đặt vấn đề người Trung Quốc định vị suy nghĩ của họ ở đâu, trong tim hay trong trí óc (thinking in the heart or mind). Có thể thấy, việc nghiên cứu nhóm từ này và nghiên cứu sự biểu đạt hoạt động nhận thức trong ngôn ngữ ở các công trình nước ngoài phong phú về bình diện nghiên cứu: bình diện ngữ pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng; đa dạng về hướng tiếp cận: hướng so sánh đối chiếu, hướng nghiên cứu đồng đại, lịch đại, hướng nghiên cứu tri nhận. Tình hình nghiên cứu động từ chỉ hoạt động nhận thức ở Việt Nam 1. Ở bình diện ngữ pháp Ở Việt Nam, trường từ vựng biểu thị hoạt động nhận thức chưa được nghiên cứu mà chỉ dừng lại ở lại ở việc mô tả đặc điểm ngữ pháp của chúng trong những công trình ngữ pháp của Hoàng Tuệ (1962), Nguyễn Tài Cẩn (1977, 1983), Nguyễn Kim Thản (1977), Nguyễn Thị Quy (1995), Hoàng Văn Vân (2002).
12 i) Theo hướng ngữ pháp truyền thống, Hoàng Tuệ, Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Kim Thản đã đề cập đến đặc điểm ngữ pháp của nhóm động từ này như sau: - Hoàng Tuệ (1962) đã xếp biết, hiểu, nhớ, nghĩ vào động từ, với ý nghĩa khái quát của biết, hiểu, nhớ là trạng thái tâm lí - ý thức, còn nghĩ lại có ý nghĩa hoạt động. - Nguyễn Tài Cẩn (1977) dựa vào khả năng kết hợp với thành tố phụ xong để đối lập những động từ có khả năng kết thúc như: ăn, đọc, mở, v. với những động từ chỉ sự việc không có khả năng kết thúc như: biết, hiểu, v. Tác giả dựa vào khả năng kết hợp với phụ tố chỉ mức độ như: rất, hơi, quá, lắm để phân biệt những động từ có khả năng tăng giảm mức độ như: tin, ngờ, v.
với những động từ không có khả năng tăng giảm mức độ như: đánh, ngồi, v. Ông gọi nhóm động từ gồm: biết, nhớ, tin, nghi ngờ là nhóm động từ cảm nghĩ. Những động từ này khi làm chính tố thì sau nó phải có phụ tố chỉ sự vật bị tác động mới đủ nghĩa và trước chúng có thể xuất hiện phụ tố chỉ mức độ. - Nguyễn Kim Thản (1977) dựa vào sự phân phối các từ hư phục vụ động từ để chia động từ tiếng Việt ra làm 6 nhóm.
Theo đó, nhóm 5 - nhóm động từ tình cảm bao gồm: biết, hiểu, tin (yêu, ghét, giận, kính trọng, v.) không thể kết hợp với những cặp phó động từ biểu thị sự lặp lại của hoạt động đi. lại nhưng có thể kết hợp với phó từ biểu thị mức độ (như rất) và phó động từ chỉ phương hướng. Nhóm 6 - nhóm động từ tri giác như: am tường, am hiểu có đặc trưng không thể kết hợp với những phó từ biểu thị sự lặp lại của hoạt động và phó động từ chỉ phương hướng nhưng lại có thể kết hợp với phó từ chỉ mức độ. Cách phân chia này có một số điểm bất hợp lí: Tác giả sử dụng những tiêu chí hình thức để phân chia, rồi mỗi loại được đặt một cái tên có nội dung ngữ nghĩa đã đưa đến những chồng chéo.
Chẳng hạn, nhiều động từ cùng một trường nghĩa và cùng một đặc tính ngữ pháp lại được xếp vào nhiều loại khác nhau (vd: hiểu là động từ tình cảm mà am hiểu lại là động từ tri giác), trong nhóm động từ tình cảm lại có cả biết, hiểu, tin - vốn là những động từ nhận thức tiêu biểu nhất. ii) Ngữ pháp chức năng với cách tiếp cận của Nguyễn Thị Quy, Hoàng Văn Vân đã bước đầu miêu tả nhóm động từ này như sau: - Căn cứ vào số lượng diễn tố, Nguyễn Thị Quy (1995) chia vị từ thành những tiểu loại khác nhau. Đáng chú ý là vị từ tạo tác hai diễn tố, nó bao gồm hai loại: tạo tác ra vật chất (vẽ, xây, đóng, v.) và tạo tác trong lĩnh vực tinh thần (nghĩ, đoán, v. Theo tác giả, “nhận thức ra một điều gì, nghĩ ra một điều gì cũng là tạo tác dù trong lĩnh vực tinh thần”.109] 13 Áp dụng cách phân loại sự thể của Dick (1978) dựa vào hai tiêu chí cơ bản [+/- động] và [+/- chủ ý], tác giả xếp nghĩ, đoán, v.
vào vị từ hành động đặc trưng bởi [+động] và [+chủ ý], còn biết, hiểu, nhớ, quên, lầm, v. là những vị từ trạng thái được đặc trưng bởi [- động] và [- chủ ý], đồng thời tác giả cũng nhận thấy có những vị từ dao động giữa hai đặc điểm [-chủ ý] và [+chủ ý] như: ngờ, nghi, ngờ vực, nghi hoặc. - Hoàng Văn Vân (2005) trong quá trình mô tả cú tiếng Việt theo quan điểm chức năng, có sự phân biệt 2 quá trình: quá trình tinh thần và quá trình vật chất. Tiếp thu từ Halliday (1985), ông chia quá trình tinh thần ra làm 4 loại: quá trình tinh thần tri giác (nhìn thấy, ngửi thấy nghe thấy, sờ thấy, nếm thấy v.), quá trình tinh thần tri nhận (hiểu, biết, nghĩ, nhớ, quên, v.), quá trình tinh thần mong muốn (muốn, định, mong, hi vọng, v.) và quá trình tinh thần tình cảm (yêu, ghét, quý, mến, khinh, sợ, v.), trong đó loại thứ hai thuộc phạm vi khảo sát của chúng tôi.
Quá trình tinh thần nói chung, quá trình tinh thần tri nhận nói riêng phân biệt với quá trình vật chất thể hiện ở những khía cạnh sau: số lượng tham thể, câu hỏi dò, bản chất của cảm thể, bản chất của hiện tượng, khả năng phóng chiếu. Qua cách tiếp cận của các tác giả chúng tôi nhận thấy, động từ là từ loại lớn, gồm nhiều loại nhỏ có tính chất rất khác nhau, vạch ra những đối lập căn bản trong nội bộ động từ là một việc hết sức khó khăn, bản thân nhóm động từ biểu thị hoạt động nhận thức lại không thuần nhất về đặc điểm ngữ pháp (có động từ chỉ quá trình, có động từ chỉ trạng thái, có động từ chỉ hành động) do đó công việc này càng trở nên phức tạp. Ở bình diện ngữ nghĩa Giới Việt ngữ học đã chú ý đến những vấn đề sau: i) Về cấu trúc ngữ nghĩa - Phân biệt nghĩa của từ chỉ hoạt động nhận thức với từ chỉ hoạt động vật lí căn cứ vào nét nghĩa [+/- năng lực tinh thần]: Đỗ Hữu Châu (1978) có sự phân biệt giữa năng lực tinh thần trong nghĩa của một số từ như tư duy, cảm giác, v. với năng lực lao động vật lí trong nghĩa của các từ như đóng (trong đóng bàn), xây (trong xây nhà).
- Chỉ ra TGĐ trong cấu trúc nghĩa của từ: Hoàng Phê (1989) khi nghiên cứu logic - ngữ nghĩa của ngôn ngữ tự nhiên đã chỉ ra thành phần đặc biệt trong cấu trúc nghĩa của từ là TGĐ, trong đó có một số từ có liên quan đến hoạt động nhận thức: biết, tưởng, quên (có TGĐ), nhớ (không có TGĐ). Tương tự, Cao Xuân Hạo (1993) khi nghiên cứu một nhóm từ gọi là vị từ nhận thức - nói năng (bao gồm nghĩ, biết, ngỡ, tưởng, vu, đồn, v.) đã chỉ ra đặc điểm ngữ nghĩa của nhóm này, đó là: chúng có thể TGĐ điều được biểu thị trong câu phụ bổ ngữ 14 là đúng sự thật - hàm chân (như biết), là sai sự thật - hàm ngụy (như tưởng) hoặc không chứa đựng TGĐ - vô hàm (như nghĩ). ii) Về quan hệ ngữ nghĩa: Nguyễn Ngọc Trâm (1989) nghiên cứu nghĩa của tin và ngờ với tư cách là những cặp từ trái nghĩa. Sau khi đi vào phân tích các nghĩa khác nhau của mỗi từ, tác giả đã so sánh cấu trúc nghĩa của chúng và đi đến kết luận: Chúng chỉ là những từ trái nghĩa bộ phận, chứ không phải trái nghĩa hoàn toàn, vì vậy có thể khẳng định quan hệ trái nghĩa hoàn toàn với tin không được từ vựng hóa.
iii) Sự hư hóa ngữ nghĩa của một số động từ chỉ hoạt động nhận thức: Ở Việt Nam, Hoàng Phê (1984) được xem là người đầu tiên nghiên cứu về vấn đề này. Ông gọi nghĩ trong cấu trúc Tôi nghĩ là động từ trong ngoặc (parenthetical verbs, chúng tôi dịch là động từ chêm xen), đồng thời ông khẳng định thêm: "Thật ra, cấu trúc có chứa động từ trong ngoặc chính là một toán tử logic - tình thái. Với tư cách một toán tử, nó là một thể hoàn chỉnh, hoạt động như là một khối có sẵn (. Nghĩ, trong toán tử logic - tình thái Tôi nghĩ rằng không còn cái nghĩa từ vựng bình thường của nó (.
Nó là một loại đơn vị đặc biệt của ngôn ngữ. Theo đó các đơn vị như: Đã biết mà, Biết ngay, Như mọi người đều biết, biết đâu, v. cũng được Hoàng Phê xem là những toán tử logic - tình thái. Những đơn vị có chức năng cú pháp - ngữ nghĩa đặc biệt này cũng được tập thể biên soạn từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên) quan tâm đưa vào giải thích, điều này giúp độc giả hiểu và dùng tiếng Việt một cách tích cực, gắn liền với quá trình sử dụng.
Đây là một trong những hướng tìm tòi mới của ngữ nghĩa học, nhằm khắc phục tình trạng trình bày từ ngữ trong từ điển một cách cô lập và chết cứng. Nguyễn Ngọc Trâm (2002) cũng quan tâm đến một nhóm các đơn vị có chứa các từ chỉ tâm lí tình cảm hoặc chỉ hoạt động nhận thức nhưng ít nhiều đã hư hóa như: Tôi tin là, Tôi sợ là, Tôi nghĩ là, Tôi cho rằng, v. Động từ xuất hiện trong những đơn vị này được Nguyễn Ngọc Trâm gọi là động từ thái độ mệnh đề (proposition attitude verbs). Nguyễn Văn Hiệp (2008) khi nghiên cứu về phạm trù tình thái đã khẳng định Tôi nghĩ rằng là một phương tiện từ vựng biểu thị tình thái nhận thức và ông gọi đó là cấu trúc chỉ thái độ mệnh đề, còn nghĩ trong kết cấu này được ông gọi là vị từ chỉ thái độ mệnh đề.
Dù tên gọi là động từ trong ngoặc, động từ thái độ mệnh đề, hay vị từ chỉ thái độ mệnh đề, v.v thì động từ nhận thức trong những cấu trúc trên đều bị hư hóa để biểu thị nghĩa tình thái cho câu, phản ánh thái độ, sự đánh giá của người nói, bên cạnh những yếu tố có tính chất thuần túy logic. Ở bình diện ngữ dụng Trong Đại cương ngôn ngữ học, khi Đỗ Hữu Châu (2009) trình bày những vấn đề cơ bản về ngữ dụng học, chúng tôi nhận thấy sự tham gia của một số động từ chỉ hoạt động nhận thức trong những biểu thức ngôn ngữ để thực hiện chức năng ngữ dụng như: dùng Hiểu không để tương tác hội thoại; dùng Biết quá đi chứ, Tôi tin để thực hiện hành vi xác tín; dùng Tôi có biết gì đâu để chối bỏ trách nhiệm; hay thể hiện sự lịch sự với lối nói rào đón: Như mọi người đều biết, Như chúng ta đã biết.