, sự tôn kính và dạng bị động. Tác giả đi sâu khảo sát dạng bị động, đặc biệt là dạng bị động với nghĩa “bị làm phiền” (meiwakuukemi 迷惑受身) và đưa ra một số đề xuất trong giảng dạy [149]. Theo đó, các tiểu từ tình thái cuối câu như “koto”, “wa” là những cách nói riêng của nữ giới, “zo” là cách nói riêng của nam giới.
Tác giả cũng khảo sát các cách nói được cả hai giới sử dụng trong tác phẩm, từ đó đưa ra một số nhận định về mối tương quan giữa việc sử dụng các tiểu từ tình thái cuối câu với việc sử dụng kính ngữ [112]. - Nghiên cứu về phong cách ngôn ngữ nhà văn như các nghiên cứu của Otani (2007), Rishunran (2010). Trong đó, Otani (2007) đã phân tích một số ví dụ trích dẫn từ 11 cuốn tiểu thuyết của N.Souseki và cho rằng: điểm thú vị về ngôn ngữ tạo nên tiếng cười cho tiểu thuyết của N.Souseki là những lối chơi chữ, các cách nói tỉ dụ, thậm xưng, cách diễn đạt dài dòng cụ thể quá mức cũng như cách bố cục tạo ra độ lệch giữa các câu từ trong diễn đạt [49]. Từ sự tương ứng giữa việc sử dụng hay không sử dụng kính ngữ trong các lời thoại và lời dẫn miêu tả suy nghĩ của Botchan về các nhân vật khác, tác giả phân tích thái độ, tình cảm của Botchan đối với họ, góp phần làm sáng tỏ dụng ý sử dụng ngôn từ của nhà văn [156].
- Bên cạnh đó, còn có nghiên cứu về cách sử dụng các loại chữ viết, cụ thể là sự sử dụng chữ Kana3 trong bản thảo của N.Souseki của Narita Tetsuo (2008). Tác giả đã chỉ ra rằng: ngoài các trường hợp từ ngoại lai được ghi bằng chữ Kana như “paipu” (tẩu)… như quy định chung, còn có những từ tuy là thuần Nhật nhưng vẫn được ghi bằng chữ Kana như các từ chỉ sinh vật như “inago” (cào cào).), các từ tượng thanh như “ohoho” (ohôhô)…; có những từ tuy là từ ngoại lai nhưng lại được ghi bằng chữ Hán như “tabako” (thuốc lá)., lại có những từ khi được ghi bằng chữ Hán, khi được ghi bằng chữ Kana như hankachi (khăn tay), shatsu (áo sơ mi).; và đưa ra những kiến giải riêng cho từng trường hợp [120]. Như vậy, qua sự tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy rằng hiện chưa có nhiều nghiên cứu về tiếng Nhật thông qua các tác phẩm văn học của N.Souseki và chúng cũng chỉ dừng lại ở những khảo sát nhỏ lẻ. Trong số các nghiên cứu này, đáng kể nhất là công trình của Terada.
Bà đã phần nào đưa ra được một số nhận định về đặc trưng ngôn ngữ của N.Souseki và đặc trưng của tiếng Nhật thời kì đầu Minh Trị. Tuy nhiên, những vấn đề liên quan tới ĐT vẫn c n chưa được đề cập đến một cách thỏa đáng. Đây cũng chính là mảng vấn đề mà luận án đặt ra cho nghiên cứu của mình. Nghiên cứu về động từ tiếng Nhật nói chung Với vai trò to lớn trong việc tạo ra các phát ngôn, cùng với sự phát triển của ngành nghiên cứu ngôn ngữ Nhật tại Nhật Bản, ĐT tiếng Nhật luôn thu hút sự quan tâm của rất nhiều học giả cũng như các nhà nghiên cứu ngôn ngữ.
Có thể phân loại các nghiên cứu về ĐT tiếng Nhật thành các khuynh hướng lớn như sau: a) Đặt ĐT trong quan hệ tổng thể của các vấn đề ngữ pháp tiếng Nhật: Những nghiên cứu về ĐT theo hướng này gắn liền với những nghiên cứu về các phạm trù ngữ pháp trong tiếng Nhật. Tiêu biểu trong số đó là các công trình 3 Là hệ thống văn tự được người Nhật sáng tạo ra bằng cách giản hoá thảo thư của chữ Hán nhằm ghi lại mọi âm vận trong tiếng Nhật. 9 “Một cách phân loại động từ tiếng Nhật” của Kindaichi Haruhiko (1950), "Thể của động từ Tiếng Nhật" của Kindaichi (1976), công trình “Bàn về việc nghiên cứu thể - một bước mới theo Kindaichi” của Okuta (1977) hay công trình “Thời và thể trong tiếng Nhật hiện đại” của Shibatani (1979), “Phạm trù dạng” của Nita Yoshio (1981), “Ý nghĩa và sự tạo câu của động từ tiếng Nhật- xung quanh vấn đề thời và thể” của Nita Yoshio (1982), “Thời và thể trong tiếng Nhật hiện đại” của Takahashi Taro (1985), “Phương diện sự tình và tình thái của thời và thể” của Teramura (1982), “Cú pháp và ý nghĩa tiếng Nhật” của Teramura (1984), “Động từ và phạm trù dạng” của Kageyama Taro (1989), “Dạng và tính ngoại động trong tiếng Nhật” của Nita Yoshio (1991), “Ngữ pháp hình tròn đồng tâm của tiếng Nhật” của Minami Fuji (1993), “Nghiên cứu ngữ pháp ngữ nghĩa của động từ” của Morita (1994), “Động từ tiếng Nhật” của Kayano Naoko (2001), “Hệ thống thời, thể và văn bản - các cách biểu hiện thời trong tiếng Nhật” của Kudou Mayumi (1995), “Hệ thống thời, thể, tình thái trong tiếng Nhật - Vượt qua những nghiên cứu về tiếng Nhật chuẩn” của Kudou Mayumi (2004) [65], [66], [70], [71], [113], [123], [124], [135]. b) Chỉ tập trung nghiên cứu về ĐT hoặc một số nhóm nhỏ trong ĐT: Trước tiên, có thể thấy rằng trong các công trình lớn tổng hợp nhiều vấn đề về ĐT như các công trình của Morita (1981), Nita (1984)., các tác giả đều có những phần riêng đi sâu bàn luận về ĐT theo các tiểu loại, các nhóm có chung đặc trưng nào đó như ĐT chỉ sự biến đổi, sự chuyển động, sự cho nhận.
- Từ những năm 50 của thế kỉ XX cho đến nay, đã có hàng loạt công trình nghiên cứu về các ĐT phức4 trong tiếng Nhật, từ những nghiên cứu về ĐT phức nói chung cho tới từng trường hợp các yếu tố đứng sau trong câu trúc như các nghiên cứu của Takebe (1953), Okuda (1984), Himeno (1999) [107], [57], [151]. - Các nghiên cứu về nội động từ và ngoại động từ trong tiếng Nhật của Okutsu (1967), Hayatsu (1989). Trong đó, tiêu biểu là nghiên cứu của Sato Takuzo (2005) khi bàn về ý nghĩa của câu được tạo thành từ các NĐT và NGĐT [59], [96], [148]. - Các nghiên cứu về nhóm các ĐT thể hiện sự cho - nhận như nghiên cứu của các tác giả Okutsu (1986), Kubo Miori (1998), Sou Eisen (2002), Machita (1999) [60], [77], [101], [132].
4 Các nhà Nhật ngữ học thường gọi ĐT ghép từ hai ĐT là các ĐT phức 10 Bên cạnh đó c n có các nghiên cứu về nhóm ĐT chỉ giá trị, nhóm ĐT chỉ quan hệ, nhóm ĐT chỉ sự biến đổi tình cảm của Yamaoka Masaki (2000), nghiên cứu về các ĐT phản thân của Sachiekure (2012) [97], [157], [160], [159], [161], [162]. c) Xem xét hoạt động của các ĐT trong các cách dùng cụ thể: “Nghiên cứu mô tả ý nghĩa, cách dùng của ĐT tiếng Nhật” của Miyajima Tatsuo (1972) là một công trình lớn của Viện nghiên cứu ngôn ngữ quốc gia Nhật Bản. Với quan điểm cho rằng “trong việc giải nghĩa của từ một cách chính xác thì không có việc gì quan trọng bằng việc sưu tập càng nhiều càng tốt các trường hợp sử dụng cụ thể. Từ rất nhiều trường hợp cụ thể đó, chúng ta sẽ tự lí giải cả trăm thắc mắc và làm dịu đi cả ngàn ý kiến tranh cãi.” [82;8], Miyajima đã công bố một công trình đồ sộ mô tả nghĩa của ĐT tiếng Nhật.
Trước tiên, ông mô tả cụ thể những đặc trưng ngữ nghĩa mà ông cho rằng chúng giúp phân biệt một cặp ĐT. Cụ thể là, với một cặp đối lập A - B, tác giả phân biệt những trường hợp A và B được sử dụng thay thế cho nhau gọi là “cách sử dụng AB”, và những trường hợp chỉ riêng A hoặc B mới được sử dụng gọi là “cách sử dụng A” và “cách sử dụng B”, từ đó khu biệt đặc trưng về nghĩa cho A và B.