Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ ngữ học mang tên "Nhóm động từ chỉ hoạt động nhận thức trong tiếng Việt (liên hệ với tiếng Anh)" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thu Hà thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Thị Bạch Nhạn, bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học – Đại học Huế năm 2016 (Chuyên ngành: Ngôn ngữ học, Mã số: 62 22 02 40).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Hoạt động nhận thức là hoạt động bản chất, đặc thù nhằm định tính con người về mặt xã hội. Bản chất của hoạt động này mang tính tinh thần, hoàn toàn trừu tượng và chỉ được ngoại hiện ra bên ngoài thông qua phương tiện ngôn ngữ. Trong tiếng Việt, con người đã định danh hoạt động nhận thức thông qua một hệ thống từ ngữ phong phú (biết, nghĩ, hiểu, tưởng, nhớ, quên...).

Tuy nhiên, trong giới Việt ngữ học, trường từ vựng - ngữ nghĩa chỉ hoạt động nhận thức chưa từng được khảo sát một cách toàn diện và chuyên biệt. Các công trình ngữ pháp trước đây chỉ đề cập tản mạn, xếp các động từ này vào các nhóm từ loại khác nhau hoặc chỉ dùng để minh họa cho các luận điểm ngữ pháp, logic - ngữ nghĩa rời rạc. Việc thiếu vắng một công trình nghiên cứu có hệ thống từ bình diện ngữ pháp, ngữ nghĩa đến ngữ dụng học, kết hợp góc nhìn của ngữ nghĩa học tri nhận và đối chiếu với tiếng Anh, chính là khoảng trống khoa học mà luận án tập trung giải quyết.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Để giải quyết khoảng trống học thuật trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số như sau:

  1. Khảo sát và làm rõ đặc điểm ngữ pháp của nhóm động từ chỉ hoạt động nhận thức trong tiếng Việt theo đường hướng tiếp cận của ngữ pháp cấu trúc và ngữ pháp chức năng;
  2. Khảo sát đặc điểm ngữ nghĩa của nhóm động từ chỉ hoạt động nhận thức trong tiếng Việt theo hướng của ngữ nghĩa học truyền thống, bước đầu vận dụng ngữ nghĩa học tri nhận để chỉ ra cơ sở tri nhận liên quan đến hiện tượng chuyển nghĩa và đa nghĩa;
  3. Khảo sát đặc điểm và chức năng ngữ dụng của một số biểu thức ngôn ngữ có chứa động từ chỉ hoạt động nhận thức trong tiếng Việt;
  4. Thực hiện việc liên hệ, so sánh đối chiếu với tiếng Anh ở những điểm cơ bản và cần thiết nhằm làm nổi bật các đặc trưng ngữ pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng của nhóm động từ nhận thức tiếng Việt.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Nhóm động từ chỉ hoạt động nhận thức trong tiếng Việt và một số động từ tiếng Anh tương ứng (think, know, understand, believe, see...).
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Tập trung vào các động từ biểu thị hoạt động nhận thức lí tính hoặc liên quan đến lí tính, có tư cách nguyên tố ngữ nghĩa hoặc có tần số xuất hiện cao (biết, nghĩ, hiểu, tin, cho rằng/là, ngờ, tưởng, sợ, nhớ, quên...).
    • Chỉ khảo sát tư cách từ thường dùng, không khảo sát tư cách thuật ngữ khoa học chuyên sâu (tư duy, suy luận...).
    • Loại trừ các động từ biểu thị nhận thức cảm tính (nghe, sờ, nếm, ngửi, trông, nhìn, xem...), ngoại trừ trường hợp đã chuyển nghĩa sang nhận thức lí tính như động từ thấy. Loại trừ các trường hợp chuyển nghĩa mang tính khẩu ngữ hoặc địa phương (ngó, coi bộ...).
    • Bao quát các trường hợp phái sinh hoặc cụm từ hóa đã được từ điển giải nghĩa (cho là/rằng, nhận ra, nhận thấy...).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu ở nước ngoài

Luận án điểm lại hệ thống công trình quốc tế trên ba bình diện:

  1. Bình diện ngữ pháp - ngữ nghĩa:
    • Khái niệm động từ chêm xen (parenthetical verbs) do Urmson (1952) đề xuất khi khảo sát ngôi thứ nhất đi với động từ tinh thần (believe, guess, suppose, suspect), được Barners (1963), Charlesworth (1965), Mackenzie (1987) tiếp tục phát triển. Thompson và Mulac (1991) vận dụng lí thuyết ngữ pháp hóa (grammaticalization) để giải thích cấu trúc chêm xen hoạt động như trạng từ tình thái (modal adverbs). Aijmer (1997) xác định cấu trúc I think đã ngữ pháp hóa thành tiểu từ tình thái (modal particle).
    • Phân loại động từ hàm thực (factive verbs: know, realize, forget) và động từ vô hàm (non-factive verbs: think, believe, suppose) của Kiparsky (1971) và Leech (1974) dựa trên tiêu chí tiền giả định về tính chân thực của mệnh đề phụ đi kèm.
    • Ngữ pháp chức năng của Halliday (1985/2004) xếp động từ nhận thức (think, know) vào quá trình tinh thần - tiểu loại quá trình tri nhận, đặc trưng bởi cảm thể (senser) là con người và hiện tượng (phenomenon).
  2. Bình diện ngữ nghĩa học và ngôn ngữ học tri nhận:
    • Nghiên cứu trường nghĩa trí tuệ từ Trier (1931); phân tích đa nghĩa động từ think dựa trên tiêu chí thời gian của Vendler (1967) và hướng tiếp cận phiếm thời luận (panchronic perspective) của Persson (1993) khi truy nguyên gốc từ tiếng Anh cổ pencan (quá trình suy nghĩ) và pyncan (nhận định, có vẻ như).
    • Lí thuyết nguyên tố ngữ nghĩa (semantic primitives) của Wierzbicka (1972, 1992, 1996, 1998) xác định think và know là các nguyên tố ngữ nghĩa phổ quát xuyên ngôn ngữ.
    • Apresjan (1993, 1995) phân tích quan hệ đồng nghĩa, gần nghĩa và tính hàm thực của các vị từ nhận thức tiếng Nga (schitat’, znat’, vedat’, dumat’...). Cappelli (2008) nghiên cứu hiện tượng trái nghĩa giữa know với think/believe qua ngữ liệu thực nghiệm.
    • Goddard (2003), Goddard và Karlsson (2003) nghiên cứu đối chiếu think trong tiếng Anh với tanka, tro, tycka trong tiếng Thụy Điển; Yu (2003) nghiên cứu ẩn dụ tri nhận về suy nghĩ trong tiếng Hán (thinking in the heart or mind); Iraide (1999), Evans và Wilkins (2000) nghiên cứu sự chuyển nghĩa từ động từ tri giác sang nhận thức.
  3. Bình diện ngữ dụng học:
    • Khảo sát các tác tử ngữ dụng (pragmatic markers) trong đàm thoại như I don't know (Tsui 1991, Scheibman 1999, Grant 2010), You know (Schiffrin 1987, Fox Tree & Schrock 2002), I think (Vandenbergen 2000, Van 2011).
    • Vận dụng lí thuyết hành vi ngôn ngữ, nguyên tắc cộng tác đàm thoại của Grice (1975) và lí thuyết lịch sự của Brown và Levinson (1978).

Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam

  • Bình diện ngữ pháp: Hoàng Tuệ (1962) xếp biết, hiểu, nhớ vào trạng thái tâm lí - ý thức, nghĩ vào hoạt động. Nguyễn Kim Thản (1977) phân loại động từ thành 6 nhóm, xếp biết, hiểu, tin vào nhóm động từ tình cảm, am hiểu, am tường vào động từ tri giác. Nguyễn Tài Cẩn (1977) xếp biết, nhớ, tin, ngờ vào nhóm động từ cảm nghĩ dựa trên khả năng kết hợp phụ từ chỉ mức độ và kết thúc. Nguyễn Thị Quy (1995) phân loại vị từ nhận thức theo tham số ngữ nghĩa [+/- động] và [+/- chủ ý] của Dik (1978). Hoàng Văn Vân (2002, 2005) nghiên cứu cú tiếng Việt theo ngữ pháp chức năng Halliday.
  • Bình diện ngữ nghĩa: Đỗ Hữu Châu (1978) phân tích nét nghĩa [+/- năng lực tinh thần]; Hoàng Phê (1989), Cao Xuân Hạo (1993) phân tích tiền giả định hàm chân (biết), hàm ngụy (tưởng) và vô hàm (nghĩ); Nguyễn Ngọc Trâm (1989) nghiên cứu cặp từ trái nghĩa bộ phận tin - ngờ; Hoàng Phê (1984), Nguyễn Ngọc Trâm (2002), Nguyễn Văn Hiệp (2008) nghiên cứu sự hư hóa của các kết cấu Tôi nghĩ rằng, Tôi tin là dưới tên gọi động từ trong ngoặc, vị từ chỉ thái độ mệnh đề.
  • Bình diện ngữ dụng: Đỗ Hữu Châu (2009) bước đầu chỉ ra chức năng tương tác, rào đón lịch sự của một số biểu thức chứa động từ nhận thức (Hiểu không, Như mọi người đều biết).

Vị trí và giải pháp của luận án

Luận án tổng hợp và mở rộng các nghiên cứu đơn lẻ đi trước, xác lập hệ thống 211 động từ nhận thức tiếng Việt, tiến hành phân tích đa chiều: phân tích ngữ pháp cấu trúc kết hợp ngữ pháp chức năng, miêu tả cấu trúc nghĩa hệ thống kết hợp mô hình phạm trù đường rọi của ngôn ngữ học tri nhận, và lần đầu tiên áp dụng lí thuyết ngữ dụng hóa, tác tử ngữ dụng để phân tích các biểu thức đàm thoại tiếng Việt có đối chiếu với tiếng Anh.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm công cụ

  1. Khái niệm Động từ nhận thức (cognition verbs): Là một tiểu nhóm thuộc động từ tinh thần (mental verbs), chỉ các hoạt động trí tuệ (nghĩ, đoán...), quá trình nhận thức (nhận ra, nhận thấy...) hoặc trạng thái trí tuệ (biết, hiểu, nhớ, quên...), phân biệt với động từ tri giác (perception verbs) và động từ cảm xúc/tình cảm (emotion verbs).
  2. Khung ngữ pháp:
    • Tiêu chí từ loại cấu trúc luận: Ý nghĩa khái quát, khả năng kết hợp, chức năng cú pháp (Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Kim Thản, Đinh Văn Đức).
    • Cấu trúc tham tố vị từ của Tesnière (1959) và Nguyễn Văn Hiệp (2008).
    • Phân loại sự thể theo Simon Dik (1978) qua hai tham số ngữ nghĩa [+/- động] và [+/- chủ ý].
    • Lí thuyết động từ chêm xen (Urmson 1952) và lí thuyết ngữ pháp hóa (Meillet 1948, Hopper & Traugott 2003).
  3. Khung ngữ nghĩa:
    • Lí thuyết trường nghĩa (Trier 1931, Ullmann 1951).
    • Lí thuyết thành phần nghĩa và tiền giả định (Hoàng Phê 1989, Kiparsky 1971).
    • Lí thuyết nguyên tố ngữ nghĩa (Wierzbicka 1972).
    • Lí thuyết ngữ nghĩa học tri nhận: Mô hình "phạm trù đường rọi" (radical categories) của Lakoff (1987) và chuỗi nghĩa (meaning chains) của Taylor (1995).
    • Tình thái nhận thức (epistemic modality) của Bally (1961) và mô hình tính hữu chứng (evidentiality) của Cappelli (2008).
  4. Khung ngữ dụng:
    • Lí thuyết ngữ dụng hóa và tác tử ngữ dụng (Aijmer 1997, Fraser 1988, 2006, Diewald 2011).
    • Nguyên tắc cộng tác hội thoại và 4 phương châm đàm thoại của Grice (1975).
    • Lí thuyết lịch sự âm tính và lịch sự dương tính của Brown và Levinson (1978).
    • Lí thuyết hàm ngôn quy ước và hàm ngôn hội thoại (Grice 1975, Đỗ Hữu Châu 2009).

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp miêu tả (phương pháp chủ đạo):
    • Thủ pháp trường nghĩa: Tập hợp 211 động từ nhận thức vào trường từ vựng - ngữ nghĩa.
    • Thủ pháp thống kê: Xác định số lượng, tỉ lệ phần trăm, tần số xuất hiện của các đơn vị trên ngữ liệu khảo sát.
    • Thủ pháp phân tích vị từ - tham tố: Xác định các vai nghĩa, tham tố bắt buộc và không bắt buộc.
    • Thủ pháp phân tích văn cảnh: Xác định các nét nghĩa phái sinh, khả năng kết hợp cú pháp.
    • Thủ pháp phân tích nguyên tử/nguyên tố ngữ nghĩa: Dùng từ then chốt làm siêu ngôn ngữ giải thích nghĩa.
    • Thủ pháp phân tích nét nghĩa: Xác định cấu trúc nội tại của các vị từ.
    • Thủ pháp thay thế: Xác lập quan hệ đồng nghĩa, gần nghĩa, đối lập.
  • Phương pháp so sánh - đối chiếu (phương pháp bổ trợ): Đối chiếu các cấu trúc tiếng Việt với tiếng Anh tương ứng nhằm làm nổi bật đặc trưng loại hình.

Nguồn tư liệu và ngữ liệu khảo sát

  • Nguồn từ điển: Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên, 2011, Viện Ngôn ngữ học, 41.300 mục từ); Từ điển thành ngữ tiếng Việt (Nguyễn Như Ý); Oxford Advanced Learner's Dictionary (Hornby, 2005); Từ điển trực tuyến Merriam-Webster và Oxford.
  • Ngữ liệu khảo sát thực tế: 1.182 trang văn bản trích từ các tác phẩm văn học Việt Nam (Ăn mày dĩ vãng, Cung oán ngâm khúc, Giã biệt bóng tối, Hồn Trương Ba da hàng thịt, Mê lộ, Nỗi buồn chiến tranh, Truyện Kiều, Tướng về hưu, Thời xa vắng...); các ấn phẩm báo chí (Mục Thời sự & Suy nghĩ báo Tuổi trẻ, phóng sự, phỏng vấn báo chí năm 2012); khẩu ngữ đàm thoại thực tế và một số câu kiểm chứng ngữ cảm học thuật.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan và cơ sở lí thuyết

Chương 1 hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu động từ nhận thức trên thế giới và tại Việt Nam. Tác giả làm rõ bản chất của hoạt động nhận thức từ ba phương diện:

  • Phương diện triết học: Phản ánh con đường nhận thức chân lí biện chứng từ trực quan sinh động (nhận thức cảm tính) đến tư duy trừu tượng (nhận thức lí tính) và thực tiễn.
  • Phương diện tâm - sinh lí học: Sự vận hành của não bộ (30 đến 100 tỉ nơron, 60.000 suy nghĩ mỗi ngày) và các biểu hiện cơ thể hóa (hoán dụ cử chỉ nét mặt: vò đầu bứt tai, chau mày, nhức óc, nặn óc...).
  • Phương diện ngôn ngữ học: Ngôn ngữ giúp tuyến tính hóa các hoạt động tư duy tinh thần phi tuyến tính; phân biệt nhận thức khoa học với "hiểu biết ngây thơ" mang tính chủ quan, siêu việt (trực giác, lóe sáng, biết trước). Chương này thiết lập hệ thống 10 mô hình lí thuyết (như mô hình phạm trù đường rọi, mô hình tính hữu chứng, mô hình ngữ pháp hóa và ngữ dụng hóa) làm nền tảng cho việc phân tích thực nghiệm ở các chương sau.

Chương 2. Đặc điểm ngữ pháp của nhóm động từ chỉ hoạt động nhận thức trong tiếng Việt (liên hệ với tiếng Anh)

Chương 2 phân tích đặc trưng ngữ pháp của 211 động từ nhận thức tiếng Việt (chiếm 0,5% vốn từ vựng trong Từ điển tiếng Việt 2011).

Bảng tổng hợp phân loại 211 động từ nhận thức tiếng Việt

Tiêu chí phân loại Phân loại thành phần Số lượng Tỉ lệ (%) Động từ minh họa tiêu biểu
Theo nguồn gốc ngữ nghĩa Động từ có nghĩa gốc 129 61% biết, nghĩ, hiểu, ngờ, tin, nhớ, quên...
Động từ có nghĩa phái sinh 82 39% rõ, thủng, thấy, coi, xem, nhận ra...
Tổng cộng ngữ nghĩa 211 100%
Theo tư cách ngữ pháp Động từ chính danh 184 87% biết, nghĩ, hiểu, ngờ, tin, tính...
Kiêm loại Động từ - Tính từ 27 13% lầm/nhầm, lộn, sành, rành, lú lẫn, mù tịt...
Tổng cộng ngữ pháp 211 100%

Bảng tần số xuất hiện của 8 động từ nhận thức phổ biến (trên 1.182 trang ngữ liệu)

STT Động từ Số lần xuất hiện / 1.182 trang Tần số xuất hiện / 1 trang văn bản
1 biết 1.843 ≈ 1,6 lần
2 nghĩ 624 ≈ 0,5 lần
3 hiểu 542 ≈ 0,5 lần
4 nhớ 377 ≈ 0,3 lần
5 tin 226 ≈ 0,2 lần
6 tưởng 176 ≈ 0,1 lần
7 quên 166 ≈ 0,1 lần
8 ngờ 83 ≈ 0,07 lần
  • Tiếp cận theo ngữ pháp cấu trúc:
    • Ý nghĩa khái quát: Biểu thị các sự thể tinh thần trừu tượng, không chỉ hoạt động cơ học vật lí.
    • Khả năng kết hợp: Phân biệt với động từ hành động vật chất ở chỗ không kết hợp với phụ tố chỉ sự hoàn tất cơ học triệt để (ăn xong, đọc xong >< biết xong*, hiểu xong*); có khả năng kết hợp với phó từ chỉ mức độ (rất, hơi, quá, lắm: rất tin, hơi ngờ, quá hiểu); kết hợp đặc thù với bổ ngữ là một mệnh đề/câu (P: Tôi biết [anh không đến]).
    • Chức năng cú pháp: Làm vị ngữ chính, tham gia các kết cấu chêm xen, định ngữ hoặc làm trung tâm của cụm vị từ nhận thức.
  • Tiếp cận theo ngữ pháp chức năng:
    • Cấu trúc tham tố: Vị từ nhận thức quy định bộ sậu các vai nghĩa bắt buộc gồm Nghiệm thể / Cảm thể (Experiencer/Senser - bắt buộc là thực thể có ý thức, con người) và Đối thể nhận thức / Hiện tượng (Phenomenon - có thể là một thực thể sự vật, khái niệm hoặc một mệnh đề sự tình P).
    • Phân loại theo tham số ngữ nghĩa [+/- động] và [+/- chủ ý]:
      • Hành động nhận thức [+ động, + chủ ý]: nghĩ, suy nghĩ, đoán, tính toán...
      • Trạng thái nhận thức [- động, - chủ ý]: biết, hiểu, nhớ, quên, tin...
      • Quá trình nhận thức [+ động, - chủ ý]: nhận ra, nhận thấy, ngộ ra, hiểu ra...
      • Tồn tại các vị từ dao động trung gian giữa các thuộc tính như nghi, ngờ, ngờ vực.

Chương 3. Đặc điểm ngữ nghĩa của nhóm động từ chỉ hoạt động nhận thức trong tiếng Việt (liên hệ với tiếng Anh)

Chương này tập trung giải phẫu cấu trúc ngữ nghĩa nội tại và mạng lưới quan hệ ngữ nghĩa:

  • Cấu trúc ngữ nghĩa theo tiêu chí nét nghĩa đánh giá và tiền giả định (TGĐ):
    • Phân loại vị từ theo giá trị chân ngụy của mệnh đề bổ ngữ P:
      • Động từ hàm thực / hàm chân (chứa TGĐ mệnh đề P là đúng sự thật): biết, hiểu, nhận ra, nhận thấy, quên... (Ví dụ: "Anh ta quên là đã hẹn tôi" tiền giả định sự việc hẹn là có thật).
      • Động từ hàm ngụy (TGĐ mệnh đề P là sai sự thật khách quan): tưởng, ngỡ, cứ ngỡ...
      • Động từ vô hàm (không tiền giả định tính chân thực của P, tính đúng/sai phụ thuộc vào ngữ cảnh): nghĩ, tin, ngờ, đoán, cho rằng...
  • Hiện tượng đa nghĩa của động từ nghĩ (đối chiếu với think):
    • Phân tích đa nghĩa từ góc độ ngữ nghĩa học truyền thống và ngữ nghĩa học tri nhận.
    • Vận dụng mô hình "phạm trù đường rọi" (radical category) của Lakoff (1987): nghĩ có ý niệm trung tâm điển dạng là hoạt động tư duy trí óc (NGHĨ 1 - cogitate/ngẫm), từ đó tỏa ra các nhánh nghĩa biên phái sinh như đánh giá/nhận định chủ quan (NGHĨ 2 - find/seem/thấy), tin tưởng/cho là (NGHĨ 3 - believe/tin), nhớ đến/hướng tâm lí (NGHĨ 4 - care/chăm lo, lo nghĩ).
  • Hiện tượng đồng nghĩa, gần nghĩa và bao nghĩa (biết - hiểu):
    • Xác lập ranh giới ngữ nghĩa và tầm kết hợp cú pháp (collocational range): biết phản ánh sự tiếp nhận, lưu trữ thông tin/sự kiện ở bề mặt (diện rộng); hiểu phản ánh sự thấu suốt bản chất, quan hệ nhân quả quy luật (chiều sâu). Phân tích cặp quan hệ trái nghĩa bộ phận tin - ngờ.
  • Các đặc điểm ngữ nghĩa đặc thù:
    • Hiện tượng trung gian giữa nhận thức và tình cảm: Các vị từ mang tính đan xen như tin, sợ, ngờ, lo nghĩ.
    • Sự chuyển nghĩa từ tri giác sang nhận thức: Trường hợp động từ thấy trong tiếng Việt (tương ứng với see trong tiếng Anh). Khi là động từ tri giác thị giác, thấy đòi hỏi đối tượng cụ thể; khi chuyển nghĩa sang nhận thức lí tính (thấy rằng/là), thấy đóng vai trò như một vị từ đánh giá/nhận định, nhận bổ ngữ là một mệnh đề trừu tượng.
    • Khả năng biểu thị tình thái nhận thức: Khảo sát cấu trúc Tôi nghĩ, phân tích thang độ xác tín và tính hữu chứng theo mô hình của Cappelli (2008).

Chương 4. Đặc điểm ngữ dụng của một số biểu thức ngôn ngữ có chứa động từ chỉ hoạt động nhận thức trong tiếng Việt (liên hệ với tiếng Anh)

Chương 4 khảo sát quá trình ngữ dụng hóa (pragmaticalization) và chức năng hành chức của các biểu thức ngôn ngữ:

  • Quá trình hình thành tác tử ngữ dụng: Các cấu trúc chứa động từ nhận thức (Tôi nghĩ, Tôi thấy, Tôi biết, Anh biết đấy, Biết đâu, Ai ngờ, Ai mà biết được...) trải qua quá trình ngữ dụng hóa, làm mờ nhạt nghĩa miêu tả gốc để trở thành các tác tử ngữ dụng (pragmatic markers) hoặc tiểu từ đàm thoại.
  • Các chức năng ngữ dụng tiêu biểu:
    • Chức năng tổ chức và tương tác hội thoại: Dùng để mở đầu lượt lời, duy trì tiếp xúc, chuyển giao lượt lời hoặc kiểm soát luồng thông tin đàm thoại (Hiểu không?, Biết không?, Bạn biết đấy... tương ứng với You know, You see trong tiếng Anh).
    • Chức năng nối kết chủ quan (intersubjectivity): Thiết lập nhận thức chung, tạo sự đồng thuận và kéo người nghe vào cùng điểm nhìn với người nói.
    • Chức năng cộng tác hội thoại: Tuân thủ nguyên tắc cộng tác của Grice (1975). Việc sử dụng Tôi nghĩ, Tôi cho là thể hiện người nói tuân thủ phương châm về chất (maxim of quality), chỉ đưa ra thông tin mà mình có bằng chứng nhận thức nhất định và không khẳng định tuyệt đối quá mức.
    • Chiến lược lịch sự (Brown & Levinson 1978):
      • Lịch sự âm tính: Dùng các biểu thức ngập ngừng, dè dặt (Tôi nghĩ, Tôi e rằng, Thiển nghĩ, Nếu tôi không lầm...) làm phương tiện giảm nhẹ mức độ áp đặt, tôn trọng không gian tinh thần của đối tác giao tiếp.
      • Lịch sự dương tính: Dùng các biểu thức rào đón khẳng định tri thức chung (Như chúng ta đã biết, Ai cũng biết rằng...) nhằm đề cao người tiếp nhận và củng cố sự hòa đồng.
    • Hàm ngôn quy ước và hàm ngôn hội thoại: Tạo ra các hàm ý tinh tế trong giao tiếp, cho phép người nói truyền tải thông điệp đánh giá mà không phải chịu trách nhiệm trực tiếp về tính xác quyết của mệnh đề.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lí luận

  1. Xác lập diện mạo hoàn chỉnh của trường từ vựng nhận thức: Luận án là công trình chuyên biệt đầu tiên trong Việt ngữ học khảo sát toàn diện, bao quát nhóm động từ nhận thức với quy mô 211 đơn vị (gồm 129 động từ gốc và 82 động từ phái sinh), bổ sung một trường từ vựng - ngữ nghĩa quan trọng vào hệ thống ngữ nghĩa tiếng Việt.
  2. Phát triển phương pháp tiếp cận đa tầng bậc: Kết hợp thành công các khung lí thuyết hiện đại: ngữ pháp cấu trúc, ngữ pháp chức năng (cấu trúc tham tố, phân loại sự thể), ngữ nghĩa học logic (tiền giả định), ngữ nghĩa học tri nhận (mô hình phạm trù đường rọi) và ngữ dụng học (tác tử ngữ dụng, ngữ dụng hóa).
  3. Làm rõ cơ chế chuyển nghĩa và tổ chức ý niệm: Chỉ ra quy luật chuyển dịch ngữ nghĩa từ tri giác sang nhận thức (thấy -> thấy rằng), sự thâm nhập giữa nhận thức và tình cảm, cùng cơ sở tri nhận trong sự mở rộng đa nghĩa của động từ nghĩ trong thế đối sánh với think của tiếng Anh.
  4. Giới thiệu và thực nghiệm các khái niệm ngữ dụng mới: Bước đầu xác lập và vận dụng các khái niệm ngữ dụng hóa (pragmaticalization), tác tử ngữ dụng (pragmatic markers), tính hữu chứng (evidentiality) vào phân tích ngữ liệu tiếng Việt.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Ứng dụng trong biên soạn từ điển học: Cung cấp các tiêu chí phân xuất nét nghĩa, nhận diện từ kiêm loại động từ - tính từ, khắc phục lối giải nghĩa từ điển tĩnh tại bằng cách mô tả từ vựng gắn liền với ngữ cảnh cú pháp và chức năng dụng học.
  2. Ứng dụng trong dịch thuật Anh - Việt và đối chiếu ngôn ngữ: Cung cấp các tương đương dịch thuật chuẩn xác cho các động từ đa nghĩa phức tạp (think, know, see tương ứng với nghĩ, biết, hiểu, thấy) và các tác tử đàm thoại (I think, You know).
  3. Ứng dụng trong giảng dạy ngôn ngữ: Phục vụ trực tiếp cho công tác giảng dạy ngữ pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng tiếng Việt cho học sinh, sinh viên và người nước ngoài học tiếng Việt, đồng thời nâng cao hiệu quả dạy học tiếng Anh chuyên ngành.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án

  • Luận án chỉ giới hạn khảo sát các động từ nhận thức lí tính hoặc liên quan đến lí tính; chưa bao quát toàn diện các động từ nhận thức cảm tính thuần túy (ngoại trừ trường hợp chuyển nghĩa của thấy).
  • Chưa khảo sát sâu các đơn vị nhận thức mang tính khẩu ngữ địa phương đặc thù (ngó, coi bộ...) do yêu cầu tập trung vào lớp từ vựng toàn dân.
  • Chưa khảo sát các động từ nhận thức với tư cách là thuật ngữ khoa học trừu tượng (tư duy, suy luận...).
  • Do dung lượng ngữ liệu và giới hạn đề tài, ở bình diện ngữ dụng, luận án chỉ mới tập trung phân tích sâu trên các động từ và biểu thức nhận thức điển hình (Tôi nghĩ, Tôi thấy, biết, hiểu...), chưa miêu tả cặn kẽ đặc điểm ngữ dụng của toàn bộ 211 động từ trong danh mục.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang toàn bộ lớp động từ tri giác cảm tính và các từ ngữ nhận thức mang tính khẩu ngữ, phương ngữ.
  • Khảo sát sâu hơn sự hành chức của nhóm động từ nhận thức trong các phong cách chức năng ngôn ngữ chuyên biệt như văn bản hành chính, văn bản khoa học, ngôn ngữ truyền thông mạng xã hội hiện đại.
  • Mở rộng đối chiếu đối sánh tiếng Việt với các ngôn ngữ khác ngoài tiếng Anh (tiếng Pháp, tiếng Nga, tiếng Hán, các ngôn ngữ khu vực Đông Nam Á) từ góc nhìn loại hình học và ngôn ngữ học tri nhận.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo dành cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên chuyên ngành Ngôn ngữ học: Tham khảo phương pháp luận tích hợp giữa ngữ pháp cấu trúc, ngữ pháp chức năng, ngữ nghĩa học tri nhận và ngữ dụng học; tham khảo cách thức xử lí ngữ liệu đối chiếu song ngữ.
  • Chuyên gia biên soạn từ điển: Tham khảo cấu trúc 211 động từ nhận thức, các tiêu chí nhận diện từ kiêm loại (động từ - tính từ), cách thức xử lí hiện tượng đa nghĩa và các tác tử ngữ dụng trong mục từ.
  • Biên dịch viên, phiên dịch viên Anh - Việt: Tham khảo các phân tích đối chiếu chi tiết về sắc thái ngữ nghĩa, mức độ xác tín, tính hữu chứng và các chiến lược lịch sự của các biểu thức I think, You know, I know, believe, understand, see so với nghĩ, biết, hiểu, thấy, tin, cho rằng.
  • Giảng viên dạy tiếng Việt cho người nước ngoài và giáo viên tiếng Anh: Ứng dụng các quy tắc kết hợp cú pháp, cấu trúc tham tố, hiện tượng chuyển nghĩa và chiến lược giao tiếp đàm thoại vào thiết kế bài giảng thực hành tiếng.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án thống kê được bao nhiêu động từ chỉ hoạt động nhận thức trong tiếng Việt và phân loại chúng như thế nào?

Dựa trên Từ điển tiếng Việt (2011, Hoàng Phê chủ biên), luận án thống kê được 211 động từ chỉ hoạt động nhận thức (chiếm 0,5% vốn từ từ điển). Hệ thống này được phân loại theo hai trục:

  • Về mặt ngữ nghĩa: 129 động từ có nghĩa gốc (61%) và 82 động từ có nghĩa phái sinh (39%).
  • Về mặt ngữ pháp: 184 động từ chính danh (87%) và 27 từ kiêm loại động từ - tính từ (13%). Ngoài ra, khảo sát trên 1.182 trang ngữ liệu văn bản thực tế cho thấy 8 động từ có tần số xuất hiện cao nhất lần lượt là: biết (1.843 lần), nghĩ (624 lần), hiểu (542 lần), nhớ (377 lần), tin (226 lần), tưởng (176 lần), quên (166 lần), ngờ (83 lần).

2. Sự khác biệt căn bản giữa động từ nhận thức và động từ tri giác là gì?

Động từ tri giác (perception verbs: nhìn, nghe, ngửi, nếm, sờ...) biểu thị hoạt động nhận thức cảm tính trực tiếp thông qua các giác quan vật lí tiếp xúc với đối tượng cụ thể. Ngược lại, động từ nhận thức (cognition verbs: biết, nghĩ, hiểu, tin...) biểu thị hoạt động trí tuệ trừu tượng, phản ánh các quá trình, trạng thái nhận thức lí tính bên trong não bộ. Về mặt cú pháp, động từ nhận thức thường nhận bổ ngữ là một cấu trúc mệnh đề trừu tượng (P). Một số động từ tri giác như thấy có thể chuyển nghĩa sang nhận thức lí tính (thấy rằng/là) khi đảm nhận vai trò vị từ đánh giá.

3. Động từ nhận thức được phân loại như thế nào theo tiêu chí tiền giả định (TGĐ)?

Căn cứ vào tính chân thực của sự tình được truyền đạt trong mệnh đề bổ ngữ P, luận án chia động từ nhận thức thành 3 nhóm:

  • Động từ hàm thực / hàm chân: Tiền giả định P là có thật, đúng với hiện thực khách quan (biết, hiểu, nhận ra, quên...).
  • Động từ hàm ngụy: Tiền giả định P là sai sự thật (tưởng, ngỡ, cứ ngỡ...).
  • Động từ vô hàm: Không chứa tiền giả định về tính chân thực của P; P có thể đúng hoặc sai tùy thuộc ngữ cảnh (nghĩ, tin, ngờ, cho rằng...).

4. Cấu trúc "Tôi nghĩ" (tương ứng với "I think" trong tiếng Anh) hoạt động như thế nào về mặt ngữ dụng?

Cấu trúc Tôi nghĩ trong tiếng Việt (tương tự I think trong tiếng Anh) đã trải qua quá trình ngữ pháp hóa và ngữ dụng hóa. Nghĩa từ vựng chỉ hành động suy nghĩ thuần túy bị làm mờ ("tẩy trắng" ngữ nghĩa), biến cấu trúc này thành một tác tử ngữ dụng / cấu trúc chêm xen chỉ thái độ mệnh đề. Nó thực hiện các chức năng: biểu thị tình thái nhận thức (mức độ cam kết xác tín dè dặt của người nói), tuân thủ phương châm về chất của Grice, thực hiện chiến lược lịch sự âm tính nhằm giảm thiểu tính áp đặt suy nghĩ lên người nghe, và tổ chức luồng tương tác đàm thoại.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà là công trình chuyên khảo hệ thống đầu tiên về nhóm động từ chỉ hoạt động nhận thức trong tiếng Việt trên cả ba bình diện ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng. Thông qua việc xác lập danh mục 211 động từ và vận dụng kết hợp các khung lí thuyết cấu trúc luận, chức năng luận, ngữ nghĩa học tri nhận cùng đối chiếu với tiếng Anh, luận án đã làm sáng tỏ cấu trúc nội tại, cơ chế chuyển nghĩa và quy luật hành chức đàm thoại của nhóm vị từ này. Công trình có đóng góp thiết thực cho sự phát triển của Việt ngữ học hiện đại, đồng thời mang lại giá trị ứng dụng cao cho công tác từ điển học, dịch thuật và giảng dạy ngôn ngữ.